|
|
Ngừoi Quốc Gia là những người đặt tổ quốc lên bản vị tối cao Tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v.. Trích VN Tự Điển của Đào Duy Anh |
|
Nationalist Vietnamese Forum |
« Cây có gốc mới xanh cành tươi ngọn.
Nước có nguồn mới biển cả sông sâu. »
(ca dao)
Con người ta sinh ra ở
đời đều có cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Sống mà không biết nguồn gốc lịch sử dân tộc, không biết tổ tiên ḿnh là ai và ḿnh từ đâu đến, th́ sẽ không ǵn giữ được cái gia sản tinh thần quư báu của cha ông đă để lại. T́m về với Tổ Tiên, với văn hoá, lịch sử dân tộc là để bồi dưỡng và làm bừng cháy lên trong ta ḷng tự hào dân tộc, tức là phục hưng, phục hoạt đức tin vào giá trị nguồn gốc của ḿnh. Cũng vậy, khi chúng ta biết đem những tiến bộ của thời đại ngày nay bổ túc cho những thiếu xót ngày xưa, hầu để làm nổi bật lên những nét đặc thù của truyền thống, văn hóa, dân tộc là đă biết bảo vệ giá trị nguồn gốc của ḿnh.
Lược về huyền sử Việt, mỗi quốc gia trên thế giới
đều có huyền thoại lịch sử dựng nước và vật biểu tượng riêng cho dân tộc ḿnh. Dân Pháp chọn "Gà trống" làm biểu tượng cho giống Gaulois, người Đức chọn chim ưng làm biểu tượng cho sức mạnh, người Hán chọn con "hổ" sau đổi thành "Rồng",…nhưng tất cả chỉ là "Đơn Nguyên", riêng dân tộc Việt chọn Lưỡng Nguyên "Tiên Rồng" làm hèm (totem) cho ṇi giống. Rồng biểu tượng cho sự to lớn, lại luôn biến hóa và đầy năng lực phấn đấu. Tiên biểu tượng cho tinh thần cao thượng, sáng suốt và trường thọ. Một sự khác biệt với các dân tộc khác. Rồng Tiên ḥa hợp nêu cao hai đặc tính về sự tương sinh, tương quan, âm dương hỗ trợ, sự hợp nhất giữa tinh thần với thể chất, giữa t́nh và lư. Một nét đặc thù của dân tộc Việt Nam. Người Hán lấy Thần Nông làm huyền thoại dựng nước, nhưng khi nói về Thần Nông là nói về Nông Nghiệp, Văn Minh Nông Nghiệp trồng lúa nước bắt nguồn từ Bách Việt, mà Hán Tộc lại bắt nguồn từ Văn Minh Du Mục. Điều này c̣n cho thấy, dân Hán chỉ biết lấy của người khác làm của ḿnh. Khi không có một huyền thoại lịch sử dựng nước riêng cho dân tộc ḿnh vậy thử hỏi xem, Trung Quốc có phải là một dân tộc thuần nhất không? hay Trung Quốc chỉ là một « Tạp Chủng Quốc » vây mượn tứ phiá, cuối cùng th́ cũng chẳng biết ḿnh là ai! Cũng vậy, khi chọn vật biểu tượng riêng cho dân tộc ḿnh, người Hán đă chọn "hổ", rồi sau đó đổi thành "Rồng" (thấy người khác có ǵ hay là "mượn" xài liền!). Hổ biểu tượng cho sự dũng mănh, Rồng biểu tượng cho sức mạnh vũ băo, cho trí dũng, cho quyền lực. Nhưng quyền lực, sức mạnh, trí dũng không được hướng dẫn bởi một tinh thần cao thượng, thanh tao, trong sáng, hài ḥa, th́ chỉ biết đi xâm lăng, đàn áp và chiếm đóng kẻ khác mà thôi! Thật ra, ngay cả chính người Tàu cũng không rơ nguồn gốc dân tộc của ḿnh, chỉ cần hỏi một người Tàu nào đó, th́ sẽ biết họ từ đâu đến, đến từ vùng nào, Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Măn Châu, Hoa Nam hay Hán? Nói tóm lại, Tàu không phải là một dân tộc thuần nhất!- Huyền thoại dựng nước của dân tộc Việt qua truyền thuyết Tiên Rồng –
- Truyền thuyết Thần Kim Qui và Nỏ Thần - Người Việt Nam chỉ biết qua truyện Thần Kim Qui hiện lên giúp vua An Dương Vương xây Thành Cổ Loa. Sau khi xây xong thần tặng cho vua móng rùa làm nẫy nỏ. Mỗi phát bắn ra hàng ngàn mũi tên. V́ vậy ngài mới thắng
Đồ Thư và 500000 quân nhà Tần, đánh cho Triệu Đà bại bao phen. Sau Triệu Đà cho con là Trọng Thủy ở rể Âu Lạc, ăn cắp móng rùa, rồi vua An Dương Vương mất nước. Ngược với truyền thuyết đó, trong các cuốn phổ chép về sự tích thời Âu Lạc, th́ Vạn Tín Hầu Lư Thân (Lư Ông Trọng) là người vẽ đồ h́nh, t́m vị trí xây thành Cổ Loa. Cao Cảnh Hầu Cao Nỗ và em là Cao Tứ là tác giả chế ra 3 loại nỏ thần khác nhau, khinh nỗ, trung nỗ và đại nỗ. Nhiều người ít học sử cứ cho rằng không có thành Cổ Loa. Truyện nỏ thần là truyện hoang đường. Sự thật thành Cổ Loa đến thế kỷ thứ 19 vẫn c̣n. Đến năm 1945 thành vẫn c̣n được mấy dăy tường trên 4 mét. Theo Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ, trong bộ sách Anh Hùng Lĩnh Nam th́ bản phụ chú nghiên cứu về thành Cổ Loa đă được tác giả phỏng theo tài liệu của trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội. Như vậy "Nẫy nỏ thần với Thần Kim Qui" là một truyện bịa đặt. Thành Cổ Loa di tích vẫn c̣n đó, đây là một công tŕnh kiến trúc xây cất theo ṿng xoáy trôn óc. Nẫy Nỏ Thần là một sáng tạo khoa học của tiền nhân, chứ không phải là truyện hoang đường. Đều này cho thấy rằng, dân Việt đă sớm có một văn minh hơn các dân tộc chung quanh.Trong tập « Tinh Hoa Tư Tưởng Việt », tác giả
đă nêu ra một số nhận định của các nhà văn nổi tiếng về giá trị của huyền sử như :« Bộ huyền thoại của một dân tộc là
( Karl Jung )
« Bộ huyền thoại của một dân tộc không phải là những chuyện hoang
( Mircea Eliade, Myth and Reality, trang 4)
« Huyền thoại là một sáng tạo tập thể về giấc mơ siêu ư thức của thực tại ».
( Paul Diel, Le symbolisme dans la Mythologie Grecque. )
« Không có bộ huyền thoại th́ không thể thành một dân tộc. Dân tộc nào không có bộ huyền thoại không thể
( Laurens Van Der Post, Pattern of Renewal, Pendel Hill, trang 9)
Như vậy, huyền sử vốn có một giá trị tinh thần của dân tộc ở mức cao độ, v́ ít ra đă nêu lên quan niệm sống của một dân tộc, với những ư hướng thâm sâu của tiền nhân.
Tổ Tiên chúng ta rất linh thiêng và lo xa cho con cháu, biết chắc bọn Hán Tộc sẽ không bao giờ
để yên cho dân tộc Việt, nên đă đem lịch sử, văn hóa, học thuật, nghệ thuật Việt trao truyền cho hậu thế qua những câu truyện huyền thoại, dân gian, qua các câu ca dao, tục ngữ.Với những nét
đặc thù truyền thống văn hóa, mang đầy đặc thái cổ Việt, cùng với những thâm ư mà tổ tiên muốn trao truyền, dân tộc chúng ta đă thừa hưởng được một kho tàng văn hóa lịch sử vô tận.Qua những câu truyện cổ tích dân gian, chúng ta có thể rút ra
được những bài học thật ư nghiă và thú vị :- Sự Tích Dưa Hấu – An Tiêm, nói lên tinh thần tự lập, tự lực và tự cường, nhờ vào tài trí thông minh, ư chí, nghị lực, tin tưởng ở sức ḿnh mà
đă vượt qua mọi khó khăn thử thách.- Sự Tích Bánh Chưng Bánh Dày – Hoàng Tử Lang Liêu thứ mười tám, nhờ nếp sống
đơn sơ, chất phát, đă biết ḥa ḿnh và gắn bó với cuộc sống dân chúng, biết dựa vào thiên nhiên để biến cải cuộc sống. Lấy lá cây xanh, gạo nếp, đậu và những thứ gia vị mà người dân thường dùng hàng ngày để chế ra hai loại bánh. Bánh dày h́nh tṛn, tượng trưng cho trời, bánh chưng h́nh vuông, tượng trưng cho đất. (Ư nghiă vuông tṛn, Tổ Tiên chúng ta thường khuyên bảo con cháu sống sao cho phải đạo làm người, tự nghiêm khắc đối với ḿnh, dễ dàng tha thứ đối với người, “trong vuông, ngoài tṛn"). Dùng ngũ cốc mộc mạc trong dân gian, chế biến ra hai loại bánh dâng lên vua cha để làm lễ Tạ Ơn Trời Đất, cầu xin cho mưa thuận, gió ḥa, nên đă thấu hiểu được đạo lư làm người, « Thiên, Địa, Nhân ḥa ». Xứng đáng nhận lănh trách nhiệm giữ nước, an dân. Sống gần gủi với dân, với nước mới thấu hiểu được ư nguyện của dân và làm theo ư dân một khi ra cầm vận mệnh, điều hành đất nước.- Từ câu chuyện Phù
Đổng Thiên Vương - Thánh Gióng giết giặc Ân vào thời Hùng Vương thứ IV, chúng ta rút ra được hai bài học ư nghĩa :Già, trẻ, trai, gái
Khi
đất nước lâm nguy, xả thân cứu nước, khi thắng trận trở về vua ban bổng lộc, chức tước th́ từ chối, để rồi một ḿnh một ngựa lên núi hóa, bay lên trời. Vua và dân nhớ ơn công đức nên đă lập đền thờ tưởng nhớ, ghi ơn. Càng thể hiện rơ tinh thần v́ dân, v́ nước, chứ không v́ danh lợi. Có việc th́ đến, xong việc th́ đi. Lập đền thờ tưởng nhớ công đức, c̣n cho chúng ta thấy rơ sự khác biệt giữa dân Hán và dân Việt. Dân Việt sùng bái các vị Anh Hùng Dân Tộc v́ nước quên ḿnh, c̣n dân Hán chỉ biết chiêm ngưỡng anh hùng cá nhân.Qua những bài hát câu ḥ, chúng ta cũng có thể nh́n ra
được bài học về biên giới đất nước ta ngày xưa :« Gió
Động Đ́nh Mẹ ru con ngủ,Cầu Trường Tiền ấp ủ n
ăm canh,Tiết trời thu lạnh lành lanh,
Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương
đông,Bổng bồng bông, bổng bồng bông,
Vơng
đào Mẹ bế Con Rồng Cháu Tiên. »Bài hát ḥ ru ngủ này nhắc nhở chúng ta về biên cương nước Việt, Bắc (giáp Trung Nguyên) từ Hồ
Động Đ́nh, Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), Ba Thục (ngày nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên TQ) tiếp phía Tây, Tây Nam giáp nước Lăo Qua, tức Ai Lao, Đông cận biển Đông Hải. Lănh thỗ chia làm sáu quận, Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, chứ không phải như bây giờ, v́ bọn Hán lấy thịt đè người, di dân lấn đất, lần rồi dân tộc ta phải tiến xuống phương Nam mở đường sống.Hoặc qua câu ca dao
« Cây có gốc mới xanh cành tươi ngọn
Nước có nguồn mới biển cả sông sâu. »
Nhắc nhở chúng ta
đi đâu, làm ǵ cũng đừng quên nguồn gốc tổ tiên và luôn nhớ rằng ḿnh là người Việt Nam.Hai câu thơ dưới
đây cho chúng ta thấy một sự so sánh thật thú vị và ư nghiă,« Trúc xinh, trúc
đứng đầu đ́nh,Em xinh, em
đứng một ḿnh cũng xinh »Trúc là biểu tượng cho người quân tử Tàu, phải
đứng ở đầu đ́nh hoặc trong cung điện nguy nga lộng lẫy th́ mới xinh mới đẹp, điều này c̣n cho chúng ta thấy sự ham danh, háo lợi, thích được người ta coi trọng.C̣n em xinh, em
đứng một ḿnh em cũng xinh, em ở đây là Việt Nam chúng ta qua biểu tượng Thánh Gióng Phù Đổng Thiên Vương, có việc th́ đến, xong việc th́ đi không màng danh lợi, một ḿnh một ngựa không cần ai biết đến, vẫn để tiếng thơm muôn đời.Tổ Tiên chúng ta thật cao siêu, dùng những từ ngữ thật sâu xa và ư nghiă vô cùng, càng nghĩ càng phải kính phục và khiếp sợ, chẳng hạn như hai chữ «
đồng bào », có nghiă là những người cùng chung một bào thai, có phải chăng là bọc trăm trứng trăm con trong huyền thoại Tiên Rồng ?Tổ Tiên chúng ta lại dùng hai chữ «
đất nước » để gọi quê hương ḿnh, Nước Việt Nam, từ nước c̣n được dùng vào việc dựng nước, cứu nước, giữ nước, yêu nước thương ṇi, một sáng tạo độc đáo. Nói đến nước là nói đến sự sống, không có nước con người ta sẽ chết. Mất nước người Việt cũng không c̣n chổ đứng. Cho nên chúng ta tuyệt không để cho bọn xâm lăng Hán Tộc cướp lấy một tất đất nào của chúng ta nữa, mà chúng ta phải lấy lại những ǵ mà ĐCSVN v́ ngu xuẩn, ham quyền, ham lợi đă dâng cho chúng và những phần đất bị chúng cướp, mà khi xưa dưới thời Vua Trưng, Vua Lư, Vua Quang Trung đă có mộng lấy lại. Ngày nay, qua cuộc chiến không khoan nhượng về tư tưởng, văn hoá, cũng như cuộc chiến của toàn nhân loại với Hán Tộc, chúng sẽ phải trả lại cho Bách Việt những ǵ thuộc về con cháu Bách Việt, khi đó chúng ta mới xứng đáng hănh diện là con cháu Ḍng Giống Tiên Rồng, lúc đó Tổ Tiên chúng ta mới được mĩn cười dưới chín suối.
Về lịch sử dựng nước của dân tộc Việt, tuy có nhiều trở ngại khi nghiên cứu về thời
đại Hùng Vương, như về tính cách bán huyền thoại, niên đại các triều vua, danh hiệu Hùng Vương, Lạc Vương, và nhất là địa bàn nước Văn Lang, v.v…; nhưng nếu dựa vào các thành qủa của: khảo cổ học, ngôn ngữ học, nhân chủng học, cổ sử Trung Hoa, cổ sử Việt,…và các sách sử cận đại, tất cả đă làm sáng tỏ về thời đại Hùng Vương. Căn cứ vào lịch tŕnh lập quốc của Trung Hoa, cổ sử Việt cũng như cổ sử Trung Hoa, th́ địa bàn của Trung Quốc và Bách Việt được phân định rơ rệt:Lănh thổ Trung Hoa trong thời kỳ lập quốc (Hoàng
Đế chiếm Suy Vưu, 2697 trc, C.N.) cũng chỉ tới sông Trường Giang (trong vùng Tây Bắc Trung-Hoa ngày nay, giữa trung lưu hai sông Hoàng Hà và Dương Tử). Trong khi đó, Bắc từ Động Đ́nh Hồ, Nam giáp nước Hồ Tôn, Ba Thục tiếp phiá Tây, Đông cận biển Đông Hải là địa bàn của Kinh Dương Vương (Vua của vùng Châu Kinh và Châu Dương) thuộc họ Hồng Bàng với quốc hiệu là Xích Qủy (sau này Lạc Long Quân đổi là Văn Lang). Địa bàn này bao gồm nhiều thị tộc trong khối Bách Việt (Ngô Việt, Mân Việt, U Việt, Lạc Việt, Việt Thường, Âu Việt, Đông Việt, Nam Việt, v.v…). Như vậy, bộ tộc Bách Việt (Viêm Việt) đă sống rải hầu hết phần Trung nguyên Trung Quốc, từ phiá Nam Trường Giang, cộng khu vực triền sông Dương Tử xuống đến Hoa Nam.Theo truyền thuyết và cổ sử, từ Kinh Dương Vương
đến đời Hùng Vương thứ 18, cả thảy 20 đời vua. Tính từ năm 2879 trc. C.N. đến 258 trc. C.N., tổng cộng 2622 năm. Nếu tính một vua cho một triều đại, kết qủa trung b́nh mỗi vua trị v́ 131 năm, do đó, một số sử gia cũng như nghiên cứu gia cho niên đại Hùng Vương là sai sự thực. Tuy nhiên, để giải thích sự khúc mắc về niên đại Hùng Vương (2622 năm), một số nhà nghiên cứu về cổ sử đă dựa trên cổ tục, cho rằng mỗi triều đại Hùng Vương là một ḍng trị v́, mỗi ḍng vua gồm nhiều vị vua.Hoặc theo niên biểu
đối chiếu :- Trung Hoa lập quốc khởi từ Hoàng
đế đến cuối Đông Chu (2700 – 256 trc. Tây lịch);- Việt Nam, kể từ Hồng Bàng thị ra
đời đến cuối Hùng Vương thứ 18 (2879 – 258 trc. Tây lịch) gồm 2622 năm là điều phù hợp với quá tŕnh lịch sử của hai nước.(Xin t́m
đọc : "Tinh Hoa Sử Việt" - Đinh Khang Hoạt)
Trong n
ăm ngàn năm lịch sử, dân Việt đă trải hơn ngàn năm Bắc thuộc, bị Tàu đô hộ. Với chính sách đồng hoá « Hưng Hoa Diệt Di », chúng tiêu diệt dân bản xứ bằng phương pháp thống trị dă man và khắc nghiệt, để rồi di dân chiếm đất, phương pháp này được xử dụng từ đời này sang đời khác và măi cho tới ngày nay. Sự chuẩn bị quân sự để xâm nhập đất nước chúng ta, chúng phân phát các chiến lệnh như « lấy vợ Việt, tiêu tiền Việt, ở đất Việt ». (ngày xưa cũng như hiện giờ chúng đang làm, đem tiền giả, mua nhà, mua đất, mua vợ, mua chức quyền. Chúng thao túng từ thôn quê, làng xă đến chính quyền Trung Ương). Bọn xâm lăng Hán Tộc đă cướp sách, đốt sách, sửa đổi và viết lại lịch sử hầu xóa vết tích Tộc Việt, cũng như gieo, cấy vào đầu người Việt rằng, những tên Thái Thú nham hiểm như Tích Quang, Nhâm Diên và Sĩ Nhiếp là những người đă dạy dân Việt văn hóa, lễ nghĩa, cũng như trồng trọt, cày cấy, (xin t́m đọc : Việt Nam Trung Tâm nông nghiệp lúa nước và công nghiệp đá, xưa nhất thế giới - tiến sĩ N.T.Thanh và Cuộc xâm lăng không tiếng súng – Vĩnh Như, để thấy rơ bộ mặt thật của bọn xâm lăng, đừng nghe những ǵ Hán tộc nói mà hăy nh́n xem những ǵ chúng đă làm trên quê hương yêu dấu của chúng ta.), câu « ba năm giáo dưỡng tất sẽ thành Tàu » đă được chúng áp dụng một cách triệt để.Trước sự trường tồn của quốc gia và dân tộc, dân Việt
đă thể hiện rơ tinh thần quật khởi qua những cuộc khởi nghiă của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lư Nam Đế, Lư Phật Tử, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Ngô Quyền,…tất cả đều đă được tổ tiên của dân tộc Việt khai quật và phổ biến rộng rải để nêu cao ư thức và chính nghiă dân tộc.Sau những cuộc
đấu tranh gian khổ, đầy những hy sinh bằng máu và nước mắt, dân tộc Việt đă có được một thời kỳ tự chủ, với một chủ quyền quốc gia Việt hoàn toàn độc lập về mọi mặt. V́ hoàn cảnh địa dư và dân số nước Việt so với Trung Hoa thật là quá nhỏ, nên sự ḥa hiếu với Trung Nguyên là điều cần thiết. Lệ triều cống xưa, chẳng qua chỉ là sự hy sinh thể diện đối với kẻ địch mạnh gấp trăm lần khó có cớ gây đem quân đánh chiếm, đó là chính sách uyển chuyển để giữ nước và tồn chủng. Ḥa hoăn với Trung Hoa không có nghiă là phụ thuộc quyền cai trị mà chỉ là để sinh tồn. Ngay trong lúc ḥa hiếu, các nhà ngoại giao (sứ thần) Việt mỗi khi đi sứ không hề bỏ qua cơ hội phát huy tinh thần b́nh đẳng dân tộc đối với nhà cầm quyền Trung Quốc. Tinh thần dân tộc đă được đề cao và tôn trọng một cách tế nhị.Thời
đại tự chủ bắt đầu từ vua Đinh Tiên Hoàng dùng sức Vạn Thắng (thắng hết cả mọi thứ về lực lượng cũng như văn hóa) để xây dựng nền độc lập cho dân tộc Việt. Ngọn cờ Bông Lau là biểu hiện của toàn thể dân chúng, là tinh thần của cái sức Vạn Thắng tên Hoa Lư (bông hoa lau) được lấy đặt cho kinh đô nước Đại Cồ Việt cũng là để kỷ niệm cái tinh thần toàn dân cùng nổi dậy theo cởi mở gông xích cho Việt.Sau
đời Đinh nhà tiền Lê (Lê Hoàn) lên thay có theo chế độ trước, nhưng phải dùng vũ lực để đánh tan quân nhà Tống và c̣n phải dẹp Chiêm Thành, để bờ cơi nước Nam được yên ổn, nên không cải tạo đất nước được bao nhiêu. Đến đời sau là Lê Ngọa Triều, tính t́nh dâm ác, nên sau khi chết Lư Công Uẩn là Thập Đạo Tướng Quân lên làm vua, đổi quốc hiệu là Đại Việt, kinh đô từ Hoa Lư dời ra Thăng Long, triều Lư cộng tất cả được 215 năm, đă mở mang được nhiều mặt : hành chánh, giáo dục, luật pháp, ngoại giao.Cuối
đời nhà Lư sự xa hoa của triều đ́nh không vừa ḷng dân và v́ vua đă tỏ ra chuyên chế độc đoán, nên nhà Trần đă lên thay. Vào thời kỳ này, tinh thần quốc gia dân tộc và ḷng yêu nước của dân Việt đă lên đến đỉnh cao, lại ổn định trên nhiều mặt : chính trị, xă hội, quốc pḥng, cũng như kinh tế,…Nhà Trần đă trị v́ tổng cộng là 175 năm.Lịch sử Việt là một lịch sử truyền kỳ
đấu tranh, suốt một ngàn năm đô hộ, với chính sách cai trị tàn bạo, tiêu hủy đền đài di tích lịch sử, văn hóa Việt, cộng thêm ư đồ thâm độc, chủ trương Hán hóa lân bang, người dân Việt đă chứng thực được cái dă tâm thống trị của bọn Hán tộc. Để được tự do và có chủ quyền cho vận mệnh ḿnh và dân tộc, dân Việt đă đấu tranh sống c̣n với ṇi Hán. Không đổ máu, tuyệt không xoay chuyển được thời đại (Huyết Hoa - Thái Dịch Lư Đông A). Điều này c̣n được thể hiện rơ trong sáu chữ : « Đồng Trụ chiết, Giao Chỉ diệt » trước ư đồ đen tối của bọn xâm lược, người người đă ư thức và bảo nhau, cứ đi ngang qua đó là thảy một cục đá dưới chân đồng trụ th́ không thể nào diệt được chúng ta, càng thể hiện được ḷng yêu nước thương ṇi của dân Việt. Lịch sử Việt đă chịu biết bao vinh nhục để dân tộc được sống c̣n, nhờ tinh thần dân tộc và ḷng quyết tâm sắt đá được un đúc, nung nấu qua ngàn năm đô hộ của bọn giặc phương bắc. Cái tinh thần này nó đă bắt rễ trong tim óc, trong tâm hồn và ư chí của Tổ Tiên chúng ta và toàn thể con dân nước Việt.Chúng ta có thể tự hào và phải tự hào hănh diện rằng, chưa có một dân tộc nào
đau khổ và nỗi bật hơn lịch sử dân Việt về sức mạnh chiến đấu cho nền độc lập tự chủ của ḿnh. Việt vẫn là Việt, Hán vẫn là Hán, điều đă làm cho nhiều sử gia, cũng như những nhà nghiên cứu khảo cổ, nhân chủng học trên thế giới phải ngạc nhiên và cho là phép lạ không thể nào giải thích được. Một dân tộc nhỏ bé hiếu ḥa, luôn bị bọn xâm lăng phương Bắc ḍm ngó, ŕnh rập như hổ đói ŕnh mồi, với một ngàn năm đô hộ và nô lệ, dân tộc Việt vẫn trường tồn và đứng vững th́ ắt phải có một cái ǵ đó.Trong gian truân và thử thách, dân tộc Việt
đă anh dũng, kiên cường chống ngoại xâm và đă lập nên những chiến công huy hoàng, rực rỡ cho ḍng sống sử Việt. Phá Tống, kháng Nguyên, bại Mông, phạt Thanh.Vào thời Lư thế kỷ thứ 11, khi nghe tin Tống triều âm mưu chuẩn bị binh mă chiếm
Nhà Trần vào thế kỷ thứ 13,
đă 3 lần đại phá quân Nguyên, một đội quân hùng hậu và tàn ác nhất thời bấy giờ, chúng đă đánh chiếm gần cả thế giới, khi vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu th́ đến ngọn cỏ cũng không c̣n. Thế nhưng, khi đến Việt Nam chúng đă bị thảm bại 3 lần, nhờ vào tinh thần đoàn kết. Tinh thần này được thể hiện qua Hội Nghị Diên Hồng, vua Nhân Tông đă triệu tập các bô lăo dân gian để bàn việc nước, « Thế vận nước nên hoà hay nên chiến ? Tất cả đồng thanh hô lớn quyết chiến!, quyết chiến! ». Nó càng thể hiện sự gắn bó giữ dân chúng và triều đ́nh, càng nêu cao tinh thần dân chủ. Trong hoàn cảnh nguy nan của đất nước, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đă sẵn sàng hy sinh bản thân ḿnh, gạt bỏ hết mọi tỵ hiềm, gạt bỏ thù nhà, để cùng sát cánh với toàn dân bảo vệ Xă Tắc. Lời nói trung liệt của Vương càng làm cho vua thêm an ḷng « nếu bệ hạ muốn hàng xin chém đầu thần trước đă ». Ḷng trung dũng của các tướng sĩ, cộng thêm ḷng quyết tâm và đoàn kết của toàn dân, mọi người đều khắc trên vai hai chữ « Sát Thát » quyết sống chết cùng giặc Nguyên chứ quyết không thoả hiệp. H́nh ảnh Trần Quốc Toản, v́ tuổi nhỏ không được vào dự Hội Nghị Diên Hồng, măi lo nghĩ việc nước, căm hận quân thù xâm chiếm quê hương, giày xéo dân tộc, nên đă bóp nát quả cam lúc nào không hay biết, có vơ công cũng chưa chắc bóp nát quả cam dễ dàng như vậy được, đây là sức mạnh đến từ ḷng yêu quê hương, yêu dân tộc tha thiết. Phạm Ngũ Lăo v́ muốn được ṭng quân theo Hưng Đạo Vương góp tài sức ḿnh, cứu dân cứu nước, nên ngồi đan thúng bên lề đường chờ Hưng Đạo Vương đi ngang qua, măi mê suy nghĩ việc nước, nên khi lính đến đuổi đi và rồi đă bị giáo đâm thũng đùi mà cũng không hay biết. Cái tinh thần bất khuất, cái sĩ khí cao ngất trời xanh của Trần B́nh Trọng đă làm nhược chí quân thù, « Ta thà làm ma nước Nam , chứ không thèm làm vương đất Bắc ». Không v́ chút danh lợi mà bán đứng tổ tiên, dân tộc, bài học để đời cho ĐCSVN hiện nay! Những h́nh ảnh này là những bằng chứng hùng hồn cho chúng ta thấy tinh thần quốc gia dân tộc đă lên cao độ trong dân gian. Sau khi 3 lần bị bại trận ở Việt Nam và ở Nhật Bản, do bị ngọn gió Itsé làm đắm thuyền, quân Nguyên không c̣n manh giáp, để rồi từ đó làm tan ră đội quân nhà Nguyên.Vào
đầu thế kỷ thứ 15, khi quân Minh đem quân xâm chiếm nước Việt, cai trị rất tàn ác, với chính sách thâm độc chúng bắt người Việt đồng hoá với người Tàu. Từ ăn mặc ,cúng tế, học hành... việc ǵ cũng bắt theo Tàu. Chúng phá vỡ những di tích, đền đài lịch sử của dân Việt, thiêu đốt sách vở, vơ vét của cải, châu báu cùng đàn bà con gái đem về Tàu ! Trước cảnh quê hương điêu tàn, dân chúng lầm than, anh hùng áo vải Lê Lợi quyết chí dẹp loạn, cứu nước. Quân Minh chiêu dụ Lê Lợi ra làm quan, ông một mực từ chối và cho rằng « Làm trai ở trên đời nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chứ sao lại bo bo làm đầy tớ người. » Anh Hùng Áo Vải Lê Lợi, người đă từng nằm gai nếm mật, chịu đựng biết bao nhiêu gian khổ, đă sống gần gũi và thực tiễn trong đời sống dân chúng, nên đă thấu hiểu con đường cách mạng mà quốc gia đang đ̣i hỏi. Ông đă quyết tâm vạch ra con đường mới cho sự sống c̣n của dân tộc. Mười năm trường kỳ chiến đấu trong gian khổ là mười tự rèn luyện và khắc chế chính bản thân ḿnh. Người nào muốn đi t́m lẽ sống cho dân tộc đều phải hành nan, khổ hạnh, người đó phải là Thắng Nhân, phải tự thắng tất cả những yếu hèn, dục vọng, dốt nát, chia rẽ,... làm vẫn đục t́nh người. Thắng nhân là cuộc đấu tranh tự thắng trên thể xác, tri thức ; tự thắng trên thể sống chính ḿnh và với người. (Chu Tri Lục IV – Thái Dịch Lư Đông A). Anh Hùng Áo Vải Lê Lợi, người đă áp dụng cái tinh thần « Cương Nhu phối triển » một cách triệt để, sau khi thắng trận vẫn sẵn sàng đem châu báu triều cống, hành động này nói lên cung cách ứng hành xử rất tế nhị của Vua Lê Thái Tổ, không làm mất mặt quân thù, càng giữ cho đất nước mọi bề yên ổn. ». Ngài tiếp nối tinh thần trách nhiệm đối với quốc gia dân tộc, không v́ những cao ngạo, tự ái nhất thời mà quên đi quyền lợi của toàn dân. Câu nói bất hủ trong B́nh Ngô Đại Cáo : « Đem đại nghiă để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cuồng bạo. ». Sau khi vua Lê Thái Tổ lên ngôi, ngài đă giữ trọn t́nh trọn nghiă không bội lời thề hứa cùng chư quân, để nhớ công lao của Lê Lai, ngài ra chiếu chỉ : « Lễ giổ của Lê Lai trước một ngày, rồi mới tới lễ giỗ của ngài ». Cho nên mới có câu : 21 Lê Lai, 22 Lê Lợi. Điều này c̣n cho thấy, ngài có một cách sống thật gương mẫu, t́nh nghiă vẹn toàn, vuông tṛn từ đầu cho đến cuối. Bất cứ một triều đại hay chính quyền nào, khi có quyền thế trong tay mà không biết đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên quyền lợi cá nhân của bản thân ḿnh, th́ sẽ bị đào thải nhanh chóng.Vào cuối thế kỷ thứ 18, vua Lê nhu nhược
để cho hai họ Trịnh - Nguyễn thao túng, chuyên quyền, đă dẫn đến một cuộc nội chiến tương tàn. Gây ra biết bao đau thương, xă hội chia rẽ, phân ly. V́ ham quyền, ham lợi, vua Lê Chiêu Thống và Hoàng Thái Hậu đi sang Tàu kêu cầu cứu, (trong các triều vua nước Việt, chưa có một vị vua nào ươn hèn, qụy lụy vang xin kẻ thù truyền kiếp của dân tộc như Lê Chiêu Thống, mang tiếng là vua một nước mà phải theo niên hiệu Tàu), với dă tâm muốn cai trị nước ta từ trước, vua Càn Long nhà Thanh đă sai Tôn Sĩ Nghị khởi quân sang đánh nước Việt. Lúc đất nước lâm nguy, lưỡng đầu thọ địch, giặc nội thù và giặc ngoại xâm, cũng là lúc nhân tài xuất hiện, điều này đă được chứng thực suốt chiều dài lịch sử Việt, vị đại anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ người dân áo vải Tây Sơn dấy binh dẹp nội loạn, rồi chính thức lên ngôi Vua. Sau đó, vua Quang Trung đích thân dẫn binh mă ra Thăng Long phạt Thanh cứu nước nhà ra khỏi âm mưu đô hộ.Với trí xét
đoán rất nhanh và chính xác, với một tinh thần uy dũng song pha, với một bản lănh vơ công dân tộc thuần túy, cùng với tài dàn binh bố trận, khai thác tối đa khả năng quân sự của ḿnh bằng những sáng kiến bất ngờ và đồng thời cũng là một dũng tướng trên chiến trường. Vua Quang Trung có một cách hành quân tốc chiến, tốc thắng, quân của ngài đánh đến đâu là thắng đến đó và điểm đặc biệt nữa là quân của vua Quang Trung đi đến đâu cũng là hành quân trên đất địch, ngài chưa hề bị bại trận. Ngài đúng là một thiên tài quân sự, bách chiến bách thắng ! những trận đánh kinh hồn và nỗi bật nhất là các trận Đống Đa, Quy Nhơn và Gia Định. Với tài dụng binh siêu việt, cùng với lối hành quân thần sầu quỷ khóc, ngài đă tiêu diệt hẳn hơn 10 vạn quân Xiêm chạy về đến đất nước c̣n được hơn 200 quân, cũng như tiêu diệt hẳn hơn 20 vạn quân Thanh chạy về tới đất nước c̣n có hơn 100, với ông Tôn Sĩ Nghị áo mũ rách tả tơi, để lại cả các ấn tín Tổng Đốc Vân Nam, để rồi từ đó, bọn xâm lược khiếp sợ không c̣n dám nghĩ đến việc xâm chiến đất nước chúng ta.Chúng ta gần
đây thường nghe nói đến danh từ « chiến tranh chớp nhoáng » qua hai cuộc chiến tại Afganishtan và Iraq do cách hành quân thần tốc, sấm sét của quân đội Liên Minh. Nhưng chiến thuật hành quân này đă được vua Quang Trung áp dụng từ 200 năm trước và trận nào ngài cũng đánh như vậy!Vua Quang Trung không những là một thiên tài về quân sự, ngài c̣n có những viễn kiến về chính trị bằng phương thức
đi trước thời đại như dự kế chính trị, với chính sách dự toán hàng năm, cùng với kế hoạch chính trị được vạch ra trước 10 năm. Về mặt văn hoá, ngài chú trọng đến việc xây dựng và phát huy một quốc đạo làm nồng cốt; Ngài cũng là người đầu tiên đă mạnh dạn dùng chữ nôm trong trường thi. Đề thi không cần lấy ở “tứ thư” mà lấy ở "ca dao" hay những việc đă xảy ra trong lịch sử Việt. Đây là một hành động then chốt xây dựng lại học thuật và tạo ra một lớp sỹ phu mới có tinh thần độc lập văn hoá mà không bị nhiễm bởi tư tưởng của bọn xâm lược Hán Tộc.Sự nghiệp của Vua Quang Trung tuy ngắn ngủi, nhưng rất sáng chói. Sự nghiệp của ngài là cả một khoa học kiêm nghệ thuật về quân sự của thời
đại XX, hợp với chiến lược toàn diện chiến của chiến tranh chớp nhoáng, cũng như về chính trị phải nói rằng : "Vua Quang Trung là người của thời đại XX trên kế hoạch xă hội và chính trị". (Chu Tri Lục IV, Thái Dịch Lư Đông A)Người Pháp thường ví thiên tài quân sự của vua Quang Trung ngang hàng với Napoléon, sự so sánh này
đă làm giảm giá trị thiên tài quân sự của ngài, v́ ngài chưa hề bại trận, c̣n Napoléon đă từng bị bại trận ở Trafalgar năm 1805 ở vùng biển Méditerannée nước Pháp, ở Berezina - nước Nga năm 1812 và ở Waterloo - Vương Quốc Bỉ năm 1815. Kể từ sau khi bị bại trận ở Waterloo, đội quân hùng hậu của Napoléon cũng bị tan ră theo. (xin t́m đọc : « Histoire de la France et des Français » – Tome IX, librairie Larousse – André Castelot et Alain Decaux).Trong suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm, dân tộc Việt
đă 3 lần minh định rơ ràng biên cương lănh thổ nước Nam là riêng biệt và độc lập, không phải là một tỉnh huyện của Tàu, càng không lệ thuộc Tàu :- Lần
đầu tiên vào thế kỷ thứ 1,«
Đô Kỳ đóng cơi Mê Linh,Lĩnh Nam riêng một Triều
(Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca)
- Lần thứ hai vào thế kỷ thứ 11,
« Sông Núi nước Nam, vua Nam ở,
Rành rành địa phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bây sẽ bị
đánh tơi bời. » (Danh Tướng Lư Thường Kiệt)- Lần thứ ba vào thế kỷ thứ 15,
« Nước Việt ta từ trước
Vốn xưng văn hiến đă lâu
Sơn hà cương vực đă chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác. »
(Lời tuyên ngôn của vua Lê Thái Tổ)
X.Y. Thái Dịch Lư Đông A trong tập thơ Đạo Trường Ngâm, đă dùng " Lưỡi Gươm Việt" làm biểu tượng cho tinh thần dân tộc Việt. Lưỡi Gươm Việt dùng vào những cuộc chiến đấu vương đạo, với một sứ mạng cao cả, thiêng liêng là nêu cao chính nghiă, trừ gian diệt bạo, cứu nước giữ ṇi. Có ba loại lưỡi gươm, lưỡi bảo kiếm, khí kiếm và tuệ kiếm.
Lưỡi bảo kiếm là lưỡi gươm Tiên trao cho những bậc anh hùng cái thế, với một sứ mệnh thiêng liêng là bảo vệ non song, cứu nước giữ ṇi, diệt gian trừ bạo, dẹp tan cường bạo ngoại xâm và dựng nền ḥa b́nh độc lập, tự chủ cho giống ṇi. Lưỡi gươm mà thuở Vạn Kiếp Tiên trao cho Đức Thánh Trần Hưng Đạo cây “Phi Thiên Thần Kiếm" để tiêu diệt bọn Mông Cổ. Và cũng chính lưỡi gươm này, tại Thành Lục Niên ở núi Hồng Lĩnh lại hiện ra để trao vào tay người anh hùng áo vải Lê Lợi. Lưỡi gươm chính nghiă đi đến đâu th́ thây xác quân Minh tuôn đổ đến đó, để rồi đem lại sự thắng lợi vinh quang cho dân tộc.
Sự sắc bén của những con người uy dũng, hiên ngang, bất khuất, coi cái chết nhẹ như lông hồng
đă làm tiêu tan cái nhuệ khí tàn bạo, sắc máu của quân thù. Sự hiên ngang, bất khuất của Trần B́nh Trọng nhơn nhơn một mực nói : "Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm Vương đất Bắc”, cũng như anh hùng Lê Lai sẵn sàng hy sinh mạng sống, v́ nước quên ḿnh, chết để cho tương lai dân tộc được sống măi. Hai lưỡi khí kiếm trên có sức bén nhọn, được gọt mài bằng khí tiết và ḷng trung trực, đă làm sờn gai quân xâm lược.Tinh thần sáng tác, dùng trí óc
để áp đảo tinh thần kẻ địch, chỉ dùng một lời thơ có thể đẩy lui âm mưu thôn tính, xua đuổi cả một đoàn quân tàn bạo như hổ đói ŕnh mồi. Đó là lưỡi tuệ kiếm được ví như bài "B́nh Phú" của Trạng Giáp Hải. Cũng như bài thơ ghi trên quạt "Phiếm Minh" của Mạc Đỉnh Chi khi đi sứ bên Tàu, cũng đă làm choáng váng đầu óc bọn thiên triều.Lưỡi Gươm Việt phải làm bằng Thép V
ăn Lang, được nung đúc trong ḷ Viêm Hồng và phải được thắm nhuần tinh hoa sông núi."Cùng một lưỡi gươm vẫy nên vạn thắng
Cùng một lưỡi gươm trỏ
đến thái b́nh".Quả thật là cao siêu, chỉ trong một bài thơ, Cụ Lư
Đông A đă diễn tả cả một tinh thần dân tộc Việt trong suốt quá tŕnh dựng nước, cứu nước và giữ nước của cha ông.Qua những bài học lịch sử trên, chúng ta nhận thấy rằng tinh thần quốc gia dân tộc của dân Việt
đă lên đến cao độ, vua dân đồng ḷng, tất cả mọi người đều biết đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên quyền lợi của chính bản thân ḿnh và sẵn sàng dám hy sinh mạng sống ḿnh để cứu đất nước ra khỏi cảnh lầm than, điêu tàn. Các vị vua đều lấy đức để an dân, lo với cái lo của dân, đau với cái đau của dân, nên dân chúng mới mới gắn bó với triều đ́nh, vua dân đồng ḷng bảo vệ non sông, xây dựng tổ quốc. Một bài lịch sử quí báu vô giá cho con dân nước Việt, từ ngàn xưa cho đến ngày nay vẫn c̣n giá trị và phải biết noi theo.Cái tinh thần quốc gia dân tộc thật
đúng nghiă như trong VN Tự Điển của ông Đào Duy Anh :« Người Quốc Gia là những người
đặt tổ quốc lên bản vị tối cao,Tối cao có nghiă là trên tất cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo,
đảng phái và cả chính bản thân ḿnh v.v. »Bất cứ triều
đại hay chính quyền nào muốn được tồn tại phải biết dựa vào ḍng sống sử Việt để đấu tranh cho sự sống c̣n của dân tộc, c̣n triều đại hay chính quyền nào xa ĺa lịch sử dân tộc, chối bỏ sức sống của ṇi giống Việt th́ sẽ bị đào thải một cách nhanh chóng. Điển h́nh như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống và ĐCSVN hiện nay, trong cả ba th́ ĐCSVN là mang trọng tội nhất. Đưa dân tộc xuống bờ vực thẩm, giết chết hai ba thế hệ, tàn phá tài sản văn hóa, tài nguyên quốc gia, tiếp tay cho ngoại bang hút máu dân lành,...chỉ xứng với hai chữ « Việt Gian », chứ không xứng với chữ « Người Quốc Gia chân chính ».Thấy sản nghiệp như thấy Tiền Nhân, thấy những Tinh hoa Sử Việt như nghe thấy tiếng gọi của Hồn Thiêng Sông Núi,
đang thúc giục chúng ta nhập cuộc để làm nên những trang sử hào hùng cho dân tộc. Lịch sử dân tộc là ch́a khoá và là cây gậy thần để đánh thức tất cả con dân nước Việt.« Không
đọc sử không đủ tư cách nói việc quốc gia. Đọc sử không giải được nghiă và không nắm được thể dụng, không thể có được bản lănh về chính trị. Phải đem một tri thức suốt mặt thống nhất vào một nhỡn quang mới phân tích được một sự tượng trên lịch sử cho thích đáng. » (Chu Tri Lục 4 – Thái dịch Lư Đông A)Chính trị là lịch sử ngày nay, mà lịch sử là chính trị của thời qua.
Người Trung Hoa luôn luôn tự hào là do chính tài n
ăng đặc biệt của họ đă sản sinh ra nền văn minh cao nhất và lâu đời thế giới. Ngày nay, dưới ánh sáng của khoa học, người Trung Quốc khó có thể thực hiện được ư đồ phủ nhận nguồn gốc du mục của ḿnh, và nền văn minh Trung Hoa cũng chỉ là sự thâu hoá tinh hoa văn hoá các dân tộc bản địa.Theo Edward H. Schafer : « Chẳng c̣n nghi ngờ ǵ nữa, nghệ thuật trồng lúa nước và thuần hóa súc vật
đă được người Tàu thâu hóa từ những chủng tộc mà họ khinh bỉ tại phương Nam xa xô. » Ông Edward c̣n nhận định rằng : « Thật là khó khăn để người Trung Hoa chấp nhận hoặc ngay cả ư thức được rằng họ đă vay mượn tư tưởng từ ngoại nhân... » (xin t́m đọc : Những ngộ nhận trong lịch sử Trung Hoa và lịch Sử Việt Nam của Vĩnh Như)Nói theo ông Hà V
ăn Thùy : "nền văn minh Trung hoa nói cho cùng cũng chỉ là đứa con lai tốt đẹp của nền văn minh Nông Nghiệp Bách Việt và nền văn minh Du Mục Hán Tộc. (Xin t́m đọc : “T́m lại cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hoá - Hà Văn Thùy")Người Tàu thường tự hào với câu nói : " Chưa
đến Vạn Lư Trường Thành, th́ chưa phải là Hảo Hán. " Xét về mặt nhân bản, Vạn Lư Trường Thành được xây trên 8 triệu mạng người dân Trung Hoa, theo DVD phát hành năm 2001, hỏi thử có cái ǵ mà đáng tự hào. Xét về khía cạch lịch sử, th́ Vạn Lư trường Thành được xây lên để chống Hung Nô xâm chiếm, kẻ chuyên môn đi xâm chiếm lân bang nay lại phải rơi vào cảnh này.Nếu chúng ta
đem so sánh sự nghiệp giữ nước của dân tộc Việt với quá tŕnh người Trung Hoa bị các bộ tộc mà chúng cho là Man ri, mọi rợ đă thống trị họ, th́ người Hán thật chẳng có ǵ mà phải hănh diện. Dưới triều Tống với dân số 120 triệu đă phải triều cống các bộ tộc Liêu (chỉ có 4 triệu dân), và bộ tộc Kim (2 triệu dân). Mông cổ với 2 triệu dân đă chiếm trọn cái lănh thổ Trung Hoa trong ṿng 90 năm và đặt ra nhà Nguyên. Dân Măn chỉ có 1 triệu đă diệt nhà Minh, đô hộ gần 3 thế kỷ (từ 1616-1911) và lập ra nhà Thanh. Triều Măn Thanh đă bắt trên 150 triệu chú "ông trời con" phải ngoan ngoăn cắt tóc, thắt bím, mặt y phục Măn gần 3 thế kỷ. C̣n đối với Việt th́ sao, bọn Hán Tộc đă bỏ hơn 1000 năm để “Hưng Hoa Diệt Di” mà chúng làm vẫn chưa xong. Và nếu đem so với sự nghiệp giữ nước của tổ tiên chúng ta th́ càng không thể nào xứng bằng được. Vào thời Lư , danh tướng Lư thường Kiệt đă đem quân phạt Tống, đời Trần ba lần đại phá quân Nguyên, Anh Hùng Áo Vải Lê Lợi đuổi quân Minh, thâu hồi độc lập. Tiếp đến là vua Quang Trung Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Tổ Tiên chúng ta thật anh dũng và oai hùng như thế, cớ sao bây giờ dân Việt trong cũng như ngoài nước vẫn cứ măi mê bị ru ngủ bởi những phim ảnh, nhạc, văn hóa Tàu, vẫn cứ để cho chúng làm một cuộc xâm lăng không tiếng súng, để rồi nước mất nhà tan mà cũng chưa hay biết ! thật hổ thẹn với tổ tiên. Xin tha thiết kêu gọi các bạn trẻ trong cũng như ngoài nước và toàn thể con dân nước Việt, hăy thức tĩnh và trở về với lịch sử dân tộc, t́m lại tổ tiên, cùng nhau góp sức dẫn đưa dân tộc ra khỏi cơn đại nạn này. Dân tộc chúng ta có tính thích nghi rất cao, uyển chuyển và linh động, bọn Hán Tộc đă cố gắng đồng hóa và đô hộ chúng ta với chính sách thâm độc cả ngàn năm mà vẫn không xong, không lẽ bây giờ chỉ có mấy mươi năm mà chúng làm được !.xưa cũng vậy, mà nay cũng vậy, chúng sẽ không bao giờ làm được, lịch sử c̣n đó, văn hóa vẫn c̣n đó, ngôn ngữ vẫn c̣n kia, bản sắc vẫn không thay đổi, nếu có đi chăng nữa, cũng chỉ là rong rêu che phũ.Dân tộc Việt có tinh thần cởi mở, sẵn sang tiếp nhận và thâu nạp bất cứ luồng tư tưởng ngoại lai nào, mà vẫn giữ vững
được nguồn gốc và bản sắc dân tộc. Phật Giáo du nhập từ Ấn Độ, Tam Giáo từ Trung Hoa, cũng như Thiên Chúa Giáo từ Tây Phương, khi đến Việt Nam đều được đăi lọc, hóa giải những mâu thuẫn và được dung hóa tất cả để tránh những xung khắc với bản sắc văn hóa và Đạo sống Việt. Chỉ c̣n lại những tinh hoa nào phù hợp với tinh thần người Việt mà thôi.
Khi xưa, do lầm lẫn v́ sách vở lịch sử v
ăn hóa nước nhà đă bị bọn xâm lăng Hán Tộc ăn cắp, sửa đổi hoặc viết lại nhằm xóa hết mọi vết tích lịch sử văn hóa của nền văn minh Bách Việt, với một chính sách cai trị thâm độc, dă man và khắc nghiệt như thế chúng ta không làm được ǵ và dễ bị lầm lẫn. Ngày nay, khoa học kỹ thuật đă tiến bộ rất nhiều và qua các cuộc khai quật gần đây đă cho chúng ta thấy, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, các nhà sử học, khảo cổ học, nhân chủng học trên thế giới đang giúp chúng ta chứng ḿnh rằng nền văn minh Bách Việt có trước nền văn minh Trung Hoa ( xin t́m đọc : “Ánh Sáng Mới Dọi vào Một Quá khứ Bị Quên Lăng", do Văn Lang Dịch từ New Light on a Forgotten Past của Tiến Sĩ Wilhem G. Solheim). Thế giới đă giúp chúng ta t́m về cội nguồn tổ tiên của ḍng giống Bách Việt, người chủ nhân đích thực của nền Văn Minh Phương Đông, th́ không c̣n lư do ǵ để cho các vị Giáo Sư vẫn thờ ơ mà tiếp tục giảng dạy cho các thế hệ trẻ những sai lầm tai hại từ hàng thế kỷ đă qua (những tên Thái Thú nham hiểm như Tích Quang, Nhâm Diên và Sĩ Nhiếp là những người đă dạy dân Việt văn hóa, lễ nghĩa, cũng như trồng trọt, cày cấy,…), lịch sử đă sang trang, kính xin quí vị giáo sư khả kính nh́n nhận sự thật này và kính mong quí vị sẽ là những người đi tiên phong trong việc nh́n nhận những lầm lẫn và ngộ nhận trong quá khứ, để làm gương sáng cho thế hệ con em. Tinh thần tự giác này là một điều đáng khen ngợi và kính trọng, chứ không phải là một điều xấu, làm mất thể diện. Với tinh thần trách nhiệm này, càng làm cho thế hệ trẻ thêm kính trọng, chứ không phải chê trách và khinh khi. Người không biết th́ không có tội, nhưng nếu biết mà vẫn không sửa đổi những sai lầm trong quá khứ mới là có tội với tổ tiên, dân tộc, hơn nữa với chính sách thâm độc, tàn ác, đê tiện, muốn đồng hoá dân Việt của bọn Hán Tộc, th́ có ǵ đáng để quí vị giáo sư khả kính phải mặc cảm, tự ti. Có như thế th́ thật là phước đức cho dân tộc và mới cứu nỗi dân tộc chúng ta ra khỏi cơn "Quốc Nạn và Dân Tộc Nạn" này. Và từ đó sẽ là bó đuốc châm ng̣i cho thế hệ trẻ noi gương, tinh thần tự giác, tự kỷ và tự trọng chính là điểm then chốt trong công việc giáo dục và kiện toàn con người hiện nay.Người Nhật th
ăng tiến mau là nhờ họ có tinh thần tự giác và kỷ luật cao, khi làm lỗi họ biết nhận lỗi và dám tự phạt chính ḿnh. Một lỗi lầm có thể làm hại đến bản thân, gia đ́nh hoặc đi xa hơn nữa làm hại đến công ty và cả một dân tộc nữa. Chúng ta vừa được chứng kiến sự việc vừa xảy ra trong thời gian qua, Thị Trường chứng khoáng của một công ty Nhật bị thiệt hại nặng v́ lỗi của một nhân viên, hai người lănh đạo phụ trách nhân viên đă nhận lỗi trước công ty và sau đó từ chức. Đây là điều chúng ta phải nên học hỏi, chứ không thể cải chày, cải cối, đổ lỗi cho người này, người nọ.Không ǵ nguy hại
đến quốc gia dân tộc hơn là sự lầm lẫn về lịch sử văn hoá. Trong chiến tranh sai lầm về quân sự sẽ mang đến sự bại trận, trong chính trị sai lầm sẽ đưa đến mất chủ quyền, nhưng sai lầm về lịch sử văn hoá dân tộc sẽ đưa đến chỗ diệt vong.Dân tộc Việt của chúng ta
đang đứng trước hai cơn đại nạn, đó là cơn "Quốc Gia Nạn và Dân Tộc Nạn", quốc gia nạn là do ĐCSVN đă bán đứng tổ tiên dân tộc, chạy theo làm tay sai cho ngoại bang, nhận giặc làm cha, dâng đất dâng biển cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, để cho bọn Hán Tộc tha hồ thao túng ngay trên đất nước thương yêu của chúng ta, giày ṿ dân tộc, làm nhục quốc thể, làm nhục ḍng giống Tiên Rồng. Trên một ngàn năm đô hộ Việt Nam, bọn Hán Tộc tuy chiếm được đất đai, cướp đoạt được tài nguyên và của cải, Hán hoá được đầu óc của đa số các nhà khoa bản, nhưng chúng không tẩy xoá được tâm Việt, hồn Việt của đa số người nông dân Việt sống sau lũy tre làng, nên dân Việt với ư chí giành độc lập vững mạnh, luôn kiên cường quật khởi vùng lên