Nhớ theo dơi Diễn Đàn Người Việt Quốc Gia trên hệ thống Đài Việt Nam Hải Ngoại vào lúc 7:00 PM đến 8:00 PM  vào mỗi chiều Chúa Nhật và Diễn Đàn Công Dân vào lúc 4:00 PM dến 5:00 PM mỗi chiều thứ hai, giờ Hoa Thịnh Đốn.                                                                                                                                                                   

DIỄN ĐÀN NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA

Ngừoi Quốc Gia là những người đặt tổ quốc lên bản vị tối cao

Tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v..

Trích VN Tự Điển của Đào Duy Anh

Nationalist Vietnamese Forum

Home

DỊCH KINH LINH THỂ

KIM ĐỊNH

 

  

VII. HÀ ĐỒ LẠC THƯ TRƯỚC T̀NH TRẠNG TRIẾT LƯ HIỆN ĐẠI

 

1. HÀ ĐỒ

Hà Đồ và Lạc Thư là những thực thể văn hóa xuất hiện hoặc bên ngóai Kinh Dịch, hoặc từ Kinh Dịch nhưng về sau đă được thâu nạp vào Kinh Dịch cách thẩm thấu đến nỗi ngày nay ta không c̣n ngần ngại coi đó như phần căn bản của kinh Dịchvà nó biểu thị các chiều kích của tâm thức conngười. Nhưng chiều kích đó chỉ là những trạng thức khác nhau của cùng một thực thể duy nhất, cho nên ta có thể học về Hà Lạc hai lối: một là trực giác hai là phân tích. Trước hết là lối trực giác như của các vị hiền triết nh́n bao trùm tất cả mọi trạng thức của một thực thể tâm linh. Khi nh́n theo lối Viên Dung này th́ 4 ṿng Hà Đồ biểu thị con đường xóay ốc dẫn về Đạo thể, tức là đi lên với Ṭan thể, phần nào tương đương với con đường đă diễn đạt trong quẻ Kiền với 4 hào

H́nh

 

Hào 2 tương đương với ṿng thành (ṿng ngoài cùng)

Hào 3 tương đương với ṿng sinh

Hào 4 tương đương với ṿng hộ pháp

Hào 5 tương đương với ṿng đạt Đạo.

Điều kiện thiết yếu để các ṿng trở thành con đường liên tục đi lên để đạt Minh đức là phải nh́n trong mối liên hệ của ṭan thể, cũng gọi được là cái nh́n tổng quan phổ biến.

Nh́n theo lối này th́ ṿng ngoài cũng gọi là ṿng thành v́ kép bởi các số thành 6, 7, 8, 9 và biểu thị vạn vật đă hiện ra h́nh tích cụ thể, làm đối tượng được cho tai mắt, cho giác quan, nó là đợt đi ra đến cùng cực của đa tạp và vâng theo luật tất định của khoa học tức là những luật tắc thuộc toán lư, hóa, sinh v..v… Người ta thường cho đó là những sự vật tuyệt đối, nhưng triết gia lại cho đó là tương đối, nghĩa là đối với ṿng 2 trong.

Ṿng 2 chỉ đợt sinh v́ gồm những số 1, 2, 3, 4 tức là các linh tượng của từng giống loại. Gọi là linh tượng v́ nó không c̣n hiện racho giác quan và phải có “con mắt thứ ba” mới “nh́n” ra được. Có “nh́n” ra được linh tượng mới đi đến “tổng hợp” hay nói theo Kinh Dịch là đi đến “hội thông” (trời, đất, người mà trong Hà Đồ biểu thị bằng ṿng cuối cùng là số 5).

Ṿng 3 gồm hai hàng số 5 điểm đen có thể nói là nhất âm đối với nhất dương là số 5 điểm trắng ṿng 4. nhất âm đây hiểu là hạn từ tiêu cực hay là tiềm thức hoặc vô thức mà nếu chưa hiểu th́ không đi đến được ṿng 5 điểm trắng chỉ siêu thức. Việc thấu hiểu biểu lộ bằng sự chấp nhận. Thường ai cũng chấp nhận chiều tích cực như: xây dựng, sướng, vui ve, sống động… Nhưng rất ít người chấp nhận được khía cạnh tiêu cực như: phá đổ, khổ sầu, chết, tĩnh v.v… gọi là mệnh; không chấp nhận v́ chưa hiểu được rằng đó chỉ là mặt khác của cùng một thực thể. Thực thể tự thân là sự quân b́nh giữa âm và dương, giữa động và tĩnh, giữa sống và chết. Nên chỉ khi nào nhận thức ra được mối quán thông đó th́ mới tiến lên ṿng 4. v́ thế đây là chỗ bắt buộc phải dứt bỏ lư trí ư thức đế “dược tại uyên” nghĩa là nhảy vào hố thẳm của tâm hồn, nhảy tới tận bờ cơi của vô thức để xóa bỏ hết mọi giới hạn do cái tôi ư thức đạt để, do lư trí phân chia cắt mảnh ra. Có vượt qua hàng rào này mới đạt tới đợt tối hậu là ṿng 4.

Ṿng 4 có thể gọi là siêu thức nghĩa là đi xuống đến cùng tột để đạt thế quân b́nh với ṿng 3 đi lên đến cùng cực. Nhờ sự quân b́nh đó nó trở nên Đạo Thể Viên Dung sung măn bao gồm tất cả mọi khả năng con người đă được đưa tới chỗ nảy nở tận mức mà Nho giáo quen gọi là chỉ thành, nên ṿng 4 này được biểu thị bằng thập tự nhai mà căn tính là trung tâm lan tỏa tới khắp chu vi. Điều này được diễn tả bằng nét ngang chỉ không gian và phi không gian c̣n nét dọc chỉ thời gian và phi thời gian. Ap dụng vào con người th́ có thể coi đó như sự len lỏi của ư thực cá nhân vào trong tâm thức vũ trụ, làm cho cái vô hạn xuất hiện trong cái hữu hạn, thường hằng nhập thể vào thời gian, vô h́nh ở trong hữu h́nh… Cho nên người nào đi tới đây cũng đạt tận cùng của lối về với Nhất thể, cũng gọi là đạt nguồn sống vô biên của vũ trụ, và cùng với vũ trụ tham dụ trong một tiết nhịp uyên nguyên của cái tâm thiên địa, đặng tiếp nhận những luồng sáng soi đầy sức linh động tràn qua, mênh mông bất tận. Đấy là nơi mà Heidegger muốn gọi là Sein, có thể dịch là Hữu Thể, Tiềm Thể, Tính Thể. C̣n Đông phương gọi bằng Nhất thể, Đạo thể, nhân tính… nhưng không tên nào bao quát hết nội dung. Tuy nhiên chữ Nhất thể đáng chú ư khi chúng ta nh́n theo chiều hướng “kỷ dịch” và phải viết là… nghĩa là bổn gốc của người sơ nguyên. Có thế mới đạt đựơc thần, mà thần vô phương nên không lệ thuộc vào nơi nào, để có thể không đâu không ở, để làm chủ được dịch lư. Hăy mượn câunói sau của Thiệu Khang Tiết khi giải nghĩa câu “thần vô phương nhi dịch vô thể” để diễn tả ư đó như sau: “thần giả dịch chi chủ dă, sở dĩ vô phưong. Dịch giả thần chi dụng dă, sở dĩ vô thể…. Trệ vu nhất phương, tắc bất năng biến hóa, phi thần dă, chữ hán”: thần là chủ của Dịch nên phải vô phương. Dịch là dụng cụ của thần nên phải vô thể. V́ nếu ngưng trệ vào một phương nào liền hết khả năng biến hóa, mà đă không biến hóa th́ không phải thần nữa rồi.

Nói thế có nghĩa là học triết lư hay học Kinh Dịch mà không đạt đựơc cái thần, th́ không đạt được triết, cũng không hiểu đựơc Kinh Dịch. Bao lâu c̣n chấp duy lư, th́ cái lư đó rút nhỏ tầm nh́n lại không cho thấy được cái Ṭan thể. Nhưng không may đó lại là sự thường xảy tới, nên chúng ta phải xét qua Hà Đồ theo kiểu nh́n thứ hai là lối nh́n rời rạc nhị nguyên, cắt xén.

 

2. HÀ ĐỒ XÉ LẺ

Lối nh́n thứ hai là phân tích lư luận, ḥan toàn bằng ư thức. Đây cũng là một lối trở về song đầy cam go ṃ mẫm và đầy nguy cơ ứ trệ, nhưng nó lại là lối nh́n thông thường hơn hết, nên chúng ta cần đem ra áp dụng vào t́nh trạng triết học hiện đại. Nh́n theo lối phân tích này Hà Đồ cũng vẫn là con đường xoáy ốc đi về Nhất thể, nên nó cũng cần thiết trong diễn tŕnh tiến hóa của con người v́ nó là lối tán cần để quân b́nh cho lối tụ. Tuy nhiên lối tán v́ y cứ trên giác quan và ư thức, nên con người dễ hướng theo đến độ làm mất quân b́nh, nên không nhận ra được Nhất thể, bởi đó là cái nh́n bị chia cắt ra nhiều đoạn, thiếu biến thông và trở thành những nền triết học què cụt và đầy rao động đại khái như sau:

Trước hết là cái ṿng ngoài cùng với số thành chỉ những vật đă hiện ra h́nh tướng khả giác. Nh́n theo lối phân tích th́ đó là những sự vật cá biệt cái này khác cái kia, và không có liên hệ với nhau chi hết, hơn thế c̣n đối kháng tiêu diệt nhau. 6 lửa diệt 7 nước, 9 kim khắc 8 mộc v.v… và mọi người thường chỉ thấy được có vậy, v́ hầu hết chỉ biết có cái nh́n cắt khúc, phần mở và b́ phu ngoại diện này, nếu không đựơc học tập đúng đường th́ đều dừng lại ở đợt ấy đến nỗi cả các triết học gia cũng dừng ngay ở những dữ kiện do tai mắt cung cấp để kiến tạo triết thuyết. Cái tiêu chuẩn của họ là sự hiển minh khách thể (évidence objective) nghĩa là họ y cứ trọn vẹn trên các vật thể y như kiểu đám đông v́ thế các triết gia đó thật ra chỉ có lời hay ư đẹp kết cấu mạch lạc, c̣n trong thực chất th́ cũng xuôi theo cùng ḍng với cái nh́n hàng ngang của đám đông: chia cắt ra từng vật bé nhỏ. Những triết học kiểu đó th́ bên Viễn Đông là Mặc Địch, là Hàn Phi Tử v.v… Bên Tây Au là Platon, Aristote, Descartes… Tuy mấy ông này có vượt xa Mặc Địch về tư tưởng được kiến tạo nguy nga, lại có đựơc nhiều câu “minh triết” nhưng những câu này quá ít và nhất là được đưa vào cách vô thức nên không đủ tác động vào cái cơ cấu chung có tính chất lư trí. Nếu như có ư thức thật th́ một đôi lời minh triết (hiểu là thuộc đợt tâm linh) đủ làmrung chuyển và biến tính tất cả hệ thống chứ không để nó y nguyên trong b́nh diện lư trí nhị nguyên như vậy. Có lẽ Bachelard cũng hé nh́n thấy thế khi ông viết “une notion dialecticsiséc fait chanter toute la nature” mà ta tạm dịch rộng răi cho tác giả rằng: “một ư niệm hiểu cho tới thâm sâu đủ gây âm vang vào cả một hệ thống”. Bachelard đă hiểu được như câu dịch chưa? Dầu sao th́ cho tới nay các triết học Tây Au đều bị mắc vướng trong cái nh́n một chiều, đồng nhất, độc khối mất ư thức về nét gấp đôi. Nhiều người hay trích từ Aristote, Platon, Kant một số câu để giải nghĩa có lợi cho họ, hầu như không kể chi đến hệ thống chung của họ c̣n nằm ch́nh ́nh trong lư trí nhị nguyên. Chính bởi cái nh́n toàn khối đó mà tôi bảo những lời minh triết gặp được nơi họ ṭan là đưa vào cách vô thức: bởi v́ nó đă không lay chuyển đổi hướng được cái hệ thống chung của họ vẫn c̣n nằm xuôi theo cùng ḍng với cái nh́n hàng ngang của đám đông nằm trọn vẹn trên cùng một b́nh diện với lương tri nh́n sự vật ly cách không sao liên lạc được để làm thành một triết lư cơ thể. Đây là giai đoạn triết học cơ khí, triết học đối vật (objectivisme), hoàn toàn vắng bóng chủ thể, vắng bóng con người.

Ṿng 2 gồm các số sinh mà khi ta xem tách rời khỏi toàn thể th́ chúng biểu thị những nền triết học bàn về chủ tri với lư trí ư thức tức là vẫn c̣n thiếu phần tâm linh (tiềm thức, siêu thức) nên rất trừu tượng và chúng ta có thể gọi đó là triết học duy chủ tri (subjectivisme) nó phản động lại với triết lư duy vật (objectivisme) ở ṿng một. Ở ṿng hai này là một cuộc cách mạng của Descartes hay Kant, hoặc biện chứng pháp của Hegel, hay duy vật biện chứng của K.Marx, hoặc cơ cấu học của Lévy Strauss căn cứ trên từ ngữ hay Michel Foucault với óc điện tử… Nhưng đó cũng chỉ là bấy nhiêu giẫy giụa bất an trong cái ṿng siêu h́nh thóat xác, không sao vượt khỏi b́nh diện cá thể, có tính chất duy hiện tượng của ṿng nhất, và do đó chưa có ǵ gọi được là hàng dọc vũ trụ tâm linh cả. Kant bảo rằng có sự vật tự thân (noumen) nhưng lại cho là bất khả tri. Đến các người sau như Hegel tuy có nói đến Thần nhưng cũng là thần trừu tượng lư trí nghĩa là c̣n trên b́nh diện hiện tượng hàng ngang, chưa nh́n ra nhân tính. Hơn thế nữa ngay đến những người hiện sinh hoặc hiện tượng luận với những tuyên bố về nhân bản, về lập trường chối bỏ nhị nguyên duy lư, để đi vào cuộc sống thực của con người, đi vào kinh nghiệm thẳng… kèm theo những lời đề cao nguyên lư bổ túc hỗ tương, thẩm thấu v.v... Nhưng cuối cùng cũng vẫn c̣n trên b́nh diện lư trí suông, chưa đi đến ṿng 3 vô thức. Mộot hai câu nói ăn mày mà trúng cũng chỉ do lương tri. Càng tổ đánh lừa những triết học gia thiếu tâm hồn triết.

Ṿng 3 biểu thị cho giai đoạn tiềm thức hay vô thức. Đây mới thật là giai đoạn xả, giai đoạn lơi ra khỏi cái nh́n lư trí ư thức dán lên cá vật phân ly: bởi v́ có từ giă hay lơi ra khỏi lư trí bằng việc làm (kiền kiền) hoặc bằng đôn hậu t́nh cảm và tiềm thức (tịch dịch nhược lệ) hoặc bằng thanh tĩnh vô vi (dược tại uyên). Nói khác dùng những phương thức khác với ư thức lư luận bao giờ cũng bằng ngôn từ. Muốn đi ngược lư trí hay lơi ra phải có những phương thế vô ngôn tức bên ngoài ngôn từ. Đấy là một chân lư rất quan trọng nhưng không được nh́n nhận nên biết bao triết học tuyên dương nguyên lư bổ túc, tương liên, tương nhập, đả phá nhị nguyên và óc độc chiếm om ṣm… mà kỳ thực đó cũng vẫn là những triết lư nhị nguyên chính hiệu. Cho nên muốn nói đến cách chân thực về bổ túc, về ḥa hợp th́ phải có phương thức đi kèm, mới thực là bước vào đợt 3.

Khi bước vào đợt 3 th́ tất cả ư thức, lư trí với đối tượng của nó là các cá vật như vỡ lỡ, tan ra hư vô hết. Tâm thức như không c̣n chỗ dựa, nên cảm thấy ở bên trong một trạng huống cô đơn, kinh lạ, như người bỗng bị đẩy ra trước vực thẳm, để đột nhiên đối diện với sự hư vô trống rỗng toàn triệt, cho nên gây ra một sự hoang mang rao động như chưa từng thấy trong cơi hiện tượng.

Nói chung đây là giai đoạn đáng sợ nên gọi là ṿng hộ pháp v́ khi nh́n hai hàng 5 chấm đen, tôi liên tưởng ngay đến hai ông Hộ Pháp có vẻ mặt hung tợn thường được dựng trước cửa chùa để ám chỉ rằng người nào muốn “nhập ư thất” tức muốn đạt Đạo th́ phải trải qua một giai đoạn thử thách cam go, đ̣i hỏi rất nhiều ư chí dũng mănh và can trường nhu để nhảy vào hố thẳm: dược tại uyên. Các nhà huyền niệm quen gọi đó là đêm tối (Jean La Croix), là “vô cực” (Lăo Trang) là thái hư (Phật). V́ ở giai đoạn này tâm hồn phải vượt thời gian với các vật thể hữu h́nh, để đi vào miền xa lạ vô h́nh, nên phải trải qua những trạng thái cô tịch âm u mà hành giả nào cũng phải gặp trước khi đạt miền ánh sáng ở ṿng 4. Trước khi vào điện Giao Quang th́ Từ Thức c̣n phải chờ lâu trong trạm Quỳnh Hư. Đó là điểm thông lệ. Điều đáng phiền là khuynh hướng nằm lỳ tại đây và đề cao điện Quỳnh Hư này, v́ lúc đó nếu không rơi vào chủ thuyết hư vô th́ cũng nằm lỳ lại đợt vô vi u tịch, nghĩa là “thầy” cái vô biên mà không phải vô biên trong hữu hạn (L’infini dans le fini).

Trạng thái này hiện đang lan tràn bên Au Mỹ nên chúng ta cần bàn rộng hơn. Hư vô mặc rất nhiều h́nh thái, trước hết là phần lớn các nhà huyền niệm mà Tây Au quen gọi là duy huyền niệm (mysticisme). Vũ trụ của họ làm bằng những ảo ảnh, hiện ảnh và hay tràn ra ngoài bằng những cơn ngất trí “xuất thần”. Phần nào đó cũng là con đường của một số Đạo sĩ phương Đông bỏ xă hội lên núi rừng t́m thuốc trường sinh với non tiên nước nhược. Kết quả trong thực tại th́ chỉ là một thứ tôn giáo vu nghiễn câu nệ đủ loại h́nh thức mà bỏ mất tinh thần, hay nếu có thần thông diệu dụng như hô phong, hoán vũ, đằng vân, độn thổ, th́ cũng chỉ xảy ra torng sách, sách đời xưa. Cái thiếu nơi học là yếu tố xă hội. Mục đích của họ là “độc thiện kỳ thân” cho nên nếu không đối kháng kiểu duy lư th́ lại xuất thế lên tiên, nghĩa là đi vào phi thực (iréel): phần nào đó mới là hạnh La Hán ở hào 4, nên lời kinh thêm rằng: “hoặc dược tại uyên: tực thức dă, chữ hán”, tự thức cũng là tự giác, mới đạt độ “tự giác mà chưa đạt độ nhi giác tha” của hạnh Bồ Tát. La Hán mới có lên, chưa có xuống. Bồ Tát có lên (dược tại uyên) mà cũng có xuống (phi long tại thiên). Dược tại uyên là nhảy vào nội tâm. Nội với lên cũng là một nghĩa. Bay lên trời có nghăi là trở lại gầm trời, là đi vào cơi người ta; nên lên mà là xuống, xuống mà lên, đó là ư uyển chuyển trong quẻ Kiền. Bên trời Tây cũng có những đầu óc vĩ đại đă vung vẫy ra khỏi bầu khí đặc sệt duy lư để tự tiến lên đến tâm linh. Tuy nhiên có lẽ tiêu phí quá nhiều sinh lực vào việc thoát ra khỏi lưu tục và duy lư, nên lúc đă “tự giác” th́ kiệt lực không c̣n đủ sức để “giác tha” nữa, nghĩa là mới có lên mà chưa có xuống, tức là chưa t́m ra được lời thích nghi và giải pháp hợp với tâm trạng người đời để đưa họ ra khỏi b́nh diện duy lư nhị nguyên.

Chúng ta có thể kể vài thí dụ về các triết gia phản lư cho sáng tỏ vấn đề. Trước hết là trường hợp huyền sĩ Eckhart chưa phân biệt nổi tiểu ngă của xă hội (hữu lư) với đại ngă tâm linh thuộc vũ trụ (ngoại lư), nói khác mới có nhảy vào Quỳnh Hư mà chưa có trở lại trần cấu nên chưa nói được lời thích nghi cho tâm trạng đại chúng lúc bấy giờ, nên sách ông bị cấm.

Trường hợp thứ hai là Schopenhauer cũng đáng lưu ư. Với quyển “Thế giới như biểu tượng và như ư chí” ông tỏ ra đă vượt khỏi lưu tục duy lư và đạt tới đợt tâm linh. Nhưng tuy thân ông đă được an toàn, sách ông không bị cấm, nhưng trong mấy năm trường bán chạy được có gần chục quyển. Lư do? V́ tất cả giới trí thức đương thời đă bị ướp kỹ trong chất duy lư tuyệt đối của Hegel, nên chẳng mấy ai hiểu được ông. Trong suốt ba mươi năm viết bộ triết mà chỉ có một bạn thân duy nhất là con chó nhỏ Atman. Lối sống quá cô đơn ấy, với những thái độ không tương hợp với triết lư ông đưa ra (thí dụ ông đề cao khổ hạnh mà vẫn ăn sung sướng và nhất là việc ông kiện mẹ để được hết gia tài v.v…). Tất cả làm cho người ta càng khó hiểu ông hơn. Do đó ông mới có lên mà không có xuống.

Người cuối cùng tôi nghĩ đến là Heidegger, sách ra đời đến vài chục năm mới được giăm ba người hiểu nổi. Cũng may nhờ đà gia tốc của lịch sử cái ǵ xưa kia kéo dài từng trăm năm, th́ nay rút lại mươi hai chục năm, nên đă nhiều người bắt đầu hiểu ông. Và ảnh hưởng của ôong có ṃi đi lên. Tuy nhiên “ông cũng chỉ là cái pháo x́”. Bởi v́ ông mới vào đựơc tiềm thể qua đường lư trí, th́ như đă hết hơi: lời ông nói khó khăn như dặn đẻ, đọc lên c̣n có vẻ săng sắc lo sợ trước hai ông hộ pháp hữu và vô, chưa đạt đợt quang đại “vị quang đại dă, chữ hán” (quẻ hàm), chưa phải triết lư an vi ung dung thư thái “dị giản nhi đắc thiên lư”…

Đó là vài thí dụ về một số triết gia huyền niệm lăng mạn của Tây Au. Hầu hết chưa thoát ṿng 3. Lư do có lẽ v́ bầu khí quá hữu vi, quá duy lư của Tây Au, nên khi bước vào đợt vô vi th́ quả là một sự rạn nứt đổ vỡ, để lại trong tâm hồn triết gia những vết thương quá sâu đệm, nên họ nói rất nhiều, quá nhiều về những trạng thái cô đơn, buồn nản, phản lư mà lại không đưa ra được những phương thế với những lối nói thích nghi th́ làm sao đại chúng hiểu nổi họ: do đó mà lối phi lư cùng với duy lư cứ song song chạy miết chẳng bao giờ gặp nhau ở chốn “hội thông”. Bên phi lư th́ coi bên duy lư “là một đoàn cừu toàn triệt không một đứa chăn” (Nietzsche). Bên duy lư ngược lại khi nghe tin Nietzsche phải vào nhà thương điên th́ hạ một câu tàn nhẫn “tri nhơn thiện nhậm”, “The right man in the right place”.

T́nh trạng giằng co giữa hữu vi và vô vi đó, giữa duy lư và phi lư cực đoan đó đă đưa triết học đến chỗ thất bại. Lư do sâu xa là chưa ai đạt ṿng 4 của Hà Đô. Tất cả hoặc c̣n ơ đợt nhập của hai ṿng 1, 2 hoặc xuất ở ṿng 3. Chưa đạt ṿng 4 hoặc hầu hết như thế, và đó là lư do sâu xa nhất của bi trạng triết học hiện nay, một giai đoạn rất giống với sự sa đọa mỗi khi con người ngơ ngác bất định giữa hữu vi và vô vi, chưa đạt an vi. V́ thế trong làng triết có một hiện tượng kỳ lạ cho tới nay chưa ai lưu ư để t́m ra lư do: đó là hầu hết các triết học gia lớn của Tây Au càng học th́ càng quẩn: Socrate từ một hiền triết trở thành biện luận gia số 1 (Sophiste). Platon khi viết Timé hay Phédon th́ bay bổng cung mây, đến lúc già viết bộ Les Lois th́ lẩm cẩm quay ra chống đối tự do suy tư, nghĩa là hoàn toàn phản cách mạng. Descartes th́ tuyên dương lương tri, như vậy th́ bám sát nút đại chúng, không cất ḿnh lên được chút ǵ. C̣n Kant th́ Nietzsche nhận xét rất xác đáng là chỉ sản xuất nổi một thứ triết cho các giáo sư nghĩa là hoàn toàn trường ốc, cắt đứt liên lạc với sinh trường sống động. Trong cuốn Critique de la raison pure, ông đă hé nh́n thấy bản thể tự nội, nhưng lần tái bản lại xóa bỏ “óc siêu tưởng” để trở về với lư trí thường nghiệm, nên cuối cùng ông gọi triết là một thứ cực h́nh (suplice de Tantale).

Hegel tự việc đưa con người lên địa vị Thượng Đế đang h́nh thành, cho đến cuối đời đốc ra một bồi bút trên các thứ bồi bút bằng một thứ tôn giáo thờ chính phủ như Thượng Đế, c̣n cá nhân th́ ông coi như phương tiện bèo bọt… Thế là trói gọn con người nộp cho chính quyền chuyên chế. Triết học mà đă xa lạ đối với người học, th́ phương chi đối với quảng đại quần chúng càng xa lạ hơn nữa và đó là căn nguyên mọi tai họa đổ vỡ tán loạn trong thế giới ngày nay. Triết học chính ra là bà chúa mọi khoa học, ngày nay trở thành một trong các chuyên khoa và người học hóa ra chuyên viên, khác chăng là không biết chuyên viên đó có dùng vào được việc chi ơn ích, hay xă hội lại phải nuôi báo cô?

 

3. LẠC THƯ

Khi viết Kinh Dịch, các hiền triết đă tiên đoán được trường hợp đó nên đưa ra Lạc Thư để giúp đi đến độ an vi.

H́nh

Lạc thư hàm ngụ triết lư an vi là nền triết của những người biết “ở đời” cần nói vắn tắt gọn gàng để có đủ giờ dành cho hoạt động. Hà Đồ có thể nói là triết lư của các tu sĩ xuất gia có nhiều th́ giờ để đi qua ṿng sinh, rồi ṿng hộ pháp. V́ hai ṿng nay dễ làm người ta sa lầy. Ṿng sinh sa lầy vào những ư niệm trừu tượng, son đẹt không gây nổi tác động. Ṿng đen dể sa lầy vào những kiểu nói biếm lư, phản lư, ngoại lư, là những cái dể gây hoang mang và đảo lộn có nguy xa đời, ĺa thế.

Lạc Thư trái lại dồn hết cả số sinh vào số thành làm nên một ṿng; để chúng bắt liên lạc với thập tự nhai ở giữa. Thập tự nhai là Nhất thể, là gốc bổn của trời, đất, người tức là cái ǵ phổ biến chiếu giăi thẳng vào ṿng ngoài lúc này không chỉ có số thành mà đă xen số sinh, tức là vô biên đă nhập cuộc với hữu hạn, Thường Hằng thẩm thấu vào thời gian, không gian. Cái nh́n đạo thể vô biên đă mặc lấy xác hiện tượng và nhân sinh. Ở ṿng sinh th́ chỉ có nh́n những ư niệm phổ quát tách rời khỏi toàn thể nên dễ rơi vào triết học duy lư trừu tượng không gây nổi ảnh hưởng vào thâm tâm hay đời sống. Ở ṿng hộ pháp lại chỉ thấy sự trống rỗng, vô thường của hiện tượng nên đâm ra ngán đời đến độ lẩn trốn; bởi cái nh́n chưa đủ sức chuyển hóa những hiện tượng hay cuộc sống trong xă hội thành những trạm chiếu giăi Đạo thể vô biên, Lạc Thư tàng chứa nền Minh triết đă vượt qua hai loại nguy cơ đó để đi thẳng vào trung cung là nhân tính phổ biến, và từ đấy chiếu giăi ra vạn sự vạn vật, gây nên mối thái ḥa tức ḥa theo lối tam tài là lưỡng nhất tính: ṿng ngoài có thành có sinh, các số 1, 2, 3, 4 chen kẽ với các số 5, 6, 7, 8 như vậy là lưỡng, c̣n Nhân tính ở trung cung là Nhất, tức là Nhất thể Tâm linh, bao trùm lấy hai cực sinh, thành và điều hợp tất cả trong một nền thống nhất sống động uyển chuyển. Nhờ đó triết gia không ly thế cũng không trừu tượng, song là lăn lưng vào việc, nhưng khác thông tục ở chỗ ư thức được Đạo (số sinh) nằm ngay trong đời (thành). Khỏi cần đi t́m Đạo xa xôi trên núi hay ở đâu đâu, nhưng ngay trong những việc thường nhật, những việc căn bổn nhất của xă hội: tề gia, trị quốc, an quốc, nên gọi là triết lư an vi, để biểu lộ sự nhập thể của Thường Hằng. Bởi vậy đem ngay những con số của Lạc Thư ra làm ngăn chứa đựng các việc của con người sống trong xă hội, và gọi là Hồng phạm (xem h́nh liền sau và xem giải rộng trong quyển chữ Thời, chương triết lư Hồng phạm).

4

Ngũ kỷ

9

Ngũ phúc Lục cực

2

Ngũ sự

 

3

Bát chánh

5

Hoàng cực

7

Kê nghi

 

8

Thứ trưng

1

Ngũ hành

6

Tam Đức

 

 

Phạm là mẫu mực, Hồng là lớn lao, tức là cái mẫu phổ biến (thập tự nhai) chiếu giăi vào sự vật, cũng như mọi hành vi tác động con người không ǵ phải khẳng định kiểu duy lư, hay phủ định kiểu phi lư, nhưng là hàm lư chấp nhận cả lư cả t́nh, cả ư thức lẫn tiềm thức, nên không có triết l ư mà lại có, có mà lại không. Đó là nền triết lư an vi rất khó được nh́n nhận v́ nó kết tinh ngay vào những việc ăn làm hằng ngày: tu, tề, trị, b́nh… mà không mặc một h́nh thức riêng biệt, nên dễ lọt mắt xanh các triết học gia.

Những người này thường chú tâm đến những cái ǵ khác thường thí dụ những hệ thống triết ở hào 1 và 2 rất dễ nhận, v́ nó trừu tượng nghĩa là xa người, khác với người như một đối vật nên người dễ nh́n thấy.

Hoặc những phương thức vô vi ở hào 4, càng là cái ǵ phi thường, đập vào mắt mọi người. Mọi người đang nói có, mà một người nói không th́ tất nhiên nổi bật ngay ra ngoài đám đông ai cũng nhận ra được. Chí như hào 5 hợp với Lạc Thư lại là những ǵ rất thường thường nên không được chú ư.

Sở dĩ như vậy v́ người ta không nhận ra những cái thường thường lại là những yếu tố căn bản: ăn mặc, quản trị gia đ́nh, những mối giao liên hằng ngày trong xă hội… đó toàn là cái thường v́ xảy ra luôn luôn. Nhưng chính v́ nó là căn bổn nên mới năng xảy ra và v́ nó năng xảy tới nên quá thường bởi vậy không được triết học gia nh́n ra sự quan trọng. Nhưng chính v́ sự không nh́n ra tầm quan trọng của những cái thường đó nên đời sống mới thiếu triết lư soi đường. Bên Tây Tạng có vị Phật gọi là “thành sở tác trí” (Amoghasiddhi: sagesse qui accomplit toutes les oeuvres) phần nào giống với triết lư hào 5 hay Lạc thư, nghĩa là một vị Phật giống Bồ Tát, chú trọng đến việc trở lại độ thế. Tôi nói phần nào, v́ Phật này vẫn c̣n là vị tu hành, cũng đi qua ṿng hộ pháp, nên có bản dịch là “Bất không thành tựu như lai”. Chữ “bất không” biểu lộ đă vượt qua ṿng đen, để thành tựu ở ṿng 5 “thành nhân tác dă”. Cái khác nằm trong hai chữ “thần thông” (siddhi) là những tác động phi thường để làm những việc rất thường của tề, trị, b́nh. Nói “thường thường” là nói theo thông tục, thực ra th́ không có một việc nào hay biến cố nào giống nhau nên muốn thành công cần óc sáng tạo rất nảy nở nghĩa là đ̣i một khả năng sáng tạo phi thường. Mà cho được như thế th́ phải tiến lên thực cao: v́ mỗi bước đi lên của tâm thức đều mở thêm ra nhiều khả năng, nhiều lối giải quyết cho một vấn đề. Cần phải lên tới cùng cực của bậc thang tiến hóa mới trông t́m ra cho mỗi vấn đề, mỗi việc một lối giải quyết riêng biệt, thích ứng hơn hết. Được như thế th́ mỗi giải quyết là một sáng tạo, nên hào 5 nói: “Đại nhân tạo dă, thành nhân tác dă, chữ hán”… Những câu đó đều nói lên chiếu hướng “triệt thượng” cũng như “triệt hạ” của nên minh triết Lạc thư của Lạc dân. Đó là sứ điệp tiên tổ giối lại để chúng ta khai thác ra và gửi tới con người hiện đại. Con người hiện nay sống trong lo âu sợ hăi đầy bấp bênh đang cần một triết lư an thần. Và đó chính là nền triết lư phát huy từ Lạc Thư. Chữ Lạc là sông Lạc, nhưng nội dung trung thực bao gồm ư nghĩa lạc là an vui ḥa vui thanh thóat, khác hơn thái độ “dược tại uyên” hầu hết mới là chấp nhận chịu vậy nên tâm trạng thường là bi đát, xao xuyến v́ như vừa bị nhổ mạnh ra khỏi những bàn tay tuộc của hữu vi, nên c̣n đầy run sợ loa âu cám cảnh của hào tư mà chưa đạt hào năm biểu lộ bằng sự đón cháo cách tưng bừng tâm trạng mới v́ rất tự do đầy tràn giải thóat, đến nỗi giải thoát lan tới tận những việc thường ngày. Và bởi vậy thay v́ bi đát, th́ là tâm trạng an nhiên tự tại yêu đời dấn thân. Đó là tinh hoa của nền Minh triết Lạc thư của Lạc Việt. V́ thế Lạc Việt có thể tặng cho thế giới một món quà tinh thần vô cùng quư báu mà chúng ta sẽ học cách chu đáo hơn trong các tập sau như “Lạc Thư minh triết”, và “Sinh hóa”… Trong khi chờ đợi xin đọc kỹ lại nhiều lần để ngắm vào hầu sửa soạn tâm thức đón nhận những quyển sau.