DIỄN ĐÀN NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA

Ngừoi Quốc Gia là những người đặt tổ quốc lên bản vị tối cao

Tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v..

Trích VN Tự Điển của Đào Duy Anh

Nationalist Vietnamese Forum

Home

Kinh Tế Mới.

Phước An.

Có lẽ mẹ con chúng tôi là những người đi Vùng Kinh Tế Mới trong những đợt đầu tiên, và cũng có thể chúng tôi là những người đi Vùng Kinh Tế Mới trong các đợt sau cùng.

Vào những ngày cuối cùng của Việt Nam C ộng Ḥa, ba mẹ và bảy anh em chúng tôi, lớn nhất là tôi mười bốn tuổi và bé nhất th́ chưa đầy một tuổi, bồng bế, cột dính vào nhau ḥa theo đoàn người xe hỗn loạn trên quốc lộ 1 chạy vào Sài G̣n. Đến Cam Ranh, giữa rừng người chen lấn, chúng tôi leo lên được một tầu nhỏ của Nhật trong tiếng kêu la, khóc thét, trong tiếng súng gần của lính VNCH, tiếng súng xa của bộ đội Cộng Sản. Tầu nầy chuyển chúng tôi ra Hạm đội 7. Vào đến Sài G̣n nhưng không được cập bến nên chuyển hướng ra đảo Phú Quốc. Từ đảo ba tôi liên lạc xin vào nhận nhiệm sở Mới ở Sài G̣n qua đường Cần Thơ.

Ba tôi loay hoay chạy quanh giữa một Sài G̣n hỗn loạn. Cho đến lúc Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, th́ gia đ́nh chúng tôi lạc mất nhau. Phải mấy ngày sau chúng tôi mới gặp lại nhau. Chúng tôi vào tá túc nhà của một người đấ chạy ra nước ngoài trong khu gia binh. Một thời gian sau, ba tôi bị đi tù " Cải Tạo " biệt tích. Mẹ và bảy anh em chúng tôi bơ vơ giữa Sài G̣n xa lạ với hai bàn tay trắng, không có một đồng bạc hay một miếng " mẽ " vàng, theo cách nói của mẹ tôi. Chúng tôi phải đi xin ăn, tôi mắc cỡ nên đi cách xa các em một quấng, đợi các em tôi xin xong th́ đưa các em về. Trong thời gian nầy, mẹ tôi rất hoang mang lo sợ, gầy xọc hẳn đi. Mẹ con chúng tôi mang đầy ghẻ chóc " bộ đội ", sống không bữa no, chẳng biết làm ǵ, không tiền, không biết đi đâu về đâu. Tối đến, mấy mẹ con ôm nhau khóc sướt mướt. Đă vậy vào một buổi sáng, một đoàn bộ đội tiến đến tiếp thu nhà, đuổi mấy mẹ con ra đường. Chúng tôi sống lang thang, đứa xin ăn, đứa nhận bánh bán trả tiền sau.

Khi chính quyền Cộng Sản lập danh sách đi Kinh Tế Mới trong khu gia binh. Chúng tôi là những người thuộc diện đi đầu tiên bởi v́ chúng tôi không nhà, không hộ khẩu. Nghe Cán Bộ nói cho nhà, cho đất lại c̣n cấp sáu tháng gạo nữa. V́ vậy chúng tôi có lẽ là nhữngngười đi Vùng Kinh Tế Mới trong những đợt đầu tiên của cuộc đời mới.

Ngày lên đường, một hàng xe dài chờ mọi người chất đồ đạc lên xe. Ai cũng tất bật, kẻ khiên người vác, nào là bàn ghế, giường tủ, chén bát và hàng hàng trăm thứ lỉnh kỉnh. Riêng mấy mẹ con chúng tôi chỉ vài túi vải đựng áo quần và đôi cái nồi đen đúa. Đặc biệt là có tấm ván ép mỏng bề mặt bằng khoảng một giường nhỏ, của ai vất bên đường, mẹ tôi nhặt đem theo để làm giường ngũ.

Đoàn xe lên đến B́nh Long, rời đường nhựa len vào dưới tàng cây rậm rạp của rừng cao su bạt ngàn. Qua khỏi rừng cao su đến cánh rừng tre nứa âm u. Để mấy chục gia đ́nh xuống giữa mấy dảy nhà nhỏ lợp tôn, chung quanh không có vách, rồi đoàn xe lăn bánh chạy mất hút.

Chúng tôi được cấp dao chặt cây, cuốc cào và mấy chục kư gạo. Nhận được nhà, mẹ con đem áo quần, nồi niêu vào, đặt tấm ván ép giữa nhà. Ăn xong bữa cơm muối th́ trời sụp tối, sương mù bao quanh. Mấy mẹ con chùm chăn nằm sắp hàng trên tấm ván, ngũ đêm đầu tiên trên vùng Kinh Tế Mới. Càng về khuya càng nhiều sương lạnh bao phủ. Tiếng côn trùng rỉ rả, tiếng Nai, Mang kêu thất thanh trong rừng, lạo xạo tiếng thú ăn đêm quanh nhà, tiếng nghiến rít của rừng tre ǵa kẻn kẹt. Chúng tôi lo sợ, chập chờn ngũ trong tiếng th́ thào của đêm đen. Sáng ra, người mấy mẹ con loang lổ ướt lạnh, phần v́ sương đêm, phần v́ các em nhỏ của tôi đái dầm chảy dài trên tấm ván ép.

Những ngày sau, mẹ và tôi dùng cuốc, dao để phát quang những đám cây khoai Mài, khoai Nần, cỏ dại loang lổ hố quanh nhà. Chúng tôi phát hiện nhiều rào que thấp cắm chung quanh một cái cọc, có tấm ván nhỏ vẽ h́nh sọ người với một chữ " Ḿn " lẫn lộn trong cây cỏ dại. Có nhiều nơi chỉ c̣n có cái que nhỏ, cắm bên cạnh một khối thép hoen rỉ nữa chỉm nữa nổi. Mẹ tôi vội kêu tất cả anh em chúng tôi lại, cấm chúng tôi bước ra các đám cây cỏ, chỉ được đi trên những đường ṃn nhỏ. Những ngày kế tiếp, mấy mẹ con ở trong nhà không dám bước ra ngoài. Mẹ tôi ngồi hàng giờ, ngày qua ngày nh́n sâu vào rừng không nói năng, đôi lúc nước mắt mẹ chảy dài. Anh em chúng tôi ít cười nói ồn ào v́ sợ mẹ la, đôi lúc chúng tôi cũng khóc theo mẹ.

Vài người gan dạ vào rừng hái Măng rau về ăn, rồi càng lúc càng đông người đi. Chúng tôi th́ chỉ cơm canh muối, rồi cũng không chịu nổi, mẹ gởi tôi và em gái kế cho một người nhà bên cạnh theo họ đi lấy Măng hái rau. Sáng sớm, tôi cầm dao, em gái tôi cầm một cái bao tời nhỏ, đi theo người đàn ông hàng xóm vào rừng. Trong rừng có rất nhiều măng, mọc giữa những bụi tre, Lồ-ô to lớn san sát che kín mặt trời. Có những cây tre cao vút, lại có nhiều cây nghiêng ngấ, ngang dọc la đà đủ các tầm cao thấp. Nhiều cây nằm dài trên mặt đất, cho nên rất khó đi đứng và khó mà lấy được Măng. Chúng tôi chui ḅ vào những bụi tre rậm rạp, cố len lỏi để gai tre khỏi cào vào tay, vào mặt, bẻ những búp Măng to dài. Có lẽ người hàng xóm và anh em tôi qúa mấi mê t́m Măng, nên đấ thất lạc nhau. Hai anh em tôi sợ qúa, kêu la vang rừng nhưng không có ai trả lời. Chúng tôi vừa đi vừa khóc, phần sợ thú dữ phần sợ trời sắp tối. Tôi quyết định bỏ bớt Măng lại cho nhẹ và đi như chạy về hướng ngược lại của mặt trời lặn, v́ buổi sáng chúng tôi vào rừng với mặt trời mọc sau lưng. Hai anh em vừa chạy vừa khóc, chạy riết không biết bao lâu. Trời nhá nhem tối, th́ chúng tôi nghe tiếng mẹ tôi xa xa. Chúng tôi chạy đến gần, thấy mẹ đứng sau nhà, day mặt lên trời hướng về cánh rừng, khóc la, kêu hú như điên dại. Gặp chúng tôi, mẹ vừa đánh hai anh em vừa khóc cười nước mắt dầm dề.

Tối đó chúng tôi được ăn một bữa cơm ngon, gồm có canh Măng và Măng kho. Mẹ gầy nhỏ, tóc tai rối bời, ngồi suốt đêm nh́n chúng tôi ngũ. Sáng ra khi mặt trời chưa mọc, ánh sáng trộn lẫn sương mai. Mẹ thức chúng tôi dậy, tôi thấy áo quần và gạo đấ được chia đều ra từng bao nhỏ, những cái nồi cũng đấ được bỏ vào bao cẫn thận. Mẹ phân công tôi dắt ba em, hai trai một gái đi trước. C̣n mẹ th́ dắt ba em gái nhỏ đi sau, cách chúng tôi một quấng độ hai ba trăm mét. Mẹ dặn nếu có ai hỏi th́ bảo rằng về thăm ngoại, và cho một em chạy lui báo cho mẹ biết, để mẹ trốn vào ven rừng hai bên đường.

Hồi hộp, sợ hải chúng tôi bước những bước nhanh trên thấm lá ẫm ướt. Nhiều thú nhỏ ăn đêm nh́n chúng tôi một thoáng, rồi lũi nhanh vào bóng tối. Mỗi lần mệt, chúng tôi trốn vào những bụi cây để nghỉ. Chúng tôi nghỉ rất nhiều lần bởi v́ phải thay phiên nhau cơng các em nhỏ. Với nhiều lần nghỉ như vậy, chúng tôi vượt qua rừng dầy, rừng thưa và rừng cao su. Thỉnh thoấng vài người bắt gặp chúng tôi, họ ngạc nhiên khi thấy bầy trẻ chúng tôi nhớn nhác đi như chạy. Nhưng họ cũng không kêu gọi hay hỏi han ǵ. Chúng tôi ra đến đường lộ trời vừa tối. Một xe tải cho qúa giang về thị trấn, đêm đó chúng tôi ngũ ở bến xe. Trời sáng, mẹ bán ít gạo đón xe về Sài G̣n. Lang thang ở Sài G̣n mấy ngày, mẹ tôi gặp người quen cho biết cả ông bà nội, ông bà ngoại đều đấ về mua đất ở hai làng quê nằm giữa Cam Ranh và Nha Trang để làm nông.

Mẹ xin một xe khách trả ít tiền để về Cam Ranh. Trên xe chỉ có mẹ tôi là được ngồi trên ghế bồng em gái út, c̣n chúng tôi th́ ngồi dưới sàn xe. Đứa đàng trước, đứa đàng sau, ngồi lẫn lộn với hàng hóa, vịt gà rồi ngũ gà ngũ gật. Đến Cam Ranh, chúng tôi thức giấc lục tục xuống xe. Khi xe đấ chạy xa, mẹ thấy thiếu mất một đứa em trai. Mẹ khóc thét lên, rồi bỏ chúng tôi ngơ ngác chạy về hướng xe đấ khuất, vừa chạy vừa ṿ đầu bức áo khóc la thảm thiết. Chúng tôi tay dắt nhau, tay xách đồ, bồng bế lếch thếch chạy theo mẹ và cũng đua nhau khóc la thảm thiết không kém. Trời xập tối không một bóng người, không c̣n thấy dáng mẹ, chúng tôi chạy mệt, khóc khản tiếng đành ngồi bệt bên vệ đường. Một lúc sau mẹ quay lại không nói năng, mắt đỏ hoe bồng bé út dắt chúng tôi bỏ đường quốc lộ đi về hướng ngọn núi xa mờ. Vượt qua mười mấy cây số đường đất dưới trời đêm, mẹ con t́m đến được nhà ông bà ngoại.

Ông bà ngoại tôi có tới mười sáu người con, mẹ tôi là con gái đầu và rất nhiều cậu d́ nhỏ tuổi hơn cả chúng tôi. Có điều đặc biệt là cả mười sáu người con đều không mất người nào. Gặp lại ông bà ngoại cùng các cậu d́, mẹ tôi khóc ̣a kể lể về chuyện lạc mất một đứa con trong khi về đây và cứ lập đi lập lại rằng sợ khi ba tôi về sẽ trách mẹ. Những ngày kế, mẹ tôi khóc ngày khóc đêm như điên dại, hết nắm tay người nầy, lại đấm lưng người khác trong nhà van xin hấy đi t́m giùm em tôi. Ông bà ngoại cùng các cậu d́ rất là khổ sở, v́ biết bao nhiêu là mối lo. Nào là vấn đề hộ khẩu, công an, du kích hết ŕnh ṃ, lại hạch hỏi tạm trú tạm vắng, nào là không biết lấy ǵ để ăn. Nhà ông bà ngoại đấ đông, nay lại thêm bảy tám mẹ con chúng tôi nữa. Cơm gạo đối với chúng tôi hầu như chỉ c̣n thấy trong cơn mơ, những lúc ngũ. Chúng tôi ăn hết Sắn khoai trong nhà, ăn ra Sắn khoai ngoài vườn. Ăn cả rễ lá khoai Sắn, rồi ăn luôn rễ chuối, thân cây chuối. Món thường ăn nhất là canh lá khoai Lang cắt nhỏ ḥa với bột Sắn. Ông bà ngoại buồn lo, đâm gắt gỏng khi thấy mẹ tôi khóc suốt ngày suốt đêm. C̣n các cậu d́ thấy mẹ tôi đâu th́ tránh đó, v́ sợ mẹ tôi bắt đi t́m kiếm em tôi. Nếu mà nắm được ai, mẹ khóc lóc van xin đi kiếm em tôi, người đó cứ đi một ṿng ra khỏi nhà, rồi về nói là không t́m thấy.

Trong nhà ông bà ngoại lúc đó, có một ông dượng chồng của d́ tôi, là lính Không Quân VNCH rất cao lớn, cũng về tá túc ở đây. Dượng thấy mẹ tôi ngày nào cũng khóc lóc thẩn thờ, bèn khăn gói áo quần, khoai Sắn làm lương thực, dắt xe đạp đi kiếm em tôi. Dượng đạp xe theo quốc lộ 1 dọ hỏi dọc đường. Vượt mấy chục cây số ra tới Nha Trang, mà vẫn không có tin tức ǵ về đứa em thất lạc. Dượng la cà ở bến xe Nha Trang th́ có người cho hay rằng, trước đây có thấy một bé trai độ bảy tám tuổi ngũ quên trên xe đ̣, khóc dữ lắm. Chủ xe bèn giao cho một đoàn bộ đội đang trên đường đi, nghe đâu đóng quân ở Tuy Ḥa chuẩn bị ra Bắc. Biết đúng là cháu ḿnh, dượng tức tốc đạp xe ra Tuy Ḥa cách Nha Trang mấy chục cây số. đến Tuy Ḥa, lần t́m được chổ bộ đội đóng quân, dượng vào tŕnh bày hoàn cảnh của mẹ con chúng tôi. Bộ đội xác nhận là có nuôi một đứa trẻ thất lạc và cho em tôi ra nhận diện. Sau khi em tôi được hỏi và nhận đúng là người nhà th́ bộ đội cho dượng đem em về. Sau mấy ngày t́m kiếm, dượng và em tôi về đến nhà khi mấy mẹ con đang mót khoai ngoài vườn. Nghe tin đấ t́m lại được em về, mẹ tung rỗ rễ khoai chạy băng băng như cắt qua các luống đất gập ghềnh, vừa chạy lại vừa khóc.

Từ khi t́m được em tôi mẹ hết khóc, cả nhà ai cũng mừng. Nhưng chỉ được một hôm cả nhà lại buồn lo cho miếng ăn hàng ngày. Mẹ hết suy lại tính, không muốn dành ăn của các em nhỏ, nên mẹ quyết định chúng tôi sẽ ra đi, dù rằng không biết đi đâu. Lần lừa mấi rồi cũng phải khăn áo ra đi. Ngày chia tay, ông bà ngoại cùng các cậu d́ cho mẹ con chúng một bịch khoai khô, kèm theo thật nhiều nước mắt.

Ra khỏi nhà ông bà ngoại, chúng tôi lếch thếch cùng mẹ dọc theo đường đất bụi bặm. Trời nắng gắt, mồ hôi nhớt nhác, ghẻ lở ngứa ngáy, gấi đến chảy máu đỏ dính loang lổ áo quần như là có hoa. Chân bỏng rát, đầu th́ ghẻ chí ngứa ran, các em gái tôi phải cạo đầu cho hết chí. Chúng tôi ngồi nghỉ bên vệ đường như kẻ ăn xin. Hết mệt lại đi, chúng tôi t́m về được nhà ông bà nội trời vừa tối. Dưới ngọn đèn dầu tù mù, mẹ khóc lóc kể lể trước vẻ mặt cố dửng dưng của ông bà nội. C̣n cô tôi th́ tránh xa chúng tôi, ngồi khuất mờ mờ trên giường, h́nh như sợ đám ghẻ trên người chúng tôi vậy. Tối đó mấy mẹ con ngũ dưới đất một giấc say sưa v́ mệt. Hôm sau chúng tôi được ăn một bữa no, ông bà nội cho mẹ con ít tiền. Ông nói, ông không nuôi nổi thân ông làm sao nuôi một mẹ bảy con chúng tôi được. Ông bà nội tôi có sáu người con, bốn trai hai gái, ba tôi là con trai đầu. Ba tôi và chú kế là sï quan An Ninh Quân Đội VNCH, c̣n hai chú sau là Cảnh Sát viên. Có điều lạ là bốn người con trai của ông bà nội tôi, không ai có một căn nhà riêng cả. Mẹ tôi nhiều lần nhắc ba tôi kiếm một căn nhà để ở và cũng là để dành cho con cái, nhưng ba tôi luôn phất tay nói " đời c̣n dài ". Hai chú nhỏ sau là cảnh sát nhưng làm việc đâu ở Dakto, Dakbek ǵ đó. Ba tôi và chú kế th́ hết việc trong sở, lại lo điều tra chống tham nhũng. Chống tham nhũng được ǵ đâu không biết, chứ mỗi lần moi ra một vụ là mỗi lần gia đ́nh tôi lại theo ba tôi bị chuyên đi Tỉnh khác, Vùng khác. Có lần c̣n ở tù, có lần sém chết phải tự xin thuyên chuyển đi nơi khác. V́ vậy gia đ́nh tôi hết ở trại gia binh, khu sï quan hay ở hẳn trong sở, nhưng nhiều nhất là ở nhà thuê. Ba năm cuối trước ngày 30 tháng 4, ba tôi bị chuyển về Ninh Ḥa nhưng ở nhà thuê gần một chợ quê.

Từ gĩa nhà ông bà nội, mẹ con chúng tôi ra đi mà chẳng biết đi đâu. Lang thang mấy ngày, mẹ con về đến nhà ông bà ngoại. Lần nầy gặp lại nhau ai cũng khóc, nhưng ít nước mắt hơn. Được ít hôm ông bà ngoại lại cho khoai Sắn khô, để làm lương thực đi đường. Và lần chia tay ra đi nầy, mẹ con chúng tôi biết rằng sẽ khó quay trở lại.

Mẹ tôi quyết định trở về vùng Kinh Tế Mới B́nh Long. Chúng tôi đi ra ga xe lửa, vô tới Sài G̣n mẹ đổi ư. Chúng tôi không đi đâu chỉ ở trong sân ga, rồi lên tầu về Nha Trang. Tầu đến Nha Trang không có nơi để về, nên lại đi vô Sài G̣n. Cứ thế, hết đón tầu đi vô rồi lại đón tầu đi ra. Chúng tôi như những người sống trên tầu vậy. Một hai lần đầu nhân viên trên tầu c̣n hỏi vé đuổi xuống. Sau thấy hoàn cảnh của mẹ con chúng tôi, lại thấy mẹ con ngồi ĺ dưới sàn tầu, đói rách ghẻ lở nên họ lơ đi. Thỉnh thoảng có người cho đồ ăn, có người cho tiền. Không như các em tôi ôm nhau ngũ trong tiếng sập śnh như bầy chó con. Tôi ngồi cách xa mẹ và các em làm như một người xa lạ. Nhưng nh́n cách ăn mặc, bộ dạng tôi ai cũng biết tôi ở trong đám ăn xin đó.

Có một lần mẹ con xuống ga Tháp Chàm ở Phan Rang, đi vào trong thành phố xin ăn. Đi suốt ngày không được ǵ, các em tôi đói lả khóc rinh rích. Bụng tôi đau âm ỉ từng cơn, bao tử lép kẹp như dính vào xương. Nhưng tôi vẫn phải cơng em trên lưng, chân ê ẫm bỏng rát, chỉ mong được nằm lăn ra đất. Trời đêm nhiều sao, mấy mẹ con nằm trên một sạp gỗ trong chợ vắng vẻ. Các em tôi đói, khóc mệt, ngũ vùi miệng nhai nhóp nhép. Kê một cục gạch trên đầu, nghe tiếng lạch bạch của một mái tôn, tiếng ồng ộc trong bụng, mấy ngụm nước lạnh không làm no, tôi không ngũ được. Một người đàn ông trung niên áo quần lôi thôi lếch thếch, ṭ ṃ nh́n mấy mẹ con rồi tiến đến hỏi chuyện mẹ tôi. Nghe mẹ kể hoàn cảnh, ông ta bảo mẹ thức anh em tôi dậy, theo ông đi đến một gánh cháo gà. Ông ta mua cho mỗi người một tô cháo trắng. Tuy không có thịt gà, nhưng mùi thịt và mỡ gà làm chúng tôi không thể ăn chậm được, vèo một cái là hết sạch. Mẹ tôi th́ vẫn ăn cái cách chậm rấi của mẹ, thấy các em ăn xong mẹ chia cho các em mỗi đứa một ít. Trả tiền xong, người đàn ông nọ dắt mẹ con tôi về lại sạp chợ ban nấy. Ông ta nói mẹ theo ông vào trong nầy chút xíu để ông ta cho tiền. Vào sâu giữa chợ hoang vắng mù mờ, tôi thấy ông ta tay ôm, tay cầm lấy tay mẹ dằn co. Tôi vội chạy vào, đến gần tôi nghe tiếng mẹ tôi khóc năn nỉ, lưng gập lại giật tay ra, miệng nói " không! không! xin ông ". C̣n ông ta nói rít nhỏ trong cổ họng " trả tiền cháo lại ". Tôi chạy đến đứng giữa nh́n thẳng vào mặt ông ta, sợ qúa hai tay hai chân tôi cứ run lên bần bật không nói được ǵ. Ông ta cũng không nói, nh́n tôi trừng trừng như đánh gía một cái ǵ đó. Mẹ tôi nói trong nước mắt " Cám ơn bác đấ cho ăn cháo đi con ". Tôi lí nhí cám ơn. Rồi hai mẹ con đi như chạy về thức các em dậy, chúng tôi dắt díu chạy vội ra ga xe lửa. Tim đập th́nh thịch tôi quay lại, vẫn thấy bóng đen của người đàn ông nh́n theo chúng tôi.

Không thể cứ lang thang hoài được. Mẹ đem chúng tôi về cái làng nơi ở trước ngày chạy giặc. Ở đây hầu như mọi người đều biết mặt nhau, nên nhiều người vừa ngạc nhiên vừa ṭ ṃ nh́n bà vợ sï quan và đoàn con tàn tạ đi qua đi lại nơi ở cũ. Nuốt tủi nhục, mẹ con đi vào căn nhà thuê thủa nào, gặp một người đàn bà lạ từ trong nhà đi ra. Bà ta cho biết là đang mướn căn nhà nầy. Nh́n vào trong, tôi thấy đôi ba vật dụng của nhà tôi xưa kia. Mẹ tôi muốn xin lại ít vật dụng, nhưng bà ta lắc đầu không biết chúng tôi là ai rồi đóng cửa lại. Chúng tôi sang nhà bà cô họ của ba tôi xin ở nhờ vài hôm, nhưng vợ chồng con cái bà cô họ không cho. Năn nỉ thật lâu, họ chỉ cho ở trước hiên nhà. Tất cả đồ đạc của nhà tôi trước kia hầu như là đấ được khuân về đây. Mẹ xin họ thương t́nh cho lại ít đồ đạt để bán nuôi con, nhưng hai vợ chồng lắc đầu nói ǵ tôi không muốn nhớ. Nh́n vào trong nhà họ, tôi thấy hàng giầy dép của ba mẹ, của chúng tôi sắp thẳng tắp, trong khi chúng tôi đi chân đất. Mẹ xin cô dượng cho mỗi đứa chúng tôi một đôi nhưng họ cũng không cho. Trước đây cô dượng vẫn cậy quyền của ba tôi, vừa được ba tôi giúp thật nhiều, đổi đời ḷng người cũng đổi thay. Mẹ giận qúa không thèm ở nhờ trước hiên nhà họ, đem chúng tôi ra ngũ ngoài các sạp chợ. Chợ làng nầy nhóm vào mờ mờ sáng và tan vào lúc một hai ǵơ chiều. Lúc đó chợ vắng, chỉ c̣n người quét chợ, đám chó hoang và chúng tôi. Tất cả các sạp ở chợ nầy, chỉ có mái lợp bằng tôn hoặc bằng Tranh. Riêng ở giữa chợ có một cái Ki-ôt bán hàng vuông vít mỗi bề ba mét là có vách tường, không cửa sổ, chỉ độc một cái cửa nhỏ ra vào. Người chủ không dùng tới, thấy mẹ con tôi đêm đêm ngũ trống trải nên cho mấy mẹ con vào ở nhờ.

Nơi ở đấ có, nhưng lấy ǵ để sống. Mẹ tôi đi mua chịu chuối xanh về giấu chín đem bán, hoặc luộc lên cắt thành từng chùm ba hoặc bốn qủa mà bán. Rồi mẹ lại c̣n mua thêm mía cắt thành từng khúc ngắn bán cho con nít. Thật là kỳ lạ, đây là thôn quê vậy mà bán rất chạy. Sau buổi chợ, mẹ quay lại nghề mà mười mấy năm trước khi lấy ba tôi, là đi đến các tiệm may nhận may thuê. Tôi và các em đi lượm mót cũi ở trong một nghĩa địa gần đó để nấu ăn. Tối đến trên chiếc chiếu lớn lấm tấm cáu và máu, chúng tôi nằm ngũ ngang dọc. Cánh cửa luôn mở rộng v́ hơi người chật chội, v́ mùi chuối ủ rơm bốc lên hầm hập, mùi máu ghẻ tanh tanh, mùi nước tiêu đái dầm khai nồng của các em nhỏ, mùi cá thịt. Tôi không ngũ được, v́ vậy tôi hay ôm tấm chăn ra ngũ ngoài các sạp gỗ. Trời mờ sáng, khi bắt đầu họp chợ là tôi lẩn ra nghĩa địa. Chờ cho đến khi chợ tan tôi mới về, v́ tôi sợ những người đi chợ, sợ đám trẻ con sàng sàng ngang tuổi anh em chúng tôi, ṭ ṃ nh́n vào đám rách rưới bên trong Ki-ốt. Nhất là sợ những thằng bạn, những đứa con gái học cùng lớp với tôi trước đây. Thoáng một cái tôi không c̣n là tôi.

Mẹ thấy tôi cứ ngoài nghĩa địa, ngoài rừng Đước bờ sông, bắt ốc, hái củi trốn tránh người quen. Nên mới nhờ hai vợ chồng d́ dượng em mẹ tôi, cho tôi theo làm than trên núi. Kể từ đó, tôi mới biết thế nào là lao động vất vả để kiếm miếng ăn. D́ dượng và tôi ở một cái cḥi trên núi. Suốt ngày cưa chặt cây củi, khiên vác, đào ḷ đốt than, gánh xuống núi bán. Cả người, tay chân tôi lúc nào cũng ê ẫm. Không ngày nào là không có thương tích, nhiều khi vết thương tay làm độc cương mủ cầm chén cơm, đôi đủa không nổi.

Mấy tháng sau, mẹ nhắn tôi về để đi Kinh Tế Mới. Dân địa phương ở đây đấ mấy đợt đi Kinh Tế Mới. Chính quyền thôn xấ đấ nhiều lần động viên, đe dọa nhiều tháng trời nhưng mẹ tôi cứ ĺ ra không chịu đi. Họ phải đưa mẹ và một số người ngoan cố lên xem thử vùng Kinh Tế Mới. Thấy vùng nầy gần, người đông cũng không có đạn ḿn thời chiến tranh c̣n xót lại, nên mẹ và mười mấy gia đ́nh cuối cùng chấp nhận lên vùng Kinh Tế Mới nầy.

Một con đường đất mới ủi, chui sâu vào rừng rậm, là con đường bộ đội dùng để khai thác và chuyên chở gỗ về đồng bằng. Phái đoàn cán bộ bỏ mười mấy gia đ́nh chúng tôi xuống giữa đường rừng. Họ đo dọc theo con đường, mỗi quấng 25 mét và chỉ vào rừng ǵa âm u nói " đây là đất thổ cư, đất trồng trọt hoa màu của đồng bào ". Rồi họ lên xe đi về. Mọi người chỉ c̣n biết lắc đầu kêu trời.

Hồi trước đi Kinh Tế Mới ở B́nh Long, chúng tôi c̣n được cấp dao rựa, cào cuốc, c̣n lần nầy họ chỉ phát gạo tùy theo đầu người mỗi tháng. Không biết mẹ tôi mua lại của ai được một cái rựa cùn. Hai mẹ con thay phiên nhau cực lực phát quang rừng ǵa, mà phải làm thật nhanh cho kịp với bà con hàng xóm để cùng đốt rẩy một lần. Nói sao cho siết nổi cực nhọc của hai mẹ con chân tay yếu ớt, cả đời chưa bao ǵơ biết khai hoang phát rẩy. Mười lăm ngày với nhiều mồ hôi nước mắt trộn lẫn máu mủ, tay chân pḥng dộp. Sau khi ngọn lửa ngút trời thêu rụi rừng cây đổ nghiêng đổ ngấ, chúng tôi có một mảnh đất. Mảnh đất phủ một màu tro than, ngoằn nghèo rể dây, ngổn ngang cây đá, cùng những thân cây to đen không cháy hết.

Tôi vẫn nhớ như in ngày mùa hè hôm đó. Giữa nắng trời gay gắt, mẹ và tôi chặt cây, gom củi chân bước ngập tro than hầm nóng, mặt mủi da thịt ướp dầy tro đen. Gần chiều bỗngg một cơn mưa dông bất thần, những hạt mưa rơi lụp bụp trên mặt thấm tro. Chung quanh bốc lên khói hơi của đất hoang, của rừng ǵa, của tro than nồng nồng bịnh hoạn. Mẹ và tôi vội chạy về với các em đang ở nhà một người lên đây trước, cho chúng tôi ngũ nhờ trong khi khai hoang làm nhà. Tối đó, mẹ tôi sốt nặng phải đem ra trạm xá. Trạm xá Kinh Tế Mới chỉ là một cái cḥi lá vách ván, vài ba lọ thuốc đếm được, một cái giường và một bà mụ ǵa được gọi là y tá. Sau khi chích thuốc và cho mẹ tôi uống thuốc, bà y tá nói mẹ tôi bị sốt rét vài ngày sẽ khỏi, rồi bà ta đi về nhà. Chúng ngồi ngũ quanh mẹ trên giường. Người mẹ hết nóng lại lạnh, nằm co quắp run cầm cập suốt đêm. Đó là h́nh ảnh cuối cùng mà tôi được nh́n thấy mẹ c̣n sống. Không như lời bà y tá đoán, mấy ngày sau bịnh t́nh mẹ tôi càng nặng thêm phải chuyển lên bịnh viện Huyện. Tôi phải ở nhà gĩư các em nhỏ, đứa em gái kế tôi đi theo chăm sóc mẹ. Ở bịnh viện Huyện mấy ngày, mẹ tôi được chuyển lên bịnh viện Tỉnh. Hai ngày sau, mẹ tôi cô đơn chết trong khi em gái tôi chạy ra ngoài pha nước sôi. Tính ra mẹ tôi đi Kinh Tế Mới lần nầy được một tháng.

Được tin, ông bà nội ngoại vội mướn xe chở xác mẹ tôi về lo đám tang, chôn cất vùng nhà ônh bà ngoại, v́ vùng Kinh Tế Mới ở đây chưa có nghĩa địa. Chúng tôi nheo nhóc về nhà ông bà ngoại, khóc lóc, bu quanh xác mẹ. đám tang mẹ tôi không có ǵ cho người ta ăn uống. Trái lại bà con cḥm xóm của ông bà ngoại người cho khoai, người cho Sắn. Không có ḥm, người ta cho mẹ tôi một tấm ván ép mỏng khoảng một phân, cưa ra đóng thành ḥm.

Ngày đưa xác mẹ ra nghĩa trang, chúng tôi đứa nào đứa nấy khăn tang trắng ố vàng dài qúa mông. Người ta khiêng ḥm trên vai đi trên con đường gập ghềnh, quanh co ra nghĩa địa nằm cao trên một đồi núi cỏ cây lấp sấp cách xa mấy cây số. Chúng tôi đứa đàng trước, đứa đàng sau, có đứa đi cả dưới ḥm của mẹ. Xác mẹ được đem chôn vào ḷng đất lẫn hàng ngàn tiếng khóc, hàng ngàn nước mắt của anh em chúng tôi và cũng chôn luôn sự an toàn được mẹ chở che. Ngay lúc mộ mẹ vừa đắp xong, th́ sự cô đơn, nổi lo sợ bất an bắt đầu lấng vấng chung quanh hay đâu đó trong ḷng tôi.

Lo xong cho người chết, nội ngoại hai bên họp bàn lo cho người sống là chúng tôi. Nội ngoại bàn chia anh em chúng tôi ra làm hai, một nữa sống với nội, một nữa sống với ngoại. Hỏi ư tôi thế nào, tôi xin nội ngoại hai bên nuôi các em tôi, c̣n tôi xin được lên lại vùng đất Kinh Tế Mới. Nơi mảnh đất mà mẹ tôi đấ bỏ mạng sống. Các em đều đ̣i đi theo tôi, cuối cùng anh em tôi đành phải chia ba.

Tôi cùng hai em, một trai một gái lên lại vùng Kinh Tế Mới. Chúng tôi vào rừng đào cũ, hái rau để ăn. Vào rừng chặt cây, chặt cũi. Vào rừng cắt Tranh để dành làm nhà. Nói là nhà chứ thật ra ngày ông nội, ông ngoại lên giúp chúng dựng nhà mấy ngày, chỉ dựng được cái cḥi Tranh cao vuông vứt bốn mét xoay lưng về hướng núi rừng. Và nhà chỉ có một vách mặt trước, v́ hết Tranh. Xong việc hai ông nội ngoại ra về.

Đêm đầu tiên trong căn nhà đầu tiên của anh em mồ côi chúng tôi, ba anh em tôi ngũ không được yên giấc. Trời tối dầy đặc một màu đen. Mưa không buồn nhưng mưa ầm nước ào, trỉu nặng mái Tranh như muốn đè bẹp căn nhà. Gío hú, gío thốc từ sau hướng không có vách che, mang theo mưa bay vào làm tắt đống lửa giữa nhà. Ba anh em ôm tấm nilon, chăn mền chạy ra đứng trước mái hiên ngũ gật gà. Như trêu ngươi, gío trở chiều, anh em lại vội khăn gói chạy vào trong nhà. Và cứ chạy ra hàng hiên ngũ một chốc, lại chạy vào nhà mơ một lát. Vài lần như vậy cả ba anh em đều nữa ướt nữa khô.

Đến nữa đêm, mưa tạnh gío êm. Tiếng côn trùng chui ra từ sủng đất râm ran. Đom đóm xanh xao vật vờ quanh quẩn. Xa xa ngọn núi sau nhà, ẩn hiện những cặp mắt lúc xanh biếc, lúc rực đỏ. Tiếng con ǵ bay ngang quyệt phải mái Tranh, luống cuống một chốc rồi bay mất hút vào bóng đêm. Hai em lăn ra ngũ vùi, tôi bó gối nh́n vào rừng đêm mịt mùng, lo lắng sợ hấi. Nổi sợ lúc mơ hồ, lúc hiển hiện bao quanh. Suy nghï mung lung, bổng nhiên thấy thời gian, không gian như lặp lại. Cũng tiếng Nai Mang thất thanh trong đêm tối, tiếng côn trùng ỉ ôi, tiếng sột soạt thú rừng kiếm ăn, tiếng tranh giành sự sống của đêm nào trên vùng Kinh Tế Mới B́nh Long. Nhưng cuộc sống và con người th́ đấ đổi thay.

Qua mấy mùa mưa nắng. Chúng tôi kiếm ăn như thú rừng, chân tay mọc thêm u nần. Dân số của vùng Kinh Tế Mới vơi dần. Riêng xóm chúng tôi, có đêm ngũ thức dậy thấy biến mất cả một gia đ́nh. Có gia đ́nh mười người, bỗng một hôm nhân khẩu chỉ c̣n có năm, rồi hai, cuối cùng không c̣n ai. Có nhà th́ ban ngày ban mặt, mướn xe tải rộn ràng dọn đồ đạc lên xe, chưa hết lời chia tay, quay qua ngoảnh lại th́ thấy nhà đấ thành nhà hoang. Những căn nhà dọc theo hai bên con đường xưa rộn tiếng người, ǵờ vắng vẻ, chỉ c̣n mỗi túp lều của ba anh em chúng tôi. Những căn nhà không người chăm sóc, mưa nắng, gío bấo sụp đổ mau lẹ. Có căn mục từ từ, rồi đổ ầm xuống. Có căn tung vách, trốc nốc chỉa những cái cột siêu vẹo lên trời. Có căn chỉ c̣n chơ vơ bốn vách để bầy Sóc, bầy Thỏ đôi lúc chạy đùa bên trong.

Qua mấy mùa nắng mưa. Chúng tôi sống như Kinh như Thượng, áo quần mục dần theo thời gian. Màu xanh của cây rừng phủ chụp, lan nhanh trên những vườn t ược, trên những căn nhà sụp đổ hoang tàn. Con đường đất rộng lớn xưa nhiều xe cộ qua lại, thưa dần rồi dứt hẳn. Cây cỏ đua chen mọc lên, biến nó trở nên con đường ṃn nhỏ cho người dân tộc đi qua. Anh em chúng tôi cố gắng gĩư mảnh đất của mẹ, cho khỏi rừng xanh bao phủ. Chúng tôi đấ gĩư được mảnh đất khỏi màu xanh rừng rú, nhưng lại lạc mất tuổi thơ, tuổi xuân xanh nơi núi rừng vùng Kinh Tế Mới nầy.