Nhớ theo dơi Diễn Đàn Người Việt Quốc Gia trên hệ thống Đài Việt Nam Hải Ngoại vào lúc 7:00 PM đến 8:00 PM  vào mỗi chiều Chúa Nhật và Diễn Đàn Công Dân vào lúc 4:00 PM dến 5:00 PM mỗi chiều thứ hai, giờ Hoa Thịnh Đốn.                                                                                                                                                                   

DIỄN ĐÀN NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA

Ngừoi Quốc Gia là những người đặt tổ quốc lên bản vị tối cao

Tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v..

Trích VN Tự Điển của Đào Duy Anh

Nationalist Vietnamese Forum

Home

Ư Niệm Thế Hệ:

Hy Vọng Của Quốc Gia Và Toàn Thế Giới

 

Phần 2 tiếp theo

Phần thứ nhất của bài "Ư Niệm Thế Hệ" này chúng tôi đă tŕnh bày một cách khái quát về lịch sử văn minh nhân loại theo cái nh́n Duy Dân biện chứng nhằm giải thích nhiều sự tượng của lịch sử phát triển của nhân loại theo một tầm nh́n toàn diện, triệt để và hướng thượng. Nó cũng đặt ra các chủ đề mới, “rất mới” cho các suy nghĩ của thế giới ngày mai, đồng thời cũng đặt nền tảng cho việc xây dựng lại thế giới về lâu về dài. Các sự tượng của thế giới không hề bị xé lẻ ra để đặt chúng trong thế đối kháng, thay vào đó được đặt trong thế tiến hóa không ngừng nghỉ nhằm đưa nhân loại đến sự thống nhất về nhận thức. Sự thống nhất về nhận thức này sẽ từng bước đóng góp vào việc hóa giải các mâu thuẫn, các câu thúc hiện nay giữa loài người với nhau hầu mở đường cho giai đoạn thống nhất loài người trên quy mô toàn cầu. Đó cũng là ước mơ căn bản của loài người vậy.

Nhưng giữa ước mơ chính đáng của loài người và thực tế xă hội loài người luôn bị cản trở bởi nhiều khó khăn khách quan. Các cản trở ấy do thiên nhiên gây ra nhưng chính yếu là do con người tạo ra, v́ loài người trên thực tế đă đi lạc hướng trong suốt quá tŕnh tiến hoá của ḿnh. B́nh tâm suy nghĩ lại th́ bây giờ không phải là lúc loài người trách cứ nhau, trách cứ quá khứ đă gieo rắc hận thù bằng cách này hay cách khác. Thay vào đó, loài người cần phải nh́n vào quá khứ của ḿnh cách tích cực hơn; bởi v́ các thứ đó cho dù có sai lầm, cũng đă đóng góp vào quá tŕnh thống nhất nhân loại một cách thực tế để ngày nay chúng ta thực hiện được trong thực tế. Như Cụ Lư đă nói: "Nhân loại đă từng xảy ra nhiều bế tắc, mỗi bế tắc đều cần một bước bạo đột thủ nhằm phá vỡ bế tắc ấy để nhân loại tiến lên".

Vậy khi nh́n vào thực tế th́ bế tắc ngày nay của nhân loại là ǵ ?

Phần thứ nhất của bài này chúng tôi sẽ tŕnh bày về những bế tắc của thế giới đương đại nhưng trên một căn bản thuần túy lư thuyết mà thôi. Phần thứ hai chúng tôi sẽ tŕnh bày về cách thức mà nhân loại cần phải giải quyết các bế tắc ấy, cũng như các vấn đề nền tảng để theo một cách nào đó, đóng góp vào việc xây dựng lại thế giới trong tương lai.

Thế giới bị bế tắc th́ chúng ta phải phá vỡ những bế tắc đó để mở đường cho nhân loại tiến lên. Nhân loại đi lạc hướng th́ phải đưa nhân loại đi về hướng đúng. Trong các bế tắc, lạc hướng mà nhân loại đă và đang trải qua, có những cái có thể sữa chữa được, có những cái phải đập bỏ đi để mở đường cho nhân loại tiến về phiá trước.

Ai sẽ làm, làm khi nào và làm thế nào ? Đó là các câu hỏi mấu chốt hiện nay. Để trả lời, chúng ta cần phải trở lại với các nan đề của thế giới hiện nay.

"Kinh Cựu Ước" có nói chuyện ông Adam và bà Eva sau khi ăn trái cấm th́ biết hổ thẹn về sự trần truồng của ḿnh. Phải chăng "Trái Cấm" mà "Cựu Ước" nói ở đây là bước khởi đầu của ư thức làm người để thành người. Nhưng Thượng Đế cũng nói: "Từ nay, các ngươi phải tự lo liệu lấy cho chính bản thân các ngươi". Đến nay chưa ai rơ được là loài người đă xuất hiện trên hành tinh này bao lâu. Nhưng chắc chắn con người có trước khi "kinh cựu ước" ra đời trên hành tinh này ít nhất hàng trăm ngàn năm.

Như vậy đoạn văn trên trong "Kinh Thánh" được các nhà hiền triết thời xưa viết ra khoảng mấy ngàn năm qua đă khuyên con người nên ư thức và hiểu được ư niệm làm người, phải chiến đấu với thiên nhiên để sinh tồn. Nghĩa là: Loài người từ khi xuất hiện trên quả đất này phải đấu tranh với thiên nhiên và với sinh động vật (thậm chí cả đồng loại) để dành sự sống cho chính bản thân ḿnh. Như thế, nói chung, đấu tranh với ư thức là thuộc về bản năng của con người. V́ có ư thức, con người mới tiếp thu được kinh nghiệm, hệ thống hoá các kinh nghiệm ấy truyền lại cho các đời sau, để các đời sau học cách tiến lên và làm chủ đời ḿnh. Nói một cách khác th́: "Loài người là một thể thống nhất được sinh ra từ lưỡng cực (âm và dương) và từ khi đă ư thức ḿnh "Là Người" th́ con người phải tranh đấu để sống đúng nghĩa một con người, để có thể trở “Thành Người" viên măn hơn và duy nhất chỉ có một loài người".

(Nhưng mới đây các nhà khoa học đă tiết lộ cho chúng ta biết rằng: "Các hành tinh khác cũng có loài người như trái đất chúng ta đang ở". Xin t́m xem bản tường tŕnh của cơ quan NASA Hoa Kỳ vào tháng 8 năm 1986, đại khái họ tiết lộ rằng: Phi thuyền Voyager 2 được phóng ra vũ trụ vào năm 1977, nhưng phải mất gần 10 năm sau phi thuyền Voyager2 mới đến nơi và phải gần 20 năm sau (năm 2005 này) th́ tài liệu nói trên mới được bạch hóa, v́ lẽ đó nên trong chốn riêng tư "ai đó” đă tiết lộ những tài liệu bằng h́nh ảnh về không gian và "có lẽ" Giáo Hoàng đă tận mắt nh́n thấy, v́ thế trong chuyến công du Hoa Kỳ trước đây, Giáo Hoàng John Paul II mới mạnh mẽ tuyên bố rằng: "Thiên đường, địa ngục [{trong Kinh Thánh}] không có thật mà chỉ có trong tâm khảm của con người". Nói cho rơ ràng là: Giáo Hoàng John Paul II đă chính thức tuyên bố rằng một vài điều trong kinh thánh không có thật).

Như thế từ lưỡng cực ("một cặp Âm Dương sinh ra con người và muôn vật") đến các công xă nguyên thủy th́ loài người phải tốn biết bao trăm ngàn năm ? Các công xă nguyên thủy là nền tảng ban sơ của xă hội loài người dựa trên một cặp kiểu Âm Dương hay nói theo người Việt chúng ta là cha Rồng mẹ Tiên lấy nhau (sự tích "Rồng Tiên", Lạc Long Quân và Âu Cơ của Bách Việt) mà sinh sôi nảy nở ra con cháu sau này.

Vậy sự hợp nhất trên căn bản gia đ́nh là nền tảng làm thành xă hội loài người. Gia đ́nh ấy v́ cùng chung huyết thống nên dễ dàng hợp sức với nhau, nương tựa nhau mà sống, mà chiến đấu với thiên nhiên, với đồng loại (tức là các công xă nguyên thủy khác). Ở tŕnh độ này, các thành viên trong công xă không có quyền tư hữu, quyền ấy thuộc về toàn thể thành viên trong công xă. Mặc dù các công xă chiến đấu với nhau nhằm dành sự sống, khi đă tiến bộ hơn lên, họ phải nghĩ đến việc định canh định cư, việc này đ̣i hỏi các công xă phải hợp nhất với nhau, thường là hợp nhất thông qua bạo lực mà trật tự, lề luật được định bởi công xă nào có đông người hơn, mạnh hơn, giỏi hơn để h́nh thành các công xă lớn hơn, quy mô hơn so với công xă nguyên thủy. Một công xă đông người hơn thể hiện qua việc công xă ấy chiếm hữu được khu canh tác lớn hơn, tốt hơn, nhưng nó cũng c̣n cho thấy công xă ấy sản sinh ra được nhiều người khỏe hơn, thông minh hơn để đủ sức áp đặt trật tự của ḿnh trên các công xă yếu kém khác nhằm h́nh thành một h́nh thức cao hơn cho công xă nguyên thủy.

Tiến tŕnh này xảy ra trong bao lâu, nhân loại chưa hiểu rơ được. Lúc đó chưa có một kiểu chính quyền rơ rệt nào cả, cũng chưa có quyền tư hữu. Các quyết định chính yếu được thực hiện bởi các bô lăo trong công xă, v́ các vị này có kinh nghiệm về thời tiết, thiên nhiên và môi trường sống hơn. V́ lo tranh sống với thiên nhiên, thú dữ và đồng loại từng ngày, từng giờ cho nên suy nghĩ về tâm linh của con người c̣n rất đơn sơ. Cách sống ấy không thay đổi cho đến khi con người biết định canh định cư, cuộc sống bắt đầu khá hơn, có thêm thời giờ nhàn hạ hơn, do vậy có điều kiện t́m hiểu một cách khách quan, tập trung hơn về thiên nhiên và kiếp người. Từ đó con người bắt đầu biết suy nghĩ về tâm linh rồi đặt ra các vấn nạn tâm linh:

" Con người từ đâu đến ? Con người sống để làm ǵ và chết th́ sẽ đi đâu ?”.

Nhiều ngàn năm qua câu hỏi trên đă làm điên đầu các nhà thần học đến nay vẫn c̣n có nhiều lối giải thích mù mờ. (Nhưng chúng ta hăy chờ xem trong một thời gian ngắn nửa câu hỏi trên có lẽ sẽ được giải thích rơ ràng và chính xác hơn).

Từ những lời giải thích mù mờ của các nhà "thần học", tôn giáo được h́nh thành nhằm cố giải thích "những điều họ không thể giải thích được” ấy (tôn giáo mà ta nói ở đây là theo nghĩa tổng quát nhất của từ ngữ này), rồi chính quyền được thành lập, cũng từ đó một h́nh thức manh nha nào đó của quyền tư hữu được h́nh thành để củng cố sức mạnh của cộng đồng nói chung nhưng đồng thời cũng tạo ra các tiền căn của các bước nhảy vọt kế tiếp trong lịch sử nhân loại.

Dĩ nhiên trong quá tŕnh dài lâu của tiến tŕnh hợp nhất, các công xă cũng từng bước hợp nhất kinh nghiệm của nhiều chủng tộc rời rạc khác nhau làm phong phú thêm về ngôn ngữ, chữ viết, suy nghĩ, cách sống, giao tiếp giữa các chủng tộc khác nhau để đóng góp vào việc gia tăng dân số của các cộng đồng. Việc gia tăng dân số là rất quan trọng với các xă hội nông nghiệp. Nhưng nó cũng thể hiện sức mạnh để xâm lăng, chiếm đoạt và đồng hóa các chủng tộc lân bang yếu hơn nhằm h́nh thành các cộng đồng lớn hơn nữa trước khi h́nh thành một chính quyền mang tính tổng hợp sức mạnh của tập thể.

Ta hăy lấy lịch sử thời thượng cổ ở Á Châu làm gốc để ước tính: Nếu nền văn minh lúa nước xuất hiện đầu tiên ở Đông Nam Á, cho dù bởi những người từ vùng Pamir tràn xuống vùng Châu thổ Bắc Việt và Nam Trung Hoa ngày nay, hay từ lục địa Phi Châu tràn tới khi trái đất hăy c̣n trong thời kỳ băng hà với hai khối băng khổng lồ bao phủ toàn vùng Nam và Bắc Bán cầu, th́ thử hỏi con người có thể sống được ở Bắc Âu, Ả-Rập, Tây Nam Á hay Siberia được không ? Lúc đó băng giá bao phủ hầu hết địa cầu, trừ một vài vùng nắng ấm dọc theo xích đạo. Khi đó, các quần đảo ở Indonesia, Phi Luật Tân, người ta có thể đi lại bằng đường bộ v́ nước biển rút hết lên hai cực (đóng băng) của trái đất rồi.

Khi dân số tăng lên, quá tŕnh biến đổi của vũ trụ làm cho băng giá tan nhanh để biến các khu vực lạnh giá khi xưa thành các vùng có thể cư trú được, nên con người mới thiên di mà cụ thể nhất là người Aryan từ vùng Afghanistan ngày nay di cư theo hai hướng một là xuống phương Nam để h́nh thành nhóm Aryan Ấn Độ ngày nay, nhóm hai là hướng về phiá Tây để đi đến Âu Châu bây giờ. Trong quá tŕnh di chuyển ấy, một bộ phận người Aryan lại lai giống với người Châu Phi tràn tới làm cho một vùng rộng lớn từ Trung Đông tới Ấn Độ có nước da ngăm (đen cộng trắng). Trong khi đó người Á Châu Bách Việt v́ vướng dăy Hy Mă Lạp Sơn nên không thể di chuyển về hướng Tây nên văn minh Bách Việt dù huy hoàng trong thời cổ đại, nhưng đă bị khựng lại. Nhưng một số tinh túy của nền văn minh Bách Việt đă đi đến được các vùng Ấn Độ, Sumeria, Lưỡng Hà để mở đường cho tiến tŕnh phát triển của nhân loại sau này, mà hướng chính là đi về phía Tây nhằm h́nh thành các trung tâm văn minh Lưỡng Hà, Hy Lạp, La Mă như ta đă thấy.

Quan sát nền văn minh nhân loại trong thời tối cổ cho ta thấy: Có di chuyển, có giao thoa th́ mới có tiến bộ và việc xây dựng xă hội trên các vùng đất mới sẽ tạo ra các bước bức phá lớn trong quá tŕnh phát triển của loài người. Nhận định này được thể hiện rất rơ ràng khi văn minh Phương Tây di chuyển tới vùng đất mới là Bắc Mỹ và càng được chứng tỏ hơn nữa khi quan sát xă hội Âu Châu cổ đại, ta không thấy các tàn tích của t́nh trạng bộ tộc công xă nguyên thủy hiện diện ở đấy (không kể vùng Nam Âu Châu tiếp giáp với Địa Trung Hải, nơi mà một vài hang động được khám phá ra mới đây có chứa một số tàn tích này). Điều này tự nó giải thích được thời kỳ băng hà lúc băng hà bao phủ hầu hết địa cầu làm cho vùng Địa Trung Hải ngày xưa như là một cái hồ lớn để người Châu Phi có thể di chuyển đến vùng hang động niềm Nam nước Pháp hay Nam bán đảo Iberia (Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ngày nay).

Cũng từ sự quan sát nghiêm túc lịch tŕnh h́nh thành các nhà nước thuộc nền văn minh trên trái đất này, ta thấy: Lịch sử nước Tàu thời cổ đại đi lên đến Hoàng Đế, tức là niên đại chưa đến 5000 năm. Nếu kể thời kỳ tranh chấp giữa Hán - Di - Việt, th́ thời kỳ ấy cũng chưa đến 10000 năm. Các triều đại sau Hoàng Đế (nhà Ngu, Hạ, Thương, Chu) th́ cấu trúc xă hội Tàu ra sao ? (Xin t́m đọc bộ “Trung Hoa Triết Học Sử Cương" của Bác sĩ Sử Gia Hồ Thích, đây là bộ sách nghiên cứu sử học Trung Hoa đứng đắn nhất từ trước đến nay. Đại khái sử gia Hồ Thích nói rằng: "Từ thời Chư Tử Cổ Đại tức là trước thời nhà Chu gần 2000 năm, th́ người Trung Hoa hiện nay không có sử liệu, c̣n từ thời nhà Chu trở đi th́ các sử liệu ấy chỉ có 1 phần 10 là có thể tin được, các sử gia Trung Hoa viết sử nhưng không đi t́m sử liệu, các sách Thần Thoại họ cũng dùng làm sử liệu th́ không thể tin được. Nếu sử liệu không thể tin được, th́ làm sử bằng các sử liệu ấy là thứ lịch sử không đáng tin, vô giá trị vậy". Triết gia Hàn Phi Tử trong bộ "Hiển Học Thiên" c̣n nặng lời hơn với giới sử gia của Trung Hoa, ông nói: "Vô tham nghiệm nhi tất chi giả, ngu dă", nghĩa là: Viết sử mà không tham bác và xét nghiệm nhưng nhất định cho là phải, như thế là bọn ngu. Và ông cũng nói rằng: "Tham nghiệm tức là nói có chứng cứ, vậy chứng cứ về khảo cổ học văn hóa cổ sử của Trung Hoa về trước thời Đông Chu, th́ chỉ c̣n có được một thái độ hoài nghi. V́ các chứng cứ văn hóa cổ đại của Trung Hoa đều căn cứ vào bộ sách Thượng Thư và Thác Cổ, song các bộ sách ấy đều của Nho Gia làm ra, nó đều không có giá trị sử liệu văn hóa về thời cổ đại của Trung Hoa”. Mạnh Tử một triết gia nổi tiếng của Trung Hoa luôn tôn sùng Khổng Tử, nhưng ông vẫn nghi ngờ về các sách vở của Khổng Tử, Mạnh Tử nói: "Tận tín khổng thư tắc bất như vô thư", nghĩa là nếu hoàn toàn tin vào sách vở của Khổng Tử th́ tốt hơn đừng tin. Chúng ta nên nhớ các vị triết gia trên đây đều là người Trung Hoa cả). C̣n sự giải thích sau này của người Tàu th́ tạm giải thích như sau: Tam Hoàng, Ngũ Đế bên Tàu lúc đó tuy đại diện cho chính quyền trung ương nhưng nền tảng xă hội Tàu lúc đó là Bách Việt, c̣n Hán tộc th́ đang học hỏi nhằm thích nghi với một chủng tộc (Bách Việt) có nền văn minh cao hơn Hán tộc, để đến thời kỳ sau nhà Chu mới xuất hiện một Khổng Tử giải thích tính chính danh cho nhà vua là "Thế thiên hành đạo”. Chính ư tưởng này, chính v́ coi vua là "con Trời" cho nên xă hội Đông phương mới ́ ra một chỗ. Trong khi đó th́ hướng tiến lên của văn minh nhân loại tiếp tục đi về hướng Tây nhằm h́nh thành các nhà nước Ai Cập, Hy Lạp, La Mă. Cả Phương Tây lẫn Ả-Rập bị mê hoặc bởi Đông Phương huyền bí. Đông Phương huyền bí không hẳn là các thầy Fakir Ấn Độ hay các Thiền sư Tây Tạng mà trong chỗ sâu thẳm nhất của tâm hồn họ. "Huyền bí Đông Phương ẩn tàng một cái ǵ đó rất cao siêu mà phương Tây lẫn Ả-Rập chưa thể với tới được”. Điều này giải thích cuộc trường chinh của Alexander Macedonia 23 thế kỷ trước.

"Huyền bí Đông Phương chính là văn minh Bách Việt”.

Xă hội Đông Phương cổ được lập căn trên sự mở rộng các khái niệm về công xă nguyên thủy khi mà của cải vật chất và tinh thần là tài sản chung của công xă nên tuy xă hội ổn định nhưng tiến bộ chậm, cá nhân giữ một vai tṛ khiêm nhường trong trật tự xă hội ấy. V́ vậy, ta không ngạc nhiên khi quan sát xă hội Á Châu, ta không thấy chế độ nô lệ và cũng không có lănh chúa (chúa đất) như thời phong kiến ở Âu Châu (Nhật Bản là xă hội đặc thù khác trong xă hội Á Châu, v́ đó là văn hóa, văn minh hải đảo)

Xă hội Trung Đông như là gạch nối giữa xă hội Đông Phương và Tây Phương, cho nên xă hội Tây Phương tự nó mang tính đấu tranh tích cực với thiên nhiên và con người ở mức độ cao hơn. Điều này thúc đẩy xă hội loài người tiến bộ mau hơn, thúc đẩy quá tŕnh hợp nhất nhân loại mau chóng hơn nhưng cũng gây ra nhiều hiềm khích hơn giữa con người với nhau.

Đỉnh cao của cuộc tranh chấp dành quyền thống trị vùng Địa Trung Hải và cũng là giữa hai giá trị tinh thần Thiên Chúa Giáo La Mă và Hồi Giáo Trung Đông là thời kỳ hơn một thế kỷ thánh chiến. Trên chiến trường khi thắng bại bất phân th́ đă dẫn đến việc củng cố các nhà nước phong kiến ở Âu Châu, để từng bước một, các nhà nước phong kiến Âu Châu đă biết xung dụng của cải vật chất và tinh thần để khai phá các vùng hoang vu của thế giới thông qua các hiểu biết về hàng hải, khiến Âu Châu phong kiến có thể bỏ qua vùng Trung Cận Đông tiến thẳng đến Phương Đông huyền bí bằng hai hướng qua Thái B́nh Dương và Nam Đại Tây Dương để xâm lăng vùng tiểu lục địa Ấn-Hồi và sau đó là Á Châu Thái B́nh Dương nhằm h́nh thành điều mà ta gọi là chủ nghĩa thực dân Phương Tây.

Vào ba thế kỷ 16, 17 và 18 khi các nhà truyền giáo Phương Tây (giai đoạn này người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha nắm vai chính yếu khi Giáo Hoàng ở La Mă chia thế giới cho hai quốc gia nhỏ bé này v́ họ có công đánh bại quân Mông Cổ) đến rao giảng đạo Thiên Chúa Giáo (Công Giáo) ở khắp nơi từ Trung Hoa, Việt Nam, Đại Hàn, Nhật bản, Ấn Độ, .v.v… th́ họ không nghĩ rằng họ đă góp sức cho chủ nghĩa thực dân bành trướng vào thế kỷ 19.

Chủ nghĩa thực dân do nhiều yếu tố kết hợp lại: Từ sự chậm tiến về phương diện vật chất của Phương Đông đến việc Âu Châu cần nguyên liệu, sức lao động và đất đai của các vùng này. Lúc đó, việc phát triển đạo Thiên Chúa Giáo ngày càng trở nên không c̣n là yếu tố chính để biện minh cho việc thôn tính các quốc gia khác nữa. V́ thực tế, Giáo Hoàng ở La Mă không c̣n mấy quyền hành đối với các chính quyền ở Âu Châu sau cuộc cải cách Thanh Giáo được thực hiện ở Anh, Đức và cuộc cách mạng dân quyền 1789 ở Pháp, cũng như sau nhiều học thuyết khác nhau được h́nh thành trong các thế kỷ 17,18,19 giúp Âu Châu hiểu hơn về thế giới. Nhưng ư đồ của Âu Châu cho đến thế chiến II thực ra không rơ ràng ǵ cả. Rồi giữa họ với nhau lại đầy mâu thuẫn, họ như những con thú cùng tranh nhau một miếng mồi, cứ y như thế giới này là của riêng họ từ đất đai, tài nguyên thiên nhiên đến con người. Cuối cùng th́ bế tắc chồng chất lên bế tắc khiến Âu Châu mất quyền lănh đạo thế giới về tay Hoa Kỳ. Hoa Kỳ mặc dù cũng tuân thủ theo những các truyền thống Âu Châu nhưng có đủ thời gian tĩnh tâm, lên kế sách lâu dài trong việc thu hút các tinh hoa của cả Âu Châu lẫn Á Châu để h́nh thành nước Mỹ và đưa nước Mỹ đến vai tṛ thống nhất nhân loại một cách thực tế.

Để làm được việc này, ta cần xem xét lại t́nh h́nh thế giới trong thế kỷ trước (thế kỷ 20) rồi từ đó đưa ra các dự kiến cho thế kỷ 21 này.

Âu Châu cổ khi xâm chiếm các thuộc địa chỉ nhằm củng cố vai tṛ của từng quốc gia Âu Châu riêng lẻ trong điều kiện mà các mâu thuẫn giữa họ với nhau vẫn hiển hiện từ hơn 6 thế kỷ trước đó mà không hề có bất cứ cải tiến nào. Xă hội Âu Châu cổ vào thế kỷ 19 vẫn là các cấu trúc xă hội c̣n rất giống với xă hội Âu Châu vào cuối thế kỷ 13 sau khi quân Mông Cổ xâm lăng thế giới. Vào thời điểm ấy, biên giới các quốc gia Âu Châu đă được định h́nh gần giống như ngày hôm nay rồi. Trong khi mâu thuẫn giữa dân chúng trong từng quốc gia Âu Châu không hề được giải quyết đến nơi đến chốn. Xă hội Âu Châu vào thời kỳ thực dân cho đến thế chiến II là tiêu biểu cho một xă hội "Laissez-Faire", trong đó các cấu trúc xă hội quá cổ nên không thể thích nghi được với thế giới khi cao trào đấu tranh dành quyền sống tại các quốc gia bị trị ngày càng mạnh mẽ hơn và mâu thuẫn giữa các quốc gia Âu Châu ngày càng trở nên gay gắt hơn. V́ thế, sự tan ră của Âu Châu cổ là tất yếu của lịch sử. Nó đă được báo hiệu ngay từ đầu thế kỷ 20 qua thế chiến I và thực sự tan ră vào thế chiến II khi phe trục (Đức-Ư-Nhật) phát động chiến tranh.

Thế chiến II chấm dứt đă đặt thế giới vào một t́nh huống hoàn toàn mới. Một loạt các quốc gia mới được h́nh thành mà không hề được chuẩn bị cách thích ứng với t́nh thế mới và sự khó khăn cho các quốc gia này được gia tăng gấp bội khi chủ nghĩa Cộng Sản cũng ứng dụng biện pháp huy động tổng hợp sức mạnh thông qua bạo lực nhằm thống nhất thế giới dưới một ngọn cờ chung do Nga Sô điều động. Như thế, nếu so sánh với chủ nghĩa Quốc Xă và Quân Phiệt trong thế chiến II th́ cao trào Cộng Sản Quốc tế làm cho t́nh h́nh thế giới sau thế chiến II nguy hiểm hơn rất nhiều v́ vũ khí nguyên tử nay đă được phổ biến rộng răi. Kế đó, không có ǵ có thể kềm hăm tinh thần quốc gia cực đoan chắc chắn sẽ xuất hiện trong số các quốc gia tiêu biểu cho các nền văn minh cũ (thí dụ Nga, Tàu), nay cũng muốn nhân cơ hội chủ nghĩa thực dân bị cáo chung, lại cũng muốn nổi lên tước đoạt ngọn cờ lănh đạo thế giới.

Như thế, giải quyết các vấn đề của thế giới sau thế chiến II sẽ hoàn toàn không đơn giản chỉ là sử dụng sức mạnh kỹ thuật và kinh tế để đoạt chiến thắng được. T́nh h́nh này đ̣i hỏi rất nhiều kế sách khác nhau (nhiều khi mâu thuẫn nhau nữa) mà c̣n phải tính trên đường dài hàng nhiều chục năm, đồng thời phải cân nhắc rất cẩn trọng về các ưu tiên, chỉ sơ sểnh một chút cũng có thể làm cho toàn bộ kế hoạch bị đổ vỡ và nhân loại phải đối diện với sự tan ră toàn diện. Cho nên, sau thế chiến II, Hoa Kỳ quyết tâm dồn mọi nỗ lực vào việc đánh sập chủ nghĩa Cộng Sản ở Liên Xô là trước hết, sau đó mới dồn nỗ lực để ổn định thế giới v́ đối với các quốc gia cựu thuộc địa muốn nổi lên thao túng thế giới th́ Hoa Kỳ đủ sức đập tan các thế lực ấy để đặt thế giới vào trật tự chung mà vào thời điểm sau 1945 thường được gọi là Pax Americana, tức là Trật Tự Mỹ. Nhưng bây giờ, chúng ta cần t́m hiểu xem Hoa Kỳ đă hành động như thế nào trước đà tan ră của Âu Châu cổ và sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản trên quy mô toàn cầu và các hệ lụy sau đó khi các thế lực mới muốn nổi lên để t́m kiếm sự thống trị thế giới theo cách của ḿnh.

I) Hoa Kỳ Trước Đà Tan Ră Của Âu Châu Cổ.

Thế chiến I đánh dấu cuộc khủng hoảng của toàn Âu Châu về đủ mọi mặt khi chủ nghĩa thực dân đang đi vào bế tắc toàn diện. Các quốc gia Áo - Phổ (Đức ngày nay) đang nổi lên đ̣i hỏi hai thế lực thù địch chính là Anh - Pháp phải nhượng bộ về thuộc địa cũng như về hệ thống cung cấp than đá cho các tàu thuyền của họ đi lại trên biển khơi. Thiếu hệ thống cung cấp này, nền kinh tế của các quốc gia ấy không thể phát triển được, xă hội các quốc ấy sẽ đi vào suy thoái và dễ dàng bị Anh-Pháp khống chế. Thế chiến I nổ ra là v́ vậy.

Vào thời điểm nổ ra thế chiến I, xă hội Hoa Kỳ đang vươn lên thành một nền kinh tế lớn nhất toàn cầu chỉ sau 50 năm sau của cuộc "Nội Chiến". Chỉ sản lượng thép do Dale Carnegie sản xuất cũng đă hơn tổng sản lượng thép của cả Âu Châu cộng lại, riêng dầu hỏa là năng lượng của tương lai th́ đă nằm trong tay của Rockefeller, Cuba và Phi Luật Tân nằm trong tay của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ nắm chặt Phi Luật Tân để chuẩn bị cho mặt trận Thái B́nh Dương v́ Hoa Kỳ hiểu rằng nơi này sẽ là vùng đầy sóng gió trong tương lai và cũng là thị trường rất to lớn đối với thế giới. Nhưng xă hội Hoa Kỳ không sẵn sàng can thiệp vào Âu Châu, mặc dù Đức Hoàng Wilhelm muốn Hoa Kỳ làm việc này tức là đóng vai tṛ trung gian ḥa giải giữa Áo - Phổ với Anh - Pháp. Chiến tranh nổ ra là tất yếu v́ chỉ có nó mới làm suy yếu Âu Châu cổ mà thôi. Hoa Kỳ hiểu rằng không có cách nào khác làm tan ră Âu Châu ngoài việc từng bước một làm tan ră Âu Châu cổ bằng cách này hay cách khác (mà cách nhanh nhất là chiến tranh) để xây dựng lại một Âu Châu mới nhằm hoá giải các mâu thuẫn đă tồn đọng lại hàng ngàn lịch sử của cựu lục địa này.

Sự can thiệp của Hoa Kỳ vào giai đọan cuối của thế chiến I chỉ đem lại cho Âu Châu cổ một thời kỳ hưu chiến ngắn ngủi giữa hai thế lực tương tranh (Anh-Pháp với Áo-Phổ) mặc dù sau thế chiến I, một tổ chức được gọi là Hội Quốc Liên đă được đề nghị thành lập như là một diễn đàn chung của các quốc gia Âu Châu, nhưng khi thế giới "đang chuyển ḿnh mạnh mẽ" th́ một diễn đàn chung cho Âu Châu - nơi mà các mâu thuẫn vẫn tồn tại, th́ liệu người ta có thể làm ǵ được để ổn định Âu Châu ?

Hoa Kỳ đứng ngoài các toan tính này mặc dù Tổng Thống Mỹ lúc đó là Woodrow Wilson nhiệt t́nh ủng hộ. Thế chiến I cũng đánh dấu việc h́nh thành một thế lực mới đang ra sức can thiệp vào Âu Châu (lúc mà Âu Châu đang yếu đi v́ chiến tranh), đó là việc thành lập nhà nước Cộng sản do Lennin lănh đạo, đang nêu cao chủ nghĩa Cộng sản do Karl Marx đề xướng nhằm mục tiêu tối hậu là thống nhất các thuộc địa của Âu Châu để thực hiện ư đồ bành trướng kiểu Đại Nga, đánh bại chủ nghĩa Tư bản Phương Tây.

Thời kỳ hưu chiến giữa các quốc gia Âu Châu kéo dài chẳng được bao lâu, chỉ vọn vẹn có 21 năm (1918-1939) th́ một lần nữa cũng lại Đức chủ mưu cùng với sự tham gia của Nhật và Ư để phát động thế chiến II, mà về thực chất th́ lư do duy nhất vẫn là tranh chấp về việc xâm lăng thuộc địa và tài nguyên thiên nhiên.

Hoa Kỳ thấy rơ hiểm nguy trước việc chủ nghĩa Cộng sản đang bành trướng, có khả năng làm đảo lộn mọi toan tính của ḿnh và làm tan ră nền văn minh nhân loại. Nhưng Hoa Kỳ cũng thấy đây là cơ hội để thống nhất Âu Châu, khi Âu Châu đă chín mùi cho sự tan ră toàn diện để từng bước đặt nền tảng cho việc xây dựng lại một Âu Châu mới.

Trong 21 năm hưu chiến ngắn ngủi ở Âu Châu, khi mà thị trường thế giới bị xé lẻ ra và bị quan tỏa bởi các thế lực thực dân Âu Châu th́ nền kinh tế Mỹ đă đi được các bước phát triển mới với khả năng sản xuất ngày càng gia tăng. Mặc dù thị trường nội địa của Hoa Kỳ cũng đă gia tăng nhiều trong thời gian ấy nhờ vào các lực lượng di dân từ Âu Châu kéo vào Hoa Kỳ v́ họ chán nản sự nghèo khổ cũng như với sự tŕ trệ ở Âu Châu, nhưng chính v́ hàng hóa dư thừa đă dẫn đến cuộc. Đại Khủng Hoảng năm 1930 làm cho nền kinh tế Hoa Kỳ bị ảnh hưởng trầm trọng, xă hội Mỹ phải đối diện với một thách đố lớn lao. Xem xét t́nh trạng xă hội Mỹ vào thời Đại Khủng Hoảng năm 1930 cho ta thấy:

1) Về mặt xă hội th́ cách biệt giàu nghèo quá lớn, kế đến thị trường nội địa trong nước chưa được quan tâm đúng mức để khuyến khích tiêu thụ trong điều kiện sản lượng được gia tăng trên quy mô lớn (phương pháp sản xuất dây chuyền Taylor là một thí dụ điển h́nh).

2) Chính quyền Liên Bang và Tiểu Bang vẫn c̣n mang một h́nh thái nào đó của chủ nghĩa "laisser fair" đối với số di dân mới tới từ Âu Châu cũng như như với thiểu số da đen tại Mỹ.

3) Thị trường thế giới bị khoanh vùng nghiêm ngặt đă làm cho các sản phẩm của Mỹ ít có cơ hội xâm nhập

4) Cơn đói về nguyên liệu tất yếu sẽ dẫn đến chiến tranh giữa các quốc gia thiếu thuộc địa và các quốc gia nhiều thuộc địa

5) Chủ nghĩa Cộng sản sẽ là mối đe dọa thật sự với Âu Châu về lâu về dài.

Từ các nhận định mang tính cơ bản vừa nêu, các nhóm ảnh hưởng ở Mỹ được lănh đạo bởi những người như Dale Carnegie, Rockefeller, J. P. Morgan, Averell Harriman, Franklin D. Roosevelt và nhiều chính khách tên tuổi khác đă đi đến một thoả thuận có tính cơ bản gồm các đường lối chính yếu sau đây:

1) Cần giải quyết thoả đáng các mâu thuẫn trong ḷng nước Mỹ, đặc biệt là về vấn đề quyền lợi lao động giữa chủ và thợ theo đúng tinh thần bản Hiến Pháp năm 1776 của Hoa Kỳ qua việc củng cố vai tṛ của chính quyền Liên Bang, gia tăng công chi để tạo thêm sức tiêu thụ trong thị trường nội địa hầu khôi phục lại sản xuất. Các cơ sở sản xuất phải được đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt của chính quyền hầu tránh tối đa các bất trắc như đă từng xảy ra (Đại Khủng Hoảng năm 1930)

2) Cần chuẩn bị tối đa về mặt an ninh cũng như kinh tế xă hội để Hoa Kỳ sẵn sàng tham chiến trên quy mô toàn cầu khi t́nh h́nh đ̣i hỏi, trong đó vào thập niên 1930, Nhật Bản đang trở thành thế lực đe dọa an ninh của nước Mỹ và Liên Xô đang trở thành thế lực muốn chi phối toàn cầu (ở Đức th́ Hitler đă nổi lên nắm chính quyền rồi). Do đó, ta không ngạc nhiên khi tổ chức Mafia ở Mỹ bị tiêu diệt không khoan nhượng vào thời điểm đó.

3) Cách tốt nhất để hoá giải các mâu thuẫn giữa các quốc gia là dựa vào nguyên tắc "bỏ chung vô một rổ để tính toán". Nó có nghĩa là sau khi chiến tranh kết thúc th́ các quốc gia đă từng mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế, an ninh, dưới sự giúp đỡ của Mỹ, đều phải ngồi lại dưới một diễn đàn chung để tương nhượng nhau về các vấn đề gây chia rẽ dựa trên nguyên tắc về "một thị trường chung" trên qui mô toàn cầu.

Từ các nhận định căn bản ấy cho nên kế họach New Deal (nghĩa là Thoả Hiệp Mới) được Franklin D. Roosevelt đem ra trưng cầu dân ư thông qua bầu cử để ông Roosevelt tiến vào toà Bạch Ốc với một chương tŕnh rất cụ thể và một mục tiêu rất rơ ràng.

Do thế, Hoa Kỳ đă ngồi nh́n Hitler tái vũ trang, nh́n Nhật Bản thôn tính Măn Châu (Trung quốc), rồi thương thuyết lấy lệ với Quân phiệt Nhật về vụ cấm vận dầu hỏa. Trong khi đó Hoa Kỳ lại chuẩn bị các kế hoạch nhằm bắt tay với Staline, v́ người Mỹ biết rằng vào một ngày xấu trời nào đó, Hoa Kỳ sẽ cần Liên Xô trong cuộc chiến ở Âu Châu nhằm làm suy yếu lực lượng Đức Quốc Xă tại Âu Châu.

Thế chiến II kết thúc đă đặt Hoa Kỳ vào một t́nh thế hoàn toàn mới mẻ, người Mỹ không thể trở về với học thuyết Monroe (Tổng thống thứ 5 của Mỹ là James Monroe, ông đưa ra chủ trương Châu Mỹ của người Mỹ), do đó họ không c̣n chọn lựa nào khác ngoài việc nhận lănh lấy sứ mạng lănh đạo thế giới trong một cuộc chiến mới nhằm đánh bại chủ nghĩa Cộng sản trên quy mô toàn cầu và sau đó là các thế lực mới nổi lên nhằm dành quyền thống trị thế giới. Các thế lực này cũng hung hăn chẳng kém ǵ chế độ Cộng sản của Liên Xô.

Bản chất của cuộc chiến tranh thế giới sau Đệ Nhị Thế Chiến đă thay đổi một cách sâu rộng, trong đó vũ khí, sức mạnh kinh tế không phải là công cụ tối hậu có thể đánh bại kẻ thù (của nhân loại). Việc chiếm đóng không làm cho an ninh của Mỹ và thế giới trở thành tốt đẹp hơn. Thuyết phục thông qua việc làm thay đổi tương quan lực lượng về mọi mặt giữa Hoa Kỳ với Liên Xô là con đường tốt nhất để thúc đẩy Liên Xô từ bỏ tham vọng bành trướng của ḿnh. Khi Liên Xô (vỡ mộng Đại Nga) đồng ư từ bỏ tham vọng bành trướng, th́ tất cả các thứ khác đều có thể thương thuyết được để nước Nga có thể đạt được vị trí thích đáng của nước Nga trên bàn cờ thế giới.

Dĩ nhiên để đạt được mục đích làm tan ră Liên Xô, rất nhiều mưu kế khác nhau đă được thực hiện trong ṿng hơn 45 năm của cuộc chiến tranh lạnh ấy. Các mưu kế ấy nếu nh́n bề ngoài th́ có vẻ rất mâu thuẫn nhau, nên nhiều người không biết chuyện cứ tưởng rằng Hoa Kỳ bất nhất, tráo trở. Sự thực không phải vậy! Chính nhờ các nghịch lư trong chiến tranh lạnh mà thế giới mới tránh được thảm họa bom nguyên tử luôn ŕnh rập đe dọa toàn cầu trong thời gian vừa qua. Hai nghịch lư chính yếu khác mà ta cần phải kể ra đây là: Hồi Giáo và Trung Cộng (TC).

Với TC: Nếu De Gaule, Tổng Thống nền Đệ Ngũ Cộng Hoà Pháp chủ trương kéo Ấn Độ để đe dọa Liên Xô và TC th́ Hoa Kỳ chủ trương khác hẳn (điều này cho thấy De Gaule hẹp trí). Hoa Kỳ nghĩ rằng: Ấn độ thuộc khối Không Liên Kết, nước Ấn không sẵn sàng lao vào các hành động mạo hiểm (xă hội Ấn bất ổn). Nếu Ấn theo Mỹ th́ hẳn nhiên Liên Xô sẽ ra sức giúp TC (mà TC mới là đại địch thực sự của nhân loại), và lúc đó, các đồng minh Ả-Rập của Mỹ sẽ ngả theo Liên Xô như thế vùng dự trữ dầu hỏa thế giới là Trung Đông sẽ đi vào xáo trộn toàn diện. Cho nên việc chọn con bài TC để thuyết phục TC ngả theo Mỹ là ư đồ chiến lược chính yếu trong chiến tranh lạnh để đẩy Liên Xô đến chỗ phải chấp nhận thua cuộc. Việc giải quyết vấn đề TC sau đó lại là chuyện khác.

Trong chiến tranh cũng như chính trị, ta phải lượng sức ḿnh mà đánh, phải lượng sức đối phương mà ra tay. Làm sao cho ta vừa đánh địch vừa xây dựng nền kinh tế của ta được vững mạnh hơn. Khi đó ta mới có phương tiện để đánh tiếp hay có thể kéo dài chiến tranh mà không sợ bị kiệt sức đến độ phải đầu hàng, thua cuộc. Đó là sự chọn lựa khôn ngoan và bài học để đời cho bất cứ ai lăm le muốn làm chính trị hay đúng hơn là muốn mở một xuất lộ cho thế giới. Cho nên một nguyên lư để đời cho những ai muốn làm chính trị tới nơi tới chốn là:

"Balance of commitment and resources", tức là phải biết quân b́nh giữa cam kết và tài nguyên.

TC chủ trương bành trướng theo đúng truyền thống Hán tộc. Họ đủ thực tiễn để ṿi vĩnh Hoa Kỳ đủ điều. Hoa Kỳ âm thầm đáp ứng để thử ḷng nhau cho đến khi TC xác định quyết tâm đi với Mỹ vào đầu năm 1969, th́ rốt cuộc 20 năm sau th́ Liên Xô tan ră là vậy. Ư đồ của Mao Trạch Đông cũng chẳng tốt lành ǵ. Đây chỉ là cái deal, mặc cả để TC có được những cái mà Liên Xô không dám cung cấp cho TC (kỹ thuật nguyên tử và hỏa tiễn), bao gồm thêm: Một lời hứa hẹn về mở rộng thị trường Mỹ cho hàng hoá Tàu nhập cảng vô Mỹ ào ạt, một chỗ đứng ở Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Đổi lại, TC chẳng mất ǵ cả ngoài việc giảm sự ủng hộ cho các cuộc chiến tranh du kích trong vùng Đông Nam Á (mà đang đi vào thế tàn lụi, ngoài cuộc chiến Việt Nam đang tăng cao).

Với thế giới Hồi Giáo th́ họ hiểu là Hoa Kỳ đang rất bận tâm về cuộc chiến tranh lạnh, cả thế giới đều cần dầu hỏa nên họ gia sức tăng giá dầu, nhưng không phải lấy lợi tức dầu hỏa để phục vụ cho dân chúng nước họ mà là để bành trướng Hồi Giáo ra khắp địa cầu, đặc biệt là vùng Châu Phi là nơi đang bị bỏ ngỏ trong một thời gian dài, rồi đem Hồi Giáo cực đoan để cấy vào trong ḷng xă hội Âu-Mỹ như là đạo quân thứ 5 (về tôn giáo).

Như thế, ư đồ của Trung Cộng (TC) và của các nhóm Hồi Giáo quá khích chả xa lạ ǵ với Hoa Kỳ, nhưng Hoa Kỳ đành làm ngơ v́ vấn đề Liên Xô mới là ưu tiên hàng đầu cần phải giải quyết lúc đó. Năm 1990, khi Liên Xô đang tan ră th́ cũng trùng lúc đó, Saddam Hussein tung quân vào chiếm Kuwait, khiến Mỹ có cớ chính đáng để một mặt đánh bại và làm suy yếu Saddam Hussein, nhưng đồng thời cũng thử xem Liên Xô phản ứng như thế nào khi Mỹ và đồng minh đổ quân ào ào vào vùng nhậy bén này. Hoa Kỳ không tiêu diệt Saddam Hussein ngay v́ t́nh h́nh thế giới chưa chín mùi cho một giải pháp tối hậu ở Trung Đông. Vả lại, tiến đến quá gần biên giới của Nga th́ cánh cựu Cộng sản Nga có thể có cớ để hồi sinh, và quan trọng hơn hết là sau 45 năm chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ cần rút về để củng cố lực lượng quân sự, kinh tế, xă hội nhằm chuẩn bị cho trận đánh kế tiếp nhằm dứt khoát diệt trừ các hậu họa (Tàu cộng, Hồi giáo quá khích) cho toàn nhân loại.

Công cuộc chuẩn bị này đă được Tổng Thống Bill Clinton thực hiện khá chu đáo cùng với nhiều kế sách khác nhau kể cả việc TT Clinton cố t́nh tỏ ra nhu nhược trước các vấn đề đối ngoại cũng như tạo ra các vụ tai tiếng về t́nh ái giả hiệu để cho hai kẻ thù của nhân loại là Tàu Cộng và Hồi Giáo quá khích qua đó, cứ tưởng là nước Mỹ suy đồi, yếu kém để hai nhóm này hợp tác với nhau trong canh bài toàn diện nhằm hủy diệt nước Mỹ, nô lệ hoá thế giới. Khi nước Mỹ bị hủy diệt th́ thế giới sẽ nằm trong tay của chủ nghĩa bành trướng Hán tộc và nhóm cực đoan Hồi giáo.

Khi TT Bush lên nắm quyền, mọi vấn đề của nước Mỹ đă được chuẩn bị chu đáo cho nên các thế lực thù nghịch của nhân loại mới nghĩ là cần phải ra tay sớm, để lâu th́ có thể các dự tính của chúng sẽ không thể thi hành được. Cho nên vụ 9-11 năm 2001 mới nổ ra.

Hoa Kỳ một lần nữa lại tham chiến với tất cả sức mạnh trong cuộc chiến tranh không khoan nhượng này nhằm đưa thế giới vào một trật tự mới trong đó không c̣n chiến tranh chủng tộc, tôn giáo, nghèo đói, bất công, đàn áp và con người sống hài hoà, thịnh vượng, tốt đẹp hơn.

Khi nh́n theo con mắt thông thường th́: Hoa Kỳ đă tỏ vẻ hiếu chiến, muốn suy tôn vai tṛ của nước Mỹ như là một thế lực chính yếu, muốn áp đặt trật tự thế giới theo kiểu của ḿnh. Như vậy, có khác chi với chủ nghĩa thực dân hồi xưa không ? Khi ta đặt vấn đề này trong bối cảnh an ninh toàn cầu th́ mọi sự lại khác hẳn. Phải chăng các nỗ lực của loài người từ xưa tới nay là t́m cách thống nhất nhau lại ? Từ thủa khai thiên lập địa tới bây giờ, đă có biết bao nền văn minh từng có thời kỳ sáng chói rồi tự nhiên biến mất đi, chỉ c̣n để lại vài truyền thuyết mù mờ, hoặc một vài dấu tích rời rạc mà nền văn minh Atlantis là c̣n được ghi nhớ nhất.

Phải chăng các nỗ lực của con người thuộc nền văn minh hiện nay chỉ là riêng của một dân tộc nào đó mà thôi. Thí dụ như Trung Cộng hiện nay tự nhận lấy quyền có thể làm mọi thứ kể cả cướp đọat các tài sản chung của nhân loại.

Loài người từ thời công xă nguyên thủy đến nay đă trải qua biết bao vật lộn đắng cay với chính loài người với nhau và với thiên nhiên để tồn tại trong an hoà, sống một đời sống xứng đáng là con người hơn. Đó là tiến tŕnh "Duy Dân biện chứng" nhằm thống nhất loài người lại trong một thế giới có trật tự, kỷ cương, luật pháp nhằm chấm dứt hẳn nạn "cá lớn nuốt cá bé". Giúp xử dụng các tài nguyên thiên nhiên một cách khôn ngoan nhất để làm ra thật nhiều của cải vật chất và tinh thần cho toàn thể nhân loại nói chung, để loài người được sống viên măn hơn.

Như thế những kẻ nào muốn nhân danh tín ngưỡng, tôn giáo hay chủng tộc hoặc muốn xử dụng sức mạnh về dân số (Tàu cộng) đông đảo đang có mặt khắp mọi nơi trên thế giới, để thực hiện mưu đồ thống trị thế giới, th́ đều là kẻ thù của nhân loại và cần bị đập tan mau chóng. Cho nên, việc hủy diệt các ác thế lực, tăm tối đó thật là chính đáng.

Ai có thể làm việc diệt kẻ ác tới nơi tới chốn được nếu không phải là Hoa Kỳ ?

Truyền thống hơn 200 năm lập quốc của Hoa Kỳ đă đủ chứng tỏ rằng:

1) Sứ mệnh của Hoa Kỳ là phải đón nhận những trách nhiệm cao cả trước nhân loại

2) Xă hội Hoa Kỳ là một xă hội duy nhất có chủng mà không có tộc, nên gọi Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ là vậy, nơi đây, mọi sắc dân trên thế giới đều có thể tới sinh sống, có cơ hội làm ăn và phát triển một cách b́nh đẳng (thế nên nước Mỹ mới được gọi là Vùng Đất Của Cơ Hội, làm cho mọi người trên thế giới đều mong ước được tới Mỹ sinh sống) trong khuôn khổ của Hiến Pháp cũng như Luật Pháp và cùng nhau thi hành trách nhiệm của ḿnh với xă hội (bổn phận công dân với đất nước). Cho nên xă hội này tự nó đă là xă hội "tiền Duy Dân" đáng làm mẫu mực để cả thế giới noi theo.

3) Xă hội Mỹ thực ra không phải được lănh đạo bởi đám đông ô hợp, được lănh đạo trong thực tế bởi một nhóm nhỏ có trí tuệ siêu quần, một tinh thần đạo đức gương mẫu, một tấm ḷng vị tha với con người và coi việc quyết tâm phục vụ con người như là mục tiêu tối hậu. Một ban lănh đạo tốt đẹp như vậy chỉ nước Mỹ mới có mà thôi. Ngoài ra, muốn dẫn dắt nhân loại, anh phải biết xung dụng của cải vật chất và tinh thần cách tốt nhất để san xẻ cho các quốc gia, các vùng nghèo khó hơn để họ được sống b́nh an hơn hiểu biết hơn. Việc này, cũng chỉ có nước Mỹ làm được mà thôi.

4) Ngoài sức mạnh kinh tế, kỹ thuật, anh c̣n phải có sức mạnh quân sự và một khối kiến thức sâu rộng về mọi vùng khác nhau trên thế giới để vừa điều tiết được các mâu thuẫn do lịch sử hàng ngàn năm để lại, đồng thời lại biết xử dụng "chuyên chính dân chủ" khi cần thiết để làm cho các nước, các nhóm sống hài hoà với nhau trong một trật tự xă hội mới (t́nh h́nh Iraq, Afghanistan là tiêu biểu cho điểm này)

Như thế, chính nghĩa của Hoa Kỳ trong việc dẫn dắt nhân loại tiến vào thời đại Nhân Chủ không thể là từ sự cho phép của Liên Hiệp Quốc (LHQ) được. V́ LHQ chỉ là tập hợp gồm nhiều quốc gia mà phần lớn c̣n đang trong t́nh trạng chuyển hóa để tiến lên dân chủ (kể cả các quốc gia độc tài). Chính nghĩa của Hoa Kỳ cũng không đi từ sự ban phép của bất cứ tôn giáo nào, v́ mọi tôn giáo đều đang phải đối diện với sự thay đổi tận gốc rễ để thích nghi với thế giới mới mà nhân loại đang tiến vào, đó là Xă Hội Nhân Chủ Pháp Trị trên quy mô Toàn Cầu.

Như thế, chính nghĩa Hoa Kỳ nằm ngay trong ḷng bản Hiến Pháp Mỹ năm 1776 và nằm trong các sự giải thích về học thuyết Duy Dân Nhân Chủ do Cụ X.Y. Thái Dịch Lư Đông A đă đề xướng ra cách đây 60 năm.

II) Cực Đoan Hồi Giáo - Trung Cộng Là Liên Minh Tội Ác Chống Nhân Loại:

Thế giới không ngạc nhiên về liên minh "ác quỷ" này. Một bên ỷ vào dân số 1 tỷ 3 người tại Trung Cộng và một lực lượng đông đảo người Tàu hiện diện khắp nơi trên thế giới, như là đạo quân thứ 5 có khả năng khuynh loát các chính quyền địa phương nơi có người Tàu cư trú đông đảo và nắm nguồn lợi kinh tế (vùng Đông Nam Á). Bắc Kinh tin tưởng là với mạng lưới t́nh báo Hoa Kiều của họ giăng mắc khắp nơi ở Đông Nam Á, họ có thể kiểm soát được vùng này và dùng vùng này như là một bàn đạp để thống trị thế giới, áp đặt trật tự kiểu Tàu lên toàn nhân loại. Bên kia lợi dụng Hồi Giáo với những tín điều cực đoan, mù quáng, cũng đă cấy vào nhiều nơi trên thế giới những kẻ hay tổ chức cuồng tín, sắt máu nhất để chống lại Phương Tây là trước mắt, sau đó là chống lại toàn thể nhân loại, chống lại các tôn giáo khác và nhất là chống lại những giá trị nhân bản của con người (như coi các tôn giáo khác là thù địch cần phải tiêu diệt, coi nhân phẩm phụ nữ chỉ là món đồ chơi, coi tự do chân chính của con người là tṛ ma quỷ, v.v..) bằng mọi h́nh thức như khủng bố nhằm hủy hoại các chính quyền Hồi Giáo ôn ḥa tại nhiều quốc gia Hồi Giáo, đồng thời gây xáo trộn, bất ổn tại các quốc gia Phương Tây nơi có người Hồi Giáo sinh sống, nhất là tập trung phá hoại Hoa Kỳ, quốc gia mà nhóm Hồi Giáo quá khích này coi là biểu tượng lănh đạo của các thế lực thù nghịch với Hồi Giáo. Tuy bọn quá khích này chỉ là thiểu số nhỏ nhoi nhưng được sự tiếp tay của một số giáo sĩ Hồi Giáo quá khích và cuồng tín tại các quốc gia Ả-Rập, bọn chúng một phần nào đó đă tạo ra được những bất ổn, gây khó khăn cho các chính quyền sở tại bằng việc chém giết, đặt bom giết người vô tội nhằm hủy diệt các suy nghĩ đúng đắn của dân chúng Hồi Giáo nói chung. Nếu bọn chúng thành công trong việc áp đặt các suy nghĩ cực đoan kiểu này, th́ 1 tỷ 3 dân Hồi Giáo khắp thế giới sẽ phải sống dưới ách cai trị hà khắc của chúng như nhóm Taliban đă từng làm trước đây tại Afghanistan.

Cả hai thế lực dă man, cực đoan và tăm tối này đều đă liên kết với nhau trong cùng một kế hoạch chung, v́ họ có chung một mục tiêu ngắn hạn là: Tiêu diệt Mỹ và Phương Tây để đi tới việc thống trị thế giới theo cách suy nghĩ cực đoan của ḿnh. Nhưng cả hai đă bị trúng kế của Mỹ trong thời kỳ ông Tổng Thống Bill Clinton, khi ông ta tỏ ra là Hoa Kỳ bị yếu kém về mặt ngoại giao lẫn quyết tâm khi phải can thiệp vào các vùng lộn xộn trên thế giới mà các bài học tại Liban năm 1983 (mấy trăm lính Mỹ tại toà đại sứ Mỹ ở Liban bị bọn khủng bố Hồi giáo đặt bom giết chết), Somalia năm 1993 (Mỹ can thiệp vào sự lộn xộn tại quốc gia này, sau đó lại tháo chạy) là rất rơ. Thêm vào đó, những cuốn sách nhỏ kiểu có tựa đề "In Retrospect: the Tragedy and Lessons of Vietnam" của ông Mc Namara cựu bộ trưởng quốc pḥng Mỹ đă chuyển đến cho Trung Cộng, Việt Cộng lẫn Bắc Hàn những tín hiệu sai lạc để cố t́nh đánh lạc hướng ư đồ chiến lược của Hoa Kỳ đối với thế giới. Cho nên TC và Al-Qaeda ra sức xúc tiến vụ 9-11 năm 2001 tại nước Mỹ (dĩ nhiên c̣n rất nhiều chuyện khác nữa).

Nhiều người nghĩ rằng: Tại sao Hoa Kỳ biết rơ ư đồ của Bắc Kinh và nhóm cực đoan Hồi giáo mà lại không ra tay trước để ngăn chặn ? Thực ra th́ mục đích là "phải để chúng ra tay trước th́ mới cảnh tỉnh thế giới và dân Mỹ được", đồng thời mới có lư do chính đáng h́nh thành liên minh toàn cầu chống trục ác quỷ lớn. Trước hiểm họa vô cùng lớn lao ngày nay của nhân loại, không một nhà lănh đạo khôn ngoan nào lại dám cả gan dùng vũ lực để hủy diệt một thiểu số độc tài nhưng lại gây ra cái chết cho hàng trăm triệu người vô tội cả, trừ trường hợp bất khả kháng mà thôi. Quyết định vội vă một việc vô cùng quan trọng như vậy th́ sẽ ảnh hưởng tới âm đức của ḍng họ ḿnh và cả đất nước mà ḿnh đang lănh đạo nữa. Vậy những kẻ muốn lấy tội ác chồng lên tội ác th́ hăy để chúng tự làm cái việc tự hủy diệt họ. Nên sách xưa có câu: "Nhân hữu thổ điền, nhữ phản hữu chi, bỉ nghi hữu tội, dân chi sở dục, Thiên tất ṭng chi", Nghĩa là "Người ta có đất đai bây dùng bạo lực để đoạt lấy, bây là kẻ có tội, khi người dân đă định tội bây như vậy, th́ trời cũng phải nghe theo".

Bây giờ ta hăy xem Trung Cộng (TC) cấu kết với nhóm cực đoan Hồi Giáo như thế nào! Đặc biệt xem coi TC dính líu như thế nào vào một loạt các tội ác có thể làm hủy diệt cả nhân loại ra sao:

1) TC âm thầm thôn tính các lân bang nhằm cố gắng đưa chiến tranh ra khỏi nước Tàu càng xa càng tốt với hy vọng rằng: Như trong chiến tranh lanh, Hoa Kỳ sẽ nhảy vào các quốc gia ấy để thực hiện kế bao vây TC, như thế Hoa Kỳ sẽ rơi vào bẫy sập của TC. Khi đó Bắc Kinh sẽ trở lại với cuộc chiến tranh du kích nhằm làm tiêu hao lực lượng và ư chí của dân Mỹ.

2) TC ra sức phổ biến vũ khí hạch nhân và hỏa tiễn (mà TC có được là do Hoa Kỳ cho, kể cả việc TC ăn cắp kỹ thuật này của Nga và Hoa Kỳ) đến các quốc gia Hồi giáo và các quốc gia côn đồ (v́ dễ vận chuyển) nhằm tạo ảnh hưởng về mặt ngọai giao, chính trị và kinh tế hầu mở rộng liên minh ác quỷ, thậm chí lan rộng đến cả sân sau của Mỹ là vùng Châu Mỹ La Tinh. Kế đến là khi thế giới đầy những nước côn đồ, thù Mỹ và Tây Phương nhưng lại có bom nguyên tử th́ Mỹ phải t́m mọi cách đối phó cho nên không có thời giờ quan tâm tới sự bành trướng của Tàu trong vùng Đông Nam Á và Á Châu, mà Mỹ c̣n phải tương nhượng nhiều quyền lợi trong vùng này cho TC để TC có thể yểm trợ Mỹ trên một phương diện ngọai giao quốc tế nào đó (vụ vũ khí nguyên tử của Bắc Hàn là một thí dụ rơ rệt nhất trong những thủ đọan thâm độc này của TC).

3) TC xử dụng thặng dư mậu dịch với Mỹ để củng cố sức mạnh quân sự (chứ không phục vụ cho mục tiêu dân sinh của người dân Trung Hoa) nhằm kiểm soát các vùng nhạy bén có trữ lượng dầu hỏa phong phú (chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, tranh chấp vùng biển có trữ lượng khí dầu hỏa và khí đốt với Nhật Bản) gần TC, sau đó là khắp vùng Đông Nam Á (giới cầm quyền Trung Cộng trong thập niên 1906’s đă cho viết lại sách vở trong các trường đại học để dạy giới sinh viên là: "Việt Nam là một tỉnh của Trung Hoa và gần đây Trung Cộng cho viết lại sách giáo khoa dạy cho giới trẻ Tàu và giới trẻ người Tàu trong vùng Đông Nam Á cũng cùng một ư đồ xâm lăng như trên"). Việc này thực hiện bằng cách TC thiết lập các căn cứ tiền tiêu dọc theo vùng Đông Nam Á đến Ấn Độ Dương để làm thế ỷ dốc, yểm trợ cho các nhóm Hoa kiều tại Đông Nam Á để nhóm Hoa kiều này có chỗ dựa nhằm chuẩn bị cho việc thôn tính toàn Đông Nam Á, kế tiếp là thôn tính Úc và các hải đảo vùng Nam Thái B́nh Dương. Kế đó nữa là đánh bật Mỹ ra khỏi vùng Châu Á-Thái B́nh Dương cũng như là Ấn Độ Dương và sau cùng đuổi Mỹ khỏi vùng Vịnh Ba Tư (Persian Gulf) để TC làm chủ vùng dự trữ dầu hỏa chiến lược lớn nhất thế giới này.

4) TC đứng đằng sau vụ 9-11 qua việc yểm trợ ngầm cho nhóm Al-Qaeda để phá Mỹ, thêm bằng chứng hiển nhiên nhất là Giang Trạch Dân rất thích thú xem đi xem lại nhiều lần đọan băng ghi lại cảnh hai máy bay không tặc đâm vào toà Tháp Đôi tại New York.

Như thế, TC hy vọng rằng: Cú 9-11 sẽ làm nước Mỹ điêu đứng và cú đấm kinh hoàng này sẽ làm cho Mỹ ngă xuống và không đứng lên được nữa ít ra là trong ṿng 2 năm. Hai năm đủ để TC và nhóm Hồi giáo quá khích tiếp tục tung ra những cú đánh khác vào Hoa Kỳ và Tây Phương làm cho Hoa Kỳ và Tây Phương mất thế và TC cũng như nhóm Al-Qaeda sẽ tạo được ảnh hưởng sâu rộng trong vùng Đại Đông Nam Á.

Nhưng ước tính của Giang Trạch Dân và nhóm lănh đạo Bắc Kinh đă không xảy ra như họ nghĩ v́ Al-Qaeda chỉ làm được một cú 9-11 duy nhất mà thôi. V́ vụ 9-11 mà chế độ độc tài Hồi giáo điên khùng, lạc hậu của nhóm Taliban ở Afghanistan bị tiêu diệt, và Saddam Hussein bị lật đổ . Tóm lại, v́ vụ 9-11 mà Mỹ có thể đưa quân vào trấn những điểm chiến lược trong vùng Vịnh Ba Tư cũng như Tây Nam Á Châu là Iraq và Afghanistan.

Thực ra trong chiến dịch này, TC ra tay thông qua bàn tay của nhóm Al-Qaeda nhưng khi nhóm Al-Qaeda không làm thêm tṛ trống ǵ th́ TC bắt buộc tự ḿnh phải ra tay, nhưng TC ra tay rất ngấm ngầm và thâm độc để không ai có thể quy kết tội ác cho TC được. TC làm như sau:

Một mặt bên ngoài th́ TC "làm lớn" vụ Đài Loan, xúi Bắc Hàn làm lớn chuyện vũ khi nguyên tử sau đó là bày cho Bắc Hàn chơi tṛ thương thảo cù nhầy với Mỹ, c̣n bên trong th́ TC âm thầm thực hiện âm mưu đầu độc toàn cầu bằng vũ khí sinh học thông qua cửa ngơ chính là Việt Nam (chúng ta phải nhớ là trong mấy năm vừa qua, TC là nơi phát xuất ra những bịnh kỳ lạ và tại Việt Nam cũng có nhiều trường hợp bị bịnh kỳ lạ mà không bao giờ xảy ra trước đó). Khi làm việc này, TC nhắm vào hai mục tiêu:

A) Hủy diệt sinh lực của dân tộc Việt Nam

B) Qua các người Việt về nước thăm gia đ́nh, mầm bịnh sẽ được lây lan qua khắp thế giới. Ấy là chưa kể số người Tàu ở khắp nơi trên thế giới khi về thăm nước Tàu hay làm ăn buôn bán, sau đó khi quay lại các nước sở tại th́ sẽ là mầm truyền bệnh cho khắp nơi.

Chính trong điều kiện này mà Tŕ Hạo Điền, cựu bộ trưởng quốc pḥng của TC mới chắc chắn cả quyết nói (trong bài diễn văn đọc trước các cán bộ cao cấp của đảng Cộng sản Trung Cộng trong buổi họp "Mật") về trận chiến bằng vũ khí sinh học do TC phát động, nhằm tiêu diệt toàn bộ thế giới Phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ để TC có thể đem người đến chiếm đóng nước Mỹ, Úc, Canada nơi đất rộng, tài nguyên phong phú và c̣n đầy đủ các phương tiện khoa học, kỹ thuật tân tiến sau khi bị TC đánh sụp.

Bây giờ th́ hậu quả khủng khiếp cho thế giới do TC (tạo ra) chưa xảy ra nhưng sẽ xảy ra trong những ngày tháng sắp tới đây, v́ mầm dịch bịnh cúm gia cầm giết người H5N1 đă lây lan đến Nga rồi Âu Châu, ngay cả Canada là nơi có khoảng 50 người chết v́ bịnh lạ mà chưa khám phá được nguyên nhân (sau đó bộ Y tế Canada nói là có 16 người chết và mầm bịnh đă được ngăn chặn. Chúng tôi không tin vào lời tuyên bố này v́ sự việc đâu có dễ dàng như vậy). Trong điều ấy, các cơ quan chuyên môn của thế giới đă lên tiếng cảnh báo là trên 100 triệu người toàn cầu sẽ chết v́ bịnh dịch cúm gia cầm này (do TC gây ra để giết nhân loại, tạo bất ổn trên thế giới. Đây là h́nh thức chiến tranh vi trùng mà Tŕ Hạo Điền đă hăm dọa Mỹ và Tây Phương). Các cơ quan y tế của thế giới và Liên Hiệp Quốc cũng lên tiếng cảnh báo là đại dịch cúm gia cầm chỉ c̣n chờ cơ hội theo tháng ngày ngắn ngủi để bùng nổ mà thôi, cho nên các nước cần phải chuẩn bị để đối phó với đại dịch này.

Nhưng ngăn chận ra sao ? Mọi việc đâu có dễ dàng như chiến tranh thông thường mà nhân loại đă từng chứng kiến. Khi đại dịch xảy ra mà chỉ cần một trường hợp được báo cáo là vi khuẩn H5N1 lây từ người sang người để trở thành lọai dịch cảm cúm nơi người (Avian Flu) như đă từng xảy ra vào năm 1918 ở Âu Châu (Tây Ban Nha và giết chết khoảng 50 triệu người ở nhiều nơi) th́ mọi nơi trên thế giới sẽ phải thiết lập hàng rào y tế. Khi hàng rào y tế được lập ra th́ mọi sinh họat b́nh thường sẽ bị đ́nh đốn, mọi việc đi lại sẽ bị tê liệt và như thế, kinh tế toàn cầu sẽ rơi vào đại khủng hoảng một cách nghiêm trọng.

Ta hăy xem nếu cuộc đại khủng hoảng sắp tới xảy ra th́ sẽ ảnh hưởng như thế nào tới thế giới:

Ta biết rằng dự trữ dầu hỏa của TC chỉ có vỏn vẹn 3 tuần lễ (hiện nay Thượng Hải và 1 số thành phố lớn của TC phải thay phiên cúp điện khoảng 12 tiếng một tuần), nếu đại khủng hoảng do bịnh dịch cúm gia cầm gây ra th́ mọi sự đi lại trên biển cũng bị phong tỏa, các nước cung cấp dầu hỏa cũng phải ngưng việc cung cấp dầu thô. Như vậy, chỉ sau 3 tuần lễ, toàn bộ nước Tàu ch́m trong bóng tối và hỗn loạn, cướp bóc trên quy mô lớn sẽ xảy ra ngay trong nước Tàu, v́ dân chúng tại các quốc gia Cộng sản hay độc tài như TC đă lâu ngày sống trong chế độ gian trá, tàn ác nên dân chúng đă mất nhiều tính nhân bản của con người, rồi họ lại bị ḱm kẹp, đàn áp quá lâu cho nên khi có dịp, họ sẵn sàng vùng lên làm loạn (lănh đạo Bắc Kinh đâu biết rằng khi gây đại họa cho thế giới th́ họ cũng đang tự giết ḿnh)

Thiếu dự trữ năng lượng mới chỉ là một trong nhiều vấn đề khó khăn của TC mà thôi, ấy chưa kể chuyện cung cấp lương thực cho các thành thị của TC cũng chẳng dễ dàng ǵ v́ dự trữ thực phẩm của TC trên thực tế, không quá 2 tháng. V́ vậy, nếu hàng rào y thế được thiết lập trên quy mô toàn cầu trong ṿng 3 tháng th́ nước Tàu sẽ đi vào tan ră thật sự.

Trong t́nh h́nh ấy, tập đoàn lănh đạo hiếu chiến, gian ác Bắc Kinh sẽ không c̣n chọn lựa nào khác ngoài việc phát động chiến tranh công khai với lân bang (Nhật, Đài Loan, Việt Nam, Ấn Độ,v.v) nhằm phá thế bế tắc, loạn lạc trong nước Tàu. Nhưng khi TC phát động chiến tranh công khai, liệu có máy bay hay hoả tiễn nào của TC có thể rời khỏi bệ phóng hay phi trường được không hay tất cả đều bị đánh tan hoặc phát nổ trước khi bay lên bầu trời ?

Trong t́nh huống đó, Hoa Kỳ và các đồng minh thân cận sẽ ra tay hủy diệt lực lượng quân sự, công an, các cơ sở sản xuất vũ khí sinh hóa của TC, v́ đó cũng chính là chỗ dựa chính yếu để đảng Cộng sản Tàu dùng làm lực lượng trấn áp, bóc lột dân Tàu cũng như dân chúng các nước lân bang và xa hơn nữa là toàn thể nhân loại.

Khi nước Tàu bị phân ră làm 15 mảnh thay v́ 9 mảnh như dự trù trước đây th́ tất các nhóm cực đoan Hồi giáo cũng phải chịu "nộp kiếm" (kiếm là biểu t