 |
DIỄN ĐÀN
NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA
Ngừoi Quốc Gia là những người
đặt tổ quốc lên bản vị tối cao
Tối cao có nghĩa là trên tất
cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v..
Trích VN Tự Điển của Đào Duy
Anh |
|
Nationalist Vietnamese Forum |
Home
Sử Thuyêt'
Họ Hùng
Nguyễn Quang
Nhật
LTS: TCCM
xin giới thiệu với bạn đọc một bài nghiên cứu
về sử thuyết
của Họ Hùng Vương. Trong bài nghiên cứu
này, tác giả
đă mạnh dạn, dựa trên các dữ kiện đă
được tác giả
tŕnh bầy, đặt câu hỏi về lịch sử Trung
Hoa, và v́
thế ảnh hưởng đến nền lịch sử Việt Nam do
phần nhiều
dựa trên các sách sử biên chép của Trung Hoa.
Chúng tôi
sẵn sàng đăng các bài phản bác hoặc đồng
thuận với
quan điểm này, theo đúng như tiến tŕnh sàng
lọc khoa học
để các học giả khác có cơ hội chỉ trích và
phê b́nh.
PHẦN I: LUẬN
BÀN VỀ SỬ VIỆT-HOA
A. Sự biến
âm trong tiếng Việt
Cũng
như bao sự việc khác, ngôn ngữ phát triển và biến
đổi theo
từng thời gian, và vị trí địa lư, nó thay đổi
theo từng
vùng và dân tộc. Nếu không đi nhiều cũng như
không tiếp
xúc với các phương ngữ ở các địa phương
khác nhau,
ngay chính người Việt ở thời truyền thông
hiện đại, sự
giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt cũng
chưa đạt đến
sự hiểu nhau trọn vẹn theo mong muốn.
Ta
có thể nói là có sự khác nhau, chứ không nên xác
định là sai
hay đúng; chỉ có thể nói sai hay đúng về
chính tả so
với chuẩn quốc gia, mà chuẩn quốc gia cũng
là một qui
định, cùng nhau qui ước là viết như thế và
đọc như vậy
cho thống nhất trong một chuẩn để thông
tin, chuyển
tải ngôn ngữ đạt được sự chính xác –
tránh việc
ông nói gà bà hiểu ra là vịt.
Ta
có thể nêu vài sự khác biệt hay thay đổi lớn trong
ngôn ngữ
Việt ngày nay:
-
Trước đây khoảng trăm năm, khi được “La Tinh hóa”
Quốc ngữ ,
âm ‘tr’ được viết và đọc là ‘bl’,
thí dụ: Blời
→ Trời; Blâu → Trâu
Không phải thay đổi rồi thôi mà có nhiều chữ vẫn song
hành như:
rung rinh → lung linh
Vẫn
c̣n nhiều sự biến đổi khác, nếu không hiểu rơ,
có thể ta sẽ
hiểu sai hay không hiểu nổi nhiều vấn
đề, nhiều sự
việc của quá khứ xa xôi.
Với
âm ‘l’ nhiều người miền Bắc phát âm với âm
‘n’. Thí dụ:
phương Nam → phương Lam; làng nước →
nàng lước.
Nếu
sự thay đổi âm ‘l’ và ‘n’ lại chồng lên sự
thay đổi của
âm ‘r’ và ‘l” th́ sự khác biệt đi
quá xa coi
như không có sự liên quan, … nhưng nếu chúng
biến đổi qua
nhiều tầng nấc trung gian chúng lại có liên
quan với
nhau.
‘rú’
trong ‘rừng rú’ có nghĩa là ‘núi’, ta xem
diễn biến
chuyển đổi như sau:
rú →
lú → lúi → núi
r→
l l→ n
rừng
→ lừng → lừm → lùm (bụi)
lâm (Hán-Việt)
Lần
theo từng mắt xích như trên, ta thấy rơ ràng
“lâm” đâu có
phải là từ ngoại. C̣n có nhiều thay
nếu đổi
không biết sẽ không hiểu nổi nhiều vấn đề
của lịch sử
như:
Âm
‘r’ c̣n có thể biến âm thành ‘d’ như: râm (bóng
râm) → bóng
dâm
Âm
‘l’ biến âm thành ‘nh’: ló → lú (lên) → nhú
(lên), nhô
(lên); lớn lao → nhớn nhao
Từ
kép: siu siu (ngủ) → thiu thiu (ngủ)
siêu siêu (ngủ)
Cũng
có nhiều sự khác biệt rất lớn giữa phương ngữ
miền Bắc và
phương ngữ Nam bộ, chỉ xin khái quát vài
điều rơ ràng
mà thôi:
- Âm
‘v’ miền Bắc, miền Nam đọc thành ‘d’, ngay
trong cách
phát âm tên quốc gia cũng có sự khác biệt:
Việt
Nam → diệc nam (viết theo cách phát âm); nếu nói
“Việt” từ
gốc Hán có nghĩa là “vượt” th́
“diệc” hay
“diệt” là ǵ?
Âm
‘h’ ở miền Bắc th́ ở miền Nam biến thành
‘gh”; tương
tự âm ‘q’ cũng vậy.
Thí
dụ: đi hoài → đi ghoài (măi)
quốc gia → ghuấc gia hay guốc giạ
Nguyên âm tiếng Việt như:
‘u’
biến thành ‘o’, như tùng → ṭng
‘u’
biến thành ‘âu’, như chu → châu
‘â’
biến thành‘ư’’, như nhất → nhứt, chân →
chưn
Lúc
xưa chữ ‘khởi’ đọc là ‘khỉ’; chữ ‘mày’
miền Trung
đọc là ‘mi’, ‘ông’ → ‘ôn’. Như thế
sự khác biệt
thiên h́nh vạn trạng. Đó mới chỉ là
chuyện trong
nhà, c̣n xét đến từ thuần Việt và Hán
Việt c̣n
nhiều điều phải bàn lắm như chữ ‘lâm’ và
‘lùm’ ở
trên.
Ta
quen gọi là từ Hán Việt, thực ra chưa chắc như thế,
nhiều khi
c̣n ngược lại là đằng khác. Thí dụ: sông và
xuyên; sưng
và sơn; kênh lạch và kinh lạc.
Có
nhiều từ xét về sự hợp lư theo thời gian cấu
thành, tưởng
là xuất phát từ Hán tự nay chỉ là từ
biến âm theo
từ “Nôm”. Thí dụ: người Việt thường
nói, họ hàng
– hang hốc; nếu nghiệm ra ta thấy đây là
cặp từ ghép
mang tính giải thích, chú dẫn về nguồn
gốc: ‘hàng’
xuất phát từ ‘hang’, ‘họ’ phát xuất
từ ‘hốc’. Từ
thưở hồng hoang khi con người c̣n
“ăn hang ở
lỗ” th́ mỗi một hang là nơi cư trú của
một thị tộc
gồm từ vài chục đến vài trăm người, và
nhiều hang
như thế hợp thành một bộ tộc hay bộ lạc,
trong mỗi
hang lại có nhiều ngơ ngách gọi là ‘hốc’,
mỗi hốc
thường là nơi cư trú của một đại gia đ́nh;
sau này dù
c̣n người không c̣n ở hang nữa nhưng từ
‘hang’ và
‘hốc’ vẫn được dùng để chỉ một tập
thể người có
liên quan với nhau.
Có
điều đặc biệt là chúng không dừng lại ở tiếng
Việt mà c̣n
biến thành từ Hoa hay từ Hán Việt:
hang → hàng (Việt)
hương (Hoa)
hốc → họ (Việt)
hữu (Hoa)
Vậy
ta có thể quyết định xem nhóm từ hang – hốc →
hương – hữu
là từ Việt gốc Hán hay là từ Hán gốc
Việt? Xét về
mặt lịch sử h́nh thành th́ không thể nào
nói khác đi:
đó là từ Hán gốc Việt.
Tương tự như vậy, khi ta xét cặp từ ‘kênh lạch’ và
‘kinh lạc’:
‘kênh lạch’ là đường dẫn truyền nước
trong tự
nhiên có trước khi con người và hệ ngôn ngữ
xuất hiện,
sau nó được định danh là ‘kênh’ và
‘lạch’; c̣n
‘kinh lạc’ là đường dẫn truyền khí
huyết trong
con người; nó là thành tựu tuyệt vời của
nền khoa học
nói chung, y học Trung Hoa nói riêng tức là lúc
con người đă
văn minh lắm rồi, nói như vậy chắc chắn
từ ‘kinh
lạc’ bắt nguồn từ ‘kênh lạc’.
Các
nhà ngôn ngữ học ngày nay xác định hơn 50% từ Việt
là từ Hán
Việt – nói như thế có 2 điều phải bàn:
1.
Có hơn 50% là từ Hán Việt là mới xem xét đến số
lượng từ
dùng chung, c̣n cộng cả số từ biến âm, bắt
nguồn từ
nhau th́ tỉ lệ lẫn lộn Việt – Hoa c̣n lớn
hơn nhiều.
2.
Nói từ Hán Việt là từ Việt có nguồn gốc ở ngôn
ngữ Hán là
thói quen có tính áp đặt; sự áp đặt này
xuất phát từ
ưu thế số lượng mà ra. Khách quan mà xét
th́ sự áp
đặt trên có nguồn cơn từ lịch sử, qua hàng
ngàn năm
nước Việt chỉ là một chư hầu của nước Hán
(ta cứ tạm
gọi như thế), rơ ràng như vậy chư hầu chỉ
là cái cành,
cái lá của cái gốc thiên triều…. nên nói
từ ‘Hán
Việt’ hay từ Việt gốc Hán là hợp lư và
nhiều người
mặc nhiên chấp nhận, coi như chuyện b́nh
thường,
không ai thắc mắc, từ quan tới dân, từ trí
thức tới
người tốt nghiệp b́nh dân giáo dục không ai
đặt dấu chấm
hỏi.
Như
đă dẫn ở vài thí dụ ở trên, chuyện không đơn
giản như
quán tính lịch sử đă tạo nên, 2 ngôn ngữ Hoa
Việt quấn
quưt vào nhau chặt chẽ hơn ta tưởng, ngay trong
Kinh Dịch là
linh hồn của văn minh Trung Hoa cũng không phải
là thấp
thoáng, mà tràn đầy tiếng Việt!?
Quẻ
Lửa → Ly
Sấm
→ Chấn
Tán
(Toán) → Tốn
Kiềng, Càng→ Kiền, Càn
Cản
→ cản → Cấn
Cẳm
→ Khảm (cảm thấy), Căm (mờ)
Khôn
th́ rơ ràng là từ Việt (khôn ngoan, trí khôn hay
khuân vác,
khuân mang)
Lịch
sử và văn minh Trung Hoa cũng rơ ràng kết cấu gằng
“gạch” Việt,
như:
ḥn
→ hoàng (xuất phát từ Kinh Dịch: trời tṛn)
viên → vương
vua
→ vũ
cha,
chúa → chu, chiếu, triệu (họ)
bản
(làng) → bang (quốc)
gốc
(→ guốc) → quốc, nhà → gia
giêng – hai → giang – hồ (hải)
lu
(mờ) → người Liêu
lu
căm, mờ căm → người Kim
mun
(đen) → mông, minh, Măn )người)
Đặc
biệt 2 từ có mối liên hệ quan trọng đến vận
mệnh nước
Hán là “quan” và “từ” lại được dịch
từ chữ Nôm:
“quan” là dịch từ chữ ‘nh́n’, chữ
‘nom’; “từ”
dịch từ chữ ‘thương’ (t́nh thương).
Quan
Trung: vùng đất phía nam. Quan thoại: tiếng nói
phương nam.
Quang Vũ (viết Quan thành Quang): ông vua khai
sáng triều
Đông Hán: vua phương Nam (đâu phải đất Trung
Hoa).
Chữ
“từ” là dịch từ chữ “thương” của tiếng
Việt. Theo
Dịch lư, th́ phương đông là phương của t́nh
cảm (quẻ
Khảm), nghĩa là phương của sự thương cảm giữa
người và
người (trong chữ Hán, thương lại là thương
tật, bi
thương) đồng thời phương đông cũng là phương
của màu
xanh.
Xanh → thương – thanh, nên sau này có nhà Thương, nhà
Thanh. Như
thế: từ = thương = phương đông chính là vùng
Sơn Đông
hiện nay, xưa là đất nước Tề (Từ → Tề).
Nhưng kẹt
một điều là lịch sử Trung Hoa lỡ gọi là Nam
Man, Đông
Di; như thế chữ gọi là man – di lại chỉ ngay
vùng Hà Bắc,
đất tổ của nhà Đông Hán và Sơn Đông là
đất nước Tề
(Từ) thời Chiến Quốc, nước Ngụy thời
Tam Quốc mà
đă là man – di th́ Hán Quốc, Ngụy Quốc
không thể
nào là Trung Hoa được.
Về
sự thiên biến, vạn hóa trong tiếng Việt giữa xưa
và nay, ta
đơn cử một đoạn trong sớ tấu của Trần
Cương Trung,
sứ giả nhà Nguyên (thế kỷ 13) dâng lên vua
theo bản
dịch của Lê văn Siêu trong Việt Nam Văn Minh Sử
như sau:
“Tiếng nói của dân Tru Ly gọi ‘trời’ là
‘bột mạt’,
‘mặt trời’ là ‘phù bột mạt’,
‘mặt trăng’
là ‘bột văn’, ‘gió’ là ‘giáo’,
‘mây’ là
‘mai’, ‘núi’ là ‘can ngỗi’,
‘nước’ là
‘lược’, ‘mắt’ là ‘mạt’,
‘mồm’ là
‘mạnh’, ‘cha’ là ‘chá’, ‘mẹ’ là
‘ná’, ‘con
trai’ là’can đa’, ‘con gái’ là ‘can
ái’, ‘chồng’
là ‘chùng’, ‘vợ’ là ‘đà bị’,
‘tốt’ là
‘lĩnh’, ‘không tốt’ là ‘chương
lĩnh’, cả
thảy là như thế, tiếng nói gấp mà nổi,
phần lớn
giống như tiếng chim, …”
Chắc
chắn phiên âm tiếng Việt bằng chữ Hán có nhiều
lệch lạc,
nhưng qua đó ta vẫn c̣n nhận ra:
‘gió’ là ‘giáo’
‘mây’ là ‘mai’
‘nước’ là ‘lược’
‘mặt
trăng’ là ‘bột văn’ (âm Nam bộ = dăng =
trăng; chữ
‘bột’ không đoán được)
‘mắt’ là ‘mạt’
‘mồm’ là ‘mạnh’ (miệng)
‘cha’ là ‘chá’
‘mẹ’
là ‘ná’ (má, nạ)
‘con
trai’ là’can đa’
‘con
gái’ là ‘can ái’
‘chồng’ là ‘chùng’
‘vợ’
là ‘đà bị’ (đàn bà)
‘tốt’ là ‘lĩnh’ (lành)
‘không tốt’ là ‘chương lĩnh’ (chẳng lành), những
chữ c̣n lại
không thể đoán ra được, đặc biệt tên
của dân tộc
ta viết là ‘Tru Ly’ có thể đoán: ‘Tru’
biến âm của
từ ‘chúa’; ‘Ly’ biến âm của từ
‘Lửa’ nghĩa
là dân của vua lửa hay vua vùng nhiệt
đới, hoặc
Tru là biến âm của ‘chiêu’ nghĩa là phương
tây; ly là
lửa chỉ hướng xích đạo tức hướng bắc
(bức) theo
Dịch Lư. Như thế dân Tru Ly là dân sống ở
miền tây bắc
(Dịch Lư) tức hướng tây nam ngày nay.
Mới
700 năm mà đă khác xa như thế, nói chi đến 2, 3
ngàn năm
trước!? Hỏi c̣n bao nhiêu từ cổ mà ngày nay
chúng ta
nhận ra được?
Ở
đoạn trên, riêng từ ‘núi’ là ‘can ngỗi’ có
thể đoán:
‘can’ là ‘cấn’, một quẻ trong Bát Quái,
tượng trưng
cho ‘núi’ và chúng ta chú ư từ ‘nước’
là ‘lược’ v́
nó có liên quan đến quốc hiệu cổ xưa
của Việt Nam
mà ta sẽ t́m hiểu ở phần sau.
Về
sự liên quan giữa ngôn ngữ Hán và Việt c̣n nhiều
khía cạnh
phải xem xét. Thí dụ: tên Nôm và tên chữ của
một số địa
danh ở Việt Nam , tên Nôm là tên gọi, nói;
tên chữ là
tên viết bằng Hoa tự như:
Làng
Vầy → Làng Sơn Vi
Làng
Tó → Làng Vũ Đại
Vi
là Vây (cái vây cá); từ ‘Vầy’ → ‘Vây’, kư âm
Hán tự là
‘Vi’ như thế nếu nói ‘Vi’ là từ Hán
Việt e không
đúng, ‘Vi’, ‘Vây’, ‘Vầy’chỉ là
những phương
âm của cùng một chữ mà thôi.
C̣n
‘Tó’ viết thành ‘Vũ Đại’ mới đúng là dịch
sang Hán tự;
tó là to, to → đại.
Việc
dịch những danh từ riêng của Việt sang Hán tự cũng
gây đau đầu
lắm! Như từ ‘Vũng Quưt’, một địa danh
ở miền Trung
của Việt Nam , nếu hiểu ‘Vũng’ là danh
từ chung là
một vùng nước sát đất liền tương đối
được che
chắn kín gió, … như Vũng Tàu, Vũng Rô, th́
chữ ‘vũng’
là ‘Vịnh’ trong Hán ngữ. ‘Quưt’ là
tên riêng
hay ‘Quất’ (Hán) ta có chuyển thành ‘Quất
Vịnh’ có thể
nhận ra, c̣n nếu phiên âm theo Hán tự
để viết
thành ‘Dung Quất” th́ sai xa lắm, người dân
ở Vũng Quưt
đọc lên và ngở là một địa danh nào đó
bên Trung
Hoạ
Việc
dùng Hán tự để kư âm các từ gốc La Tinh đôi khi
tạo nên
những cụm từ … quái dị …, về nghĩa th́ không
có rồi, và
về âm th́ chuyển đi xa lắc xa lơ … phải có
óc tưởng
tượng siêu lắm mới t́m thấy sự liên quan,
như:
England kư âm thành Anh Cát Lợi. France thành Phú Lăng Sa.
Washington →
Hoa Thịnh Đốn. (ông) Ghandi → (Thánh) Cam
Địa, v.v…
Khổ một nổi sự kư âm này là bắt buộc v́
2 hệ thống
ngôn ngữ khác nhau hoàn toàn nên không có cách
nào khác.
Tới
đây người đọc có thể thông cảm với người viết
và mặc nhiên
chấp nhận một độ lệch nào đó của âm
tiết khi dẫn
chứng tư liệu lịch sử Việt Nam từ cổ
đại cho đến
cận đại v́ tất cả được viết bằng chữ
Hoa hay nói
rơ hơn là những từ Việt được kư âm bằng
chữ Hoa, sự
lệch lạc đôi khi rất xa, nhưng ta có thể
nhận ra được
nếu nó nằm trong một thể hoàn chỉnh, có
đầu có đuôi,
có đối chứng V.v… nếu có hẳn một hệ
thống xuyên
suốt th́ trở nên hiển nhiên, rơ ràng không
phải bàn
nữa, ta có thể khái lược hệ thống “biến
từ ” Việt –
Hoa như sau:
1.
Cao – cả → cổ nghĩa là người đứng đầu, thủy
tổ như ông
Bàn Cổ; Cổ Thục; Cổ Tẩu.
→ cô, cơ: cũng là người đứng
đầu như
‘Hiên Viên là tổ họ Cơ; ông Cơ Xương, Cơ
Phát.
→ Cao: ông cao Giao; Thái Cao; Cao Tân;
Cao Dương;
Cao Sơn.
→ Câu: Câu Tiễn (Việt Vương)
Đặc
biệt ‘Cao’ dịch sang Hán tự là Tôn, và viết sai
là Tông trở
thành đế hiệu của các vua Việt Nam và Trung
Hoa từ đời
Đường, Lư về sau. Căn cứ vào cấu trúc
cụm từ th́
rơ ràng ‘Tôn”, ‘Tông’ tương đương với
chữ ‘Vương’.
Thí dụ: Lư Thái Tôn, Lư Cao Tôn, V.v…
2.
Vua → Vũ: chỉ hoàng đế khai quốc như Hạ Vũ, Vơ
Vương, Chu
Vũ Vương, Hán Vũ Đế, Vũ văn Giác, Quách Vụ
3.
Cha – chú → chúa, chủ
→ chu, châu, sau biến thành Chu , Triệu như: nhà
Chu, họ Chu
: Chu Nguyên Chương, họ Triệu: Triệu Chính,
Triệu Đà,
Triệu Khuông Dẫn, V.v… đặc biệt ngôn ngữ
Thái – Lào
có từ ‘chậu’ nghĩa là ‘ông hoàng’, khi
kư âm bằng
Hán tự th́ các vua Champa trở thành họ
‘Chế’ như:
Chế Củ, Chế Mân, Chế Bồng Nga, V.v…
4.
Lửa → Ly (quẻ) là ngọn lửa, mặt trời, nghĩa bóng
chỉ ‘hoàng
đế’ sau biến thành họ ‘Lư’, họ ‘Lê’
như: Lư Bôn,
Lư Bí, Lư Uyên, Lư Công Uẩn; Lê Lợi, Lê
Hoàn, (Hán
tự kư âm sai thành họ Lưu)
5.
Đức: chỉ nhân vật có địa vị cao trọng như: đức
Chúa, đức
ông, V.v… Hán ngữ kư âm thành Đế đồng
nghĩa với
vua, chúa; âm Khmer là ‘cham đéc’ nghĩa là ông
hoàng.
6.
Xuất phát từ ư niệm: ‘trời tṛn, đất vuông’,
‘trời là
vua, đất là dân’, người ta tạo nên các từ:
ḥn → hoàn
→ hoàng nghĩa là vua; ‘viên’ chỉ vật
tṛn →
vương. Trong lịch sử có: Đinh Hoàn, Lê Hoàn,
Hiên Viên,
Tản Viên, …
7.
Các tước vị của quí tộc Trung Hoa:
không 0 → công
hai 2 → hầu
ba 3 → bá
tư 4 → tử
năm 5 → nam
Từ
hệ thống “chuyển ngữ” này, ta có thể khẳng
định, trước
khi Hán tự được dùng để viết sử th́
đă có “Việt
sử” hay lịch sử Trung Hoa viết bằng một
thứ chữ khác
với Hán tự, thứ chữ đó chắc chắn là
kiểu chữ
“đại triện” của nhà Chu , Ngũ kinh cũng
được chép
bằng thứ chữ này. Từ đời Tần người ta
mới dùng
kiểu chữ “tiểu triện” thay thế, loại chữ
tiểu triện
qua nhiều lần cách tân về cách viết trở
thành Hán tự
ngày nay; người Việt không gọi là Hán tự
mà gọi là
“chữ Nho”, phải chăng ‘Nho’ là biến âm
của ‘nhỏ’
đồng nghĩa với ‘tiểu triện’, người
Việt ưa dùng
điệp ngữ “Nho nhỏ” cũng là một dẫn
chứng có giá
trị cho hướng suy nghĩ như trên.
Bản
thân dân du mục phương Bắc khi chiếm đóng Trung Hoa
chưa có hệ
thống văn tự riêng nên dùng luôn hệ thống
văn tự Trung
Hoa làm quốc ngữ v́ không có cách nào khác,
từ đó chữ
tiểu triện biến thành Hăn tự, điều này
giải thích
sự mâu thuẫn trong tâm thức người Việt.
Từ
Hán trong Hăn tộc là một nổi ám ảnh kinh hoàng do
những thống
khổ người Việt phải chịu thời vong quốc.
Nhưng từ
‘Hán’ trong ngôn ngữ Hán, người Việt gọi là
chữ Nho th́
lại có vị trí trân trọng đặc biệt và
được gọi là
chữ của “thánh hiền”.
B. Những
nghi vấn trong Hoa sử
Sai
lầm lớn nhất của các sử gia Hán tộc là kết cấu
lịch sử dân
tộc – quốc gia ḿnh một cách máy móc
thiếu biện
chứng, bỏ quên yếu tố thời gian.
Lănh
thổ Trung Hoa tới điểm “hạn” khoảng đầu công
nguyên, tức
là mốc thời gian mà lănh thổ không thể
trương nở tự
do được v́ nó tiến đến một đường
biên với các
dân tộc, quốc gia khác, từ điểm này sự
xê dịch biên
giới luôn là kế quả của một cuộc chiến,
với Trung
Hoa từ mốc lịch sử này các cuộc chiến tranh
thôn tính
lẫn nhau giữa Hán tộc và lân bang đều được
ghi vào sách
sử.
Ta
thử làm một con tính đơn giản, dân số Trung Hoa đời
Tần khoảng
20 triệu người, 2000 năm sau là 1.200 triệu
người tức
tăng 60 lần, lấy tỉ lệ này ước tính dân
số nhà Hạ
trước Tần 2.000 năm, vương triều đầu tiên
trong Tam
Đại của Trung Hoa, th́ dân số cao lắm cũng chỉ
dưới 500.000
người; với số dân như vậy dàn trải trên
diện tích
gần bằng diện tích Trung Hoa ngày nay là điều
không thể
có. Lư do rất đơn giản là điều kiện vật
chất kỹ
thuật không cho phép, với phương tiện lưu thông
chính là đôi
chân th́ không thể có một nhà nước mà
lănh thổ
rộng tới vài triệu ki-lô mét vuông bao gồm 9
châu: Duyệt,
Kư, Thanh, Từ, Dự, Kinh, Dương, Lương, Ung
như đă ấn
định trên bản đồ Trung Hoa cổ; các sử gia
Hán tộc đều
thành thực tin rằng lănh thổ Trung Hoa to
lớn như thế
v́ cổ sử Trung Hoa từ thời vua Chuyên Húc
(2513 –n
2345 trước CN), đời vua Nghiêu (2357 trước CN)
thậm chí cả
đến đời Thần Nông, một v́ vua của truyền
thuyêt xa
xôi lắm, lănh thổ Trung Hoa đă tiếp giáp với
Giao Chỉ hay
Giao Châu, cũng có sách chép là Nam Giao tức
lănh thổ
Việt Nam ngày nay.
Sử
gia Hán tộc đă sai lầm khi tạo nên một lịch sử
không có sự
phát triển, quốc gia cũng chỉ là một cơ
thể sống, có
sinh ra, có lớn lên rồi tới điểm dừng
hay hạn.
Cũng như con người sinh ra chỉ khoảng 2 – 3 kg
lớn lên tới
độ 23 – 25 tuổi là điểm dừng th́ nặng
khoảng 50 –
60 kg, c̣n “Hán Quốc” mới khai sinh đă to
bằng tuổi 20
– 25, đă có 9 châu mênh mông thiên địa
…. đúng là
thần nhân trong thần thoại….
Như
vậy làm sao ta có thể lư giải một việc rất nhất
quán trong
cổ sử Trung Hoa. Liên tiếp từ thời Thần Nông
tới Chuyên
Húc và sau là vua Nghiêu …, kinh Thư, Thiên
Nghiêu Điển
viết: “vua Nghiêu mệnh hy thúc trạch Nam
Giao…” Nam
Giao, Giao Chỉ là một địa danh, một vùng đất
đă có từ
thời Thái cổ trong lịch sử Trung Hoa và liên
tục cho đến
đời Tống; vua Tống vẫn phong cho vua Đại
Việt là:
“Giao Chỉ Quận Vương” trước khi nâng cấp
lên “An Nam
Quốc Vương”, sự việc đó chỉ cách nay một
ngàn năm và
được ghi chép rơ ràng trong sách sử. T́m
lời giải đáp
cho câu hỏi hóc búa nhưng kỳ thú này dẫn
dắt đến một
sử thuyết, và khi sử thuyết này được
minh chứng
sẽ làm đảo lộn toàn bộ lịch sử Trung Hoa,
Việt Nam và
Đông Nam Á.
Chính sử Trung Hoa đều cho rằng thủy tổ dân tộc ḿnh
là Bào Hy,
Thần Nông. Thần Nông là kết cấu ngôn ngữ
Việt, nếu
theo Hán ngữ phải viết là Nông Thần; đây
không phải
là trường hợp duy nhất v́ ta gặp nhiều
trường hợp
như thế trong Ngũ Kinh, như: Đế Ất, Hậu
Tắc,… Hậu
Nghệ, V.v… Vậy các vua này là vua Việt hay
vua Hán?
Thêm vào đó các địa danh của Trung Hoa đầy dẫy
ngôn ngữ
Việt, như: Hồ Nam , Hồ Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây,
… Hán tự
dùng ‘sơn hà’ là ‘núi’ và ‘sông’ để
chỉ lănh thổ
quốc gia, như sông phương bắc, sông phương
nam, núi
phương tây, núi phương đông, … vậy theo Hán
ngữ phải ghi
là Bắc Hà , Nam Hà, Đông Sơn, Tây Sơn …,
c̣n Hà Bắc,
Hà Nam , Sơn Đông, Sơn Tây là kết cấu theo
Việt ngữ?
Lịch
sử về văn minh Trung Hoa cũng có một số điểm mà
ta không
hiểu nổi.
“Thời nhà Hạ (2200 trước CN) người dân đă biết
‘tát nước
vào ruộng’…” rơ ràng câu này chỉ sự
canh tác lúa
nước; nước là điều kiện đầu tiên trong:
“nước, phân,
cần, giống” mà nền khoa học nông nghiệp
Việt Nam đă
tổng kết từ xa xưa; nước quan trọng đến
nỗi “việc
dẫn thủy nhập điền” được coi như một
thành tựu
khoa học, phản ánh tŕnh độ văn minh của một
dân tộc. Sự
việc này khó hiểu ở chỗ: lănh thổ nhà
Hạ ở vùng
Hoàng Hà (theo chính sử Trung Hoa) đâu có trồng
được lúa
nước … cây được trồng chính ở miền Bắc
Trung Hoa là
kê và lúa ḿ. Các chứng cứ về khảo cổ học
và các ngành
khoa học khác như nông học, thổ nhưỡng đă
xác định như
vậy.
Ngày
nay qua các di chỉ trong ḷng đất, ngành khảo cổ học
đă xác định
được nơi sinh tụ thời cổ xưa của Hán
tộc là bờ
sông Hoàng Hà. Hán tộc là tộc người xây
dựng được
nền văn minh rất sớm, họ đă bước vào
thời gọi là
văn hóa gốm đỏ cách đây khoảng 8.000 năm,
địa bàn của
họ dịch chuyển từ tây sang đông dọc theo
sông Hoàng
Hà với các nền văn hoá gốm đỏ, gốm đen,
rồi gốm xám.
Vùng đất từ Thiểm Tây tới Hà Nam ngày
nay. Vào đời
Thương lănh thổ Trung Hoa là vùng đất nằm
ở 4 tỉnh: Hà
Nam – Hà Bắc – Sơn Đông – Sơn Tây. Qua
đời Chu th́
chuyển về vùng Sơn Tây ngày nay, theo đó ta
có thể xác
định Hán Quốc cổ là quốc gia lục địa chưa
tiến đến bờ
biển; nhưng sử Trung Hoa lại ghi: “Từ
đời Thương
dân Trung Hoa đă biết dùng vỏ ṣ làm tiền
để trao đổi
hàng hóa…”, nên trong Hán tự đă cấu
thành bộ
‘bối’ nghĩa là ‘vỏ ṣ’, ‘vỏ hến’ để
tạo nên các
từ liên quan đến việc giao thương, buôn bán
… nhưng dân
sinh sống sâu trong lục địa th́ lấy vỏ hến,
vỏ ṣ ở đâu
rả
Sử
Trung Hoa cũng ghi là vào đời Thương đă biết dùng
voi trong
chiến trận …, nhưng lănh thổ nhà Thương ở
vùng sông
Hoàng Hà th́ làm ǵ có voi, voi Á Châu chỉ sống
ở miền xích
đạo và nhiệt đới, … không lẽ sử Trung
Hoa sai lầm
lớn đến thế?
Hai
loại “vật liệu” nền tảng của văn hóa Trung Hoa là
mai rùa và
tre đều không phải là sản vật tự nhiên của
miền Bắc
Hoàng Hà. Người ta đă đào được ở An
Dương thuộc
phần Bắc Hoàng Hà thuộc tỉnh Hà Nam, hàng
vạn mai rùa
và xương thú có khắc “Hoa tự” cổ và coi
đây là căn
cứ để xác định trung tâm văn minh Trung Hoa
… nhưng ở
miền Bắc Hoàng Hà không hề có loại rùa lớn
đó sinh
sống, khoa học đă chỉ rơ như thế; loại rùa có
mai lớn để
khắc chữ chỉ sinh sống ở sông Dương Tử
hay Trường
Giang. Lại nữa, Dịch Lư vào đời nhà Thương
được gọi là
Qui Tàng Dịch là sách dịch được khắc trên
mai rùa (qui
= rùa; tàng = chứa). ta có thể giải thích hợp
lư sự việc
trên là nhà Thương trước khi chuyển về lưu
vực Hoàng Hà
đă có thời gian sinh tụ ở lưu vực Dương
Tử hay
Trường Giang và chính là ở đấy đă phát minh ra
“kỹ thuật”
khắc chữ trên mai rùa; sau này dù di chuyển
đến địa điểm
mới vẫn về chốn cũ đem mai rùa đi
để sử dụng.
Tương tự, tre có hàng trăm loại khác nhau;
nhưng tre
lớn, bản đủ rộng làm thành các thẻ để viết
chữ và kết
thành sách chỉ có ở vùng xích đạo và nhiệt
đới, ngay cả
ở Tứ Xuyên nằm trong vùng b́nh đới, cũng
chỉ có loại
tre lớn nhất gọi là tre đực hay tầm vông;
th́ nhà Chu
ở Sơn Tây làm ǵ có tre lớn để làm sách,
viết chữ?
Đối chiếu sinh cảnh thực sự cộng thêm
nghiên cứu
qua ghi chép trong Kinh Thư, Kinh Thi, và Kinh Dịch
ta thấy
không thể xăy ra được. Thí dụ: Đại Tượng
Truyện của
Quẻ Dự trong Kinh Dịch chép: “Sấm nổ trên
đất, Tiên
Vương dĩ tác nhạc, Sùng Đức ân tiến chi
Thượng Đế dĩ
phối tổ khảo…” Quẻ Dự là Quẻ Chấn
chồng trên
Quẻ Khôn trong quẻ gọi là Địa; Quẻ Chấn là
sấm, sấm nổ
trên đất là chỉ dẫn Chấn trên Khôn,
nhưng cũng
giúp ta h́nh dung cảnh đánh trống đồng. Trống
đồng c̣n gọi
là trống sấm, Quẻ Lôi, khi đánh úp trên
mặt đất là
Địa, âm thanh trống đồng là nhạc tế lễ,
ở đây nói rơ
là tế Thượng đế và sùng kính tổ
tiên. Một
quẻ nữa là Quẻ Tiệm nói đến ‘vũ nghi”,
một nghi
thức mà người tham gia lễ hội hóa trang bằng
lông chim,
một cảnh được khắc hoạ rơ nét trên trống
đồng. Dựa
trên chính sử th́ chắc chắn nhà Chu chưa
hề biết đến
trống đồng, v́ trống đồng chỉ t́m
thấy ở Việt
Nam và 2 tỉnh Vân Nam – Quảng Châu của Trung
Hoa, cách
Sơn Tây xa lắm. Hiện nay cách nhà nghiên cứu
Trung Hoa đă
phải công nhận trống đồng là vật phẩm văn
hoá phi Hán,
vậy tại sao hơn 2.000 năm Kinh Dịch đă biết
về trống
đồng, chỉ dẫn cho ta về mục đích sử dụng
trống đồng
(tế Thượng đế)? Cũng như đề cập đến
tục hoá
trang được khắc trên trống đồng?
Dù
vua Càn Long nhà Thanh đă tốn không biết bao nhiêu
tiền để mua
sách và bản đồ, mất bao công sức để
tịch thu
sách và bản đồ trong thiên hạ và hơn 300 quan
“bác sĩ” cạo
sửa suốt 10 năm trời, sửa không nổi
th́ đốt cho
phi tang tích, nhưng vẫn bị lọt sổ:
Sách
Ngự phê Thông giám Tập Lăm và Thiếu vi Thông giám,
quyển Chu
Ngoại Kỷ có đoạn chép (Lê Văn Siêu dịch –
Việt Nam Văn
Minh Sử) như sau: “Cách 1.000 năm, đến năm
Tân Măo là
năm thứ 6 đời vua Thành Vương nhà Chu, phía
nam Giao Chỉ
có người ‘Việt Thường’ sang Trung Hoa dâng
bạch trĩ,
qua 2, 3 lần thông ngôn nói rằng ‘đường xá xa
xôi, non
sông cách trở sợ rằng một lần thông sứ không
hiểu tiếng
nhau cho nên phải qua 3 lần thông ngôn để sang
chầu’. Chu
Công đáp lời: ‘Đức trạch không khắp tới
nơi, người
quân tử không nhận lễ sơ kiến, chính lịch
không khắp
tới nơi, người quân tử không nhận người
ấy xưng
thần.’ Người thông ngôn nói: ‘Tôi vâng mệnh
những ông
già (bô lăo) nước tôi bảo: ‘Trời không gió
dữ, mưa dầm,
bể không sóng nổi đă 3 năm, hẳn là Trung
Hoa có thánh
nhân, sao không sang chầu.’ Chu Công đem dâng
cho vua nhà
Chu, để dâng lên thần linh của tiên vương,
rồi đem dâng
Cung điều. Đến khi sứ giả về, quên mất
đường, Chu
Công cho 5 cỗ biền xa, bốn mặt có diềm che
đều làm cách
thức chỉ nam, sứ giả đi xe ấy từ đường
bể (sau này)
là nước Phù Nam ở cơi đất Cao Miên, thời
xưa là Lâm
Ấp, đầy năm trời mới về đến nước
(Việt
Thường)”.
Sách
Thiếu Vi Thống Giám, chú giải: “Việt Thường là
‘Nam phương
quốc danh, tại Giao Chỉ nam’”, có thể dịch
là “tên nước
nam phương, (một nước) ở phiá nam Giao
Chỉ” Trong
đoạn trích dẫn trên có nhiều điều phải bàn
như tên
nước, phương hướng nhưng điểm chính yếu thứ
nhất ta cần
xem xét: nhà Chu ở đâu mà sứ lại xuống
thuyền về
nước ở biển (sau này là) Phù Nam, Cao Miên?
Rơ ràng là
nhà Chu không thể ở Sơn Tây cách xa biển Phù
Nam ít nhất
3.000 km. Thứ hai ta xét: nước Việt Thường
không thể ở
gần Cao Miên mà ở rất xa v́ đi thuyền
một năm mới
tới. (Sách sử hiện nay cho là miền Trung
Việt Nam
trước đây là Việt Thường). Tới đây ta lại
phải thêm
một câu hỏi: Việt Thường là nước nào và ở
đâu?
Thêm
một vấn đề nữa:
Sử
Trung Hoa viết về nhà Tần như sau: Nhà Tần chọn cho
ḿnh đức
Thủy là đức đă thắng nhà Chu đức Hoả, màu
đỏ, và nhà
Tần chọn cho ḿnh màu đen, từ ngựa tới cờ
quạt đều màu
đen.
- Số
6: cái ǵ cũng số 6, trục xe 6 tấc, xe vua do 6 ngựa
kéo.
Tháng chọn là tháng 10, bắt đầu mùa đông, ở đây rơ
ràng sử gia
Trung Hoa đă vận dụng Dịch Lư vào sử, ta hăy
xem:
Nếu
nhà Tần chọn Hành Thủy, màu đen, số 6, mà ở Thiểm
Tây, Tứ
Xuyên, nhà Chu không thể ở nơi nào khác ngoài
Vân Nam –
Quí Châu – Quảng Tây (xin xem bản đồ) tức là
ở phía nam
Tứ Xuyên, Thiểm Tây v́ sử ghi rơ nhà Chu:
đức Hoả, màu
đỏ (Thực ra th́ nhà Chu không phải đức
Hoả và màu
đỏ; sử học Trung Hoa đă cố gán ép các nguyên
lư của Dịch
học vào lịch sử đời Tần để phục vụ cho
mục đích của
họ, về mục đích của họ sẽ có phần xem xét
ở phần sau;
c̣n về nhà Chu th́ đích thực ở phương Tây
nên thuộc
hành Kim, màu trắng).
Bản
đồ Trung Hoa thời Xuân Thu Chiến Quốc chắc chắn
không phải
do người Trung Hoa lập, lư do đơn giản trong bản
đồ thời này
ngoài: Vị Thủy, Hoài Thủy, Kỳ Thủy,
V.v…(tức là
Sông Vị, Sông Hoài, Sông Kỳ, V.v…) lại c̣n
có cả: Hà
Thủy và Giang Thủy … 2 con sông chính của Trung
Hoa. Hà và
Giang là ǵ? Không lẽ người Trung Hoa không
biết điều
rất ư là đơn giản đó mà c̣n thêm chử Thủy
vào; chỉ có
người không phải là người Trung Hoa tưởng
là tên riêng
nên mới thêm chữ Thủy vào để chỉ con sông,
hay do bởi
không phải là tiếng mẹ đẻ của ḿnh nên họ
mới sơ xuất
do quán tính và cẩu thả khi định danh nên
mới có tên 2
con sông kỳ khôi là: “Sông …… Sông”
(Giang =
sông và Hà = sông).
C̣n
một thực tế khó giải thích nữa: Sông Dương Tử hay
Trường Giang
được coi là mốc phân ranh Bắc – Nam của
Trung Hoa,
theo chính sử th́ trước thời Xuân Thu Chiến
Quốc Trung
Hoa chưa biết đến miền Nam, khảo cổ học đă
xác định dân
miền Hoa Bắc thuộc về chủng Mongoloit, c̣n
Hoa Nam
thuộc ngành Mongoloit phương Nam, cứ theo lịch sử
th́ từ Bào
Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Hạ Vũ, Thành Thang
… tất cả là
người Mongoloit cùng chủng với Măn, Mông,
Kim, Liêu
V.v… Như thế sẽ có một hệ quả là: những
người mang
đặc điểm nhân chủng nam Mongoloit không phải
là người
Trung Hoa? Hay, họ bị diệt quốc và bị đồng
hoá thành
người Trung Hoa? Điều này thật khó nói v́
chính họ lại
là dân “đa số” ở Trung Hoa hiện nay, và
đối với
người Trung Hoa huyết thống là điều cực kỳ
quan trọng,
không có chuyện họ gọi người khác giống là
tổ tiên
được; ở đây cũng không thể có sự lầm lẫn,
sự thực này
không thể lư giải cách nào khác hơn là lịch
sử Trung Hoa
hiện nay là sai.
Đọc
sử Trung Hoa ta thấy c̣n nhiều bất hợp lư:
Sau
khi thống nhất Trung Hoa và lên ngôi, Tần Thủy Hoàng
phái đại
tướng Mông Điềm đem 30 vạn quân vượt Hoàng
Hà chiếm
vùng Hà Sáo lập thành 44 huyện; Hà Sáo là
phương bắc
của Hoàng Hà, theo chính sử là đất của 2
nước Yên và
Triệu, mà Yên và Triệu đă bị Tần diệt
quốc có
nghĩa là đất của Tần; th́ Hung Nô đi lối nào
mà vào tận
Hà Nam. Thời Chiến Quốc không có một ḍng
sử nào nói
đến việc có chiến tranh giữa Triệu và Yên
hay Tần với
Hung Nô, có một chi tiết nhỏ nữa trong sử
kư của Tư Mă
Thiên là tướng Mông Điềm sau khi chiếm
được Hà Sáo
đă cấm dân ở đấy thờ ….. (1 chữ đă
bị xóa), dù
chữ bị xóa là chữ “Phật” hay là ǵ đi
nữa th́ cũng
nói đến một điều: dân ở Hà Sáo có tôn
giáo khác
với dân Trung Hoa nên Mông Điềm cấm; như thế
họ không thể
là dân nước Yên hay nước Triệu được,
hay nói khác
đi họ là ngoại nhân, hay là vùng bắc Hoàng Hà
mà Tư Mă
Thiên gọi là Hà Sáo đó không phải là đất của
Yên, Triệu;
suy rộng ra là trước thời Chiến Quốc, bắc
Hoàng Hà
không thuộc về Trung Hoạ
Sử
kư của Tư Mă Thiên c̣n ghi một việc nữa khiến
người đọc
không hiểu được:
“Tần Thủy
Hoàng sai làm một con đường từ ‘Cửu
Nguyên’ chạy
suốt đến ‘Vân Dương’ … sau đó sai
đắp đá ở đất
‘Cử ’ thuộc Đông Hải làm cửa phía
đông của
Tần. Kinh đô của Tần ở tận Thiểm Tây bên
bờ sông Vị
gần với sa mạc tây bắc Trung Hoa, th́ lấy
biển ở đâu
ra mà đắp đá làm cửa biển phía đông?
Liên
quan đến lănh thổ Việt Nam sử kư cũng có một
đoạn không
thể hiểu nổi: Lănh thổ của Tần khi thống
nhất Lục
Quốc th́ phía Nam đă đến miền “Bắc
Hộ”… tức là
miền nhà có cửa quay về hướng Bắc ư
nói đă vượt
qua xích đạo quá về phương Nam nên nhà mở
cửa quay về
hướng Bắc để đón ánh mặt trời. Các
nhà nghiên
cứu đều đồng nhận: miền “Bắc Hộ” là
miền Trung
Việt Nam ngày nay; như thế Việt Nam đă nằm
trong lănh
thổ của Tần, vậy sao c̣n phái tới 50 vạn quân
… đánh chiếm
và lập thành 3 quận: Nam Hải, Quế Lâm, và
Tượng Quận?
Qua
rất nhiều sự việc trên đă đến lúc ta mượn kết
luận của
những nhà nghiên cứu khoa học lịch sử và khảo
cổ học Trung
Hoa đưa ra một hướng nh́n mới rất táo bạo
về đất nước
và dân tộc Trung Hoạ
Những h́nh khắc cảnh lễ hội, sinh hoạt trên trống
đồng hoàn
toàn đồng nhất với những ǵ mô tả trong Kinh
Thi, phần
Cửu Ca, có nghĩa là dân tộc có cảnh lễ hội
được khắc
trên trống đồng và được mô tả trong Cửu
Ca, nếu Cửu
Ca, Sở Từ của dân “trống đồng” th́
đương nhiên
Kinh Thi và Ngũ Kinh cũng của dân “trống
đồng”. Và
cũng chính những nhà khoa học Trung Hoa này
đă xác định:
“Trống đồng là vật phẩm văn hoá phi Hoa
(Hán) và là
sản phẩm của những dân tộc ít người ở
cực nam
Trung Hoa”, đó là các dân tộc Tày, Thái, Liêu,
hay Di Lăo
và vài dân khác… như vậy là đă thừa nhận
chính những
dân tộc ít người này mới là chủ nhân của
Kinh Thi, mà
đă là chủ nhân của Kinh Thi th́ dĩ nhiên cũng
là chủ nhân
của Ngũ Kinh đồng nghĩa là chủ nhân của toàn
bộ văn minh
cổ của Trung Hoa.
Chúng ta ai cũng biết Việt Nam là 1 trong 3 trung tâm của
nền văn minh
trống đồng, thậm chí có thể là trung tâm
lớn nhất
nữa. kết luận như vậy có quá vội vă
không? Không
đâu, cách đây vài chục năm học giả Henre
Maspiro khi
nghiên cứu về sinh hoạt lễ hội và phong tục
tập quán của
người Thái ở Việt Nam phải thốt lên:
chắc chắn tổ
tiên người Thái và người Trung Hoa cổ là
một. Chỉ
tiếc là nhận định của ông không được quan
tâm và đào
sâu thêm.
Trước năm 1975, có một người dũng cảm lội ngược ḍng
đó là Linh
mục Giáo sư Lương Kim Định, bằng kiến thức
uyên bác và
trực giác vô cùng bén nhạy ông đă dày công
nghiên cứu
và xuất bản cả một tủ sách về văn minh và
nguồn gốc
người Việt Nam… nhưng cũng chỉ là tiếng kêu
trong hoang
mạc… Thực may mắn và có lẽ đă đến lúc
thần uy của
tổ tiên đang dần hiển hiện, soi đường cho
con cháu nên
trong 10 năm gần đây ngày càng nhiều người
can đảm làm
việc “đội đá vá trời” đó là Nguyễn
Hồng Sinh
với “Kinh Dịch Phục Hy huyền diệu và ứng
nghiệm” xuất
bản năm 2003, là Nguyễn Vũ Tuấn Anh với
“T́m về cội
nguồn Kinh Dịch” xuất bản năm 2002, là
Nguyễn Thiếu
Dũng, là Trương Thái Du với hàng loạt bài
viết ngắn …
Tất cả nhằm t́m ra nguồn gốc đích thực
của người
Việt Nam và văn minh Việt Nam, dù c̣n nhiều
nhận định,
kiến giải khác nhau, nhiều chứng lư chưa đủ
trọng lượng,
kết luận chưa hiển nhiên, chưa đủ sức
thuyết phục,
nhưng ít nhất công sức của các vị trên cũng
đă có kết
quả, tạo nên sự khởi động để nhiều
người vào
cuộc, số người tham gia việc “đội đá vá
trời” ngày
càng tăng, cứ như thế tăng lên măi th́
chắc chắn có
ngày “vá được trời.”
C. Trống
đồng và văn minh Việt – Hoa
Trên
mặt tất cả trống đồng loại 1 tức loại xưa nhất,
th́ được đúc
theo khuôn mẫu là trung tâm là mặt trời,
rồi đến các
ṿng đồng tâm khắc h́nh chim và nai, sau
đó là cảnh
sinh hoạt, đánh trống đồng, đo bóng mặt
trời, cảnh
chiến binh trên thuyền.
Mặt
trời được người Việt cổ coi là nguồn sáng và
nguồn sống
cho muôn loài, với quan niệm cha trời mẹ
đất, tổ tiên
ta đă hiểu rơ những ǵ thu hoạch được
từ đất như
củ, quả … không thể có được nếu không
có ánh nắng
mặt trời, điều này thật đời thường
nhưng cũng
rất khoa học, lúc đó người ta làm ǵ biết
đến diệp lục
tố và sự quang hợp như chúng ta ngày nay,
nhưng bằng
sự quan sát và so sánh việc được mùa và
không được
mùa có liên quan chặt chẽ tới sự chiếu
sáng của mặt
trời người xưa đă hiểu được có sự
phối hợp
giữa trời và đất để ban của ăn nuôi sống
con người từ
đó h́nh thành quan niệm lưỡng hợp, một
phía là cái
cụ thể có thể nắm bắt là đất, một phía
ta biết rơ
ràng có đấy nhưng không thể nắm bắt đó là
những ǵ đến
từ trời, dần dần tổng kết thành các
qui luật
trời đất có âm, có dương, ư niệm khởi nguồn
của Kinh
Dịch.
Với
quan niệm mặt trời là nguồn sáng, cổ nhân coi mặt
trời là khởi
nguồn của văn minh, của sự sáng suốt, v́
không có ánh
sáng mặt trời th́ bóng tối che phủ, không
thể phân
biệt được cao thấp, xấu đẹp, không gian trở
thành một
khối hỗn mang và trong màn đêm đó không biết
bao sự ŕnh
rập của quỷ dữ, của ác thú, sinh mệnh con
người mong
manh biết bao nhiêu, và mọi vật chỉ trở nên
sống động
thực sự khi mặt trời ló dạng, từ đó con
người sùng
bái mặt trời. Với người Việt sự sùng
bái đă gần
như một ư thức về tôn giáo: đạo thờ
Trời, thờ
ông Thiên và h́nh ảnh biểu tượng là mặt
trời. Với vị
trí là tâm điểm trên trống đồng, mặt
trời là
trung tâm của vũ trụ. Điều này chắc mới dừng
ở ư niệm
siêu h́nh, nhưng trong đó ta đă thấy thấp
thoáng bóng
khoa học rồi, v́ sao? Trên trái đất không
biết bao
nhiêu loài thú, tại sao chim và nai lại được coi
trọng ngang
hàng với con người như thế tạo thành thế
giới 3 thành
phần trên mặt trống, coi như h́nh ảnh thu
nhỏ của vũ
trụ?
Ta
trở lại với Dịch Lư. Mọi người đều nhất trí coi
Hà và Lạc là
một phần của Dịch Lư, hoặc là cách diễn
đạt Dịch Lư
thông qua các nút số, một loại diễn đạt
khác là Dịch
Lư vạch quẻ của Bát quái. Vậy Hà là ǵ?
và Lạc là
ǵ? Trải qua mấy ngàn năm, các cuộc tranh luận
của các bậc
trí giả “nh́n xa trông rộng” vẫn c̣n
tiếp tục xăy
ra, nào là long mă, nào là thần qui; người
th́ bảo là
thần vật xuất hiện ở Hoàng Hà, rồi Mạnh
Hà, rồi Lạc
Thủy, … sở dĩ như vậy là tại các vị nh́n
một vật ngay
trước mắt qua “kính viễn vọng” nên hậu
quả là ….
vẫn c̣n căi nhau. Thật ra khi ta nh́n bằng
mắt trần th́
sự việc trở nên đơn giản: Hà nghĩa là
Trời; Lạc là
biến âm của Lục nghĩa là Đất, Hà Lạc là
Trời và Đất
… rất rơ ràng như ở phần Dịch Lư ta đă
cải chính:
phải gọi là Hà Thư – Lạc Đồ, chứ không thể
gọi ngược
như trước đây được.
Sự
liên quan giữa trống đồng và Dịch Lư là:
Trời
= Hà → Hạc: chim Hạc hay Hồng Hạc. Đất = Lạc →
Lục → Lộc:
con nai.
Thông điệp trên mặt trống đồng rất rơ ràng: Mặt
trời là
trung tâm và ở các ṿng đồng tâm kế tiếp nhau
là Hạc –
Nhân – Lộc, tức trên là trời, giữa là
người, dưới
là đất nối tiếp “chạy” quanh mặt
trời.
Hà
→ Hạc, chim hạc = trời. Lạc → Lục → Lộc (con
nai) = đất
Từ
sự việc này gợi ra ư kiến là: chữ “tượng
h́nh” không
phải là loại chữ cổ xưa nhất mà là sự
bắt chước
một loại chữ khác có trước nó tạm gọi là
chữ “nguyên
h́nh”. Ta liên tưởng trong Kinh Dịch phần
Thuyết Quái,
Khổng Tử viết: “… Ngày xưa họ Bào Hy
ngẩng lên
xem tượng trời, cúi xuống xem thế đất …
quan điểu
thú chi văn …” rồi tổng kết lại thành các
qui luật
Dịch Lư, câu ‘quan điểu thú chi văn’ được
hiểu là:
‘nh́n các nét “văn’ trên (ḿnh) chim, thú
…’ Nay ta có
thể hiểu khác đi là … đă có một loại
chữ là “điểu
thú văn” tức chữ “nguyên h́nh”từ
trước khi họ
Bào Hy tác dịch?
Trong bối cảnh Văn hoá Á đông ta có thể t́m thêm 4 chữ
“nguyên
h́nh” nữa ngoài các chữ “chim hạc” và “con
nai” (= Trời
và Đất).
Người xưa đă dùng chúng như dạng thức chữ “nguyên
h́nh” để chỉ
4 phương: (Trung tâm chính là nơi sinh tụ
của cộng
đồng người cổ đă tạo nên Dịch Lư)
1.
Hướng Xích đạo: là vùng nhiệt đới tượng trưng
bằng con Hổ,
Hổ là biến âm của Hoả là lửa – tính của
lửa là nóng.
2.
Ngược với lửa là nước, nơi vùng nước này có
rất nhiều
con Sấu, Sấu là biến âm của Xíu là nước
(âm Quảng
Đông). trong truyền thuyết lịch sử Việt Nam,
nó là con
thuồng luồng, một loài thủy quái hại người,
sau này do
biến cố khí hậu loài sấu ở phía Bắc (cứ
tạm gọi như
tên hiện nay) bị tiêu diệt nên người xưa
thay thế
bằng con rùa tức Quị
3.
Hướng đông là biển nên biểu tương bằng thần vật
có công hút
nước làm mưa mà người xưa gọi là Rồng hay
Long. Trong
văn hoá Việt – Hoa, Rồng được coi là chúa
tể cai trị
thế giới biển cả.
4.
Ai đă từng nghiên cứu Dịch Lư đều biết quan điểm
hướng đông
là phương động, tượng trưng bởi Quẻ Chấn
cũng gọi là
Quẻ Th́n tức quẻ con rồng; chính xác phải gọi
là hướng
động v́ động là biến âm của đông. Và theo
nguyên lư
đối lập của Dịch, phương tây là tịnh như trong
Thuyết Quái
của Dịch: cứng mềm cọ sát sinh ra động tịnh.
Phương đông: mềm mà động
Phương tây: cứng mà tịnh.
Sở
dĩ phương tây có tên là tịnh v́ ở đó có rất
nhiều voi,
nên đă chữ “nguyên h́nh” là tịnh để chỉ
định. Như
thế ta có thể coi cgữ “nguyên h́nh” là
loại chữ tối
cổ, đó cũng là điểm xuất phát của chữ
“tượng h́nh”
sau này.
Tổng
số ta có được 7 “chữ “:
-
Mặt trời là trung tâm.
-
Hạc = trời.
-
Lộc = đất.
- Hổ
= phương nóng, xích đạo.
-
Sấu, Qui = phương nước, ngược với phương nóng.
-
Long, Rồng =phương đông.
-
Tịnh = phương tây.
Xác
định như trên ta có thể khẳng định Trung Hoa hiện
nay không
thể là quê hương của Dịch Lư được v́ không
thể t́m được
vùng đất khi xưa của Trung Hoa mà phương
đông là biển
và phương tây có voi. Chỉ có miền Trung
của Việt Nam
mới hội đủ tính chất chỉ định của 6 chữ
“nguyên
h́nh” hay “điểu thú văn” như phần trên.
Hổ ở Trường
Sơn và Nam Lào đă nổi tiếng từ lâu
rồi, về
hướng bắc th́ đồng bằng Bắc Bộ vài ngàn
năm trước là
vùng đầm lầy chắc chắn lư tưởng cho
loài sấu. Về
hướng đông là biển, đúng là quê hương
của rồng và
hướng tây… chỉ tên nước Lào triệu voi”
cũng đủ minh
chứng. Trong lănh vực tâm linh, tất cả các
đền, miếu
của Việt Nam đều có h́nh Hạc hay Hồng Hạc
đứng trên
mai Rùa tượng trưng cho Trời và Đất như thế
đă hoàn toàn
đầy đủ rồi.
Dịch
Lư đă là tài sản của cả nhân loại, phát nguyên từ
đâu không
phải là điều quan trọng đối với thiên hạ;
nhưng đối
với người Việt Nam th́ khác, nếu không thể
làm sáng tỏ
về quê hương Dịch Lư th́ mắc lỗi với
tiền nhân.
Người xưa đă lao tâm khổ tứ biết bao mới
có thể kư
thác được những giá trị vĩnh hằng vào trong
đấy làm tài
sản cho con cháu vào đời, quá khứ không
phải qua đi
là hết, ḍng linh khí từ quá khứ sâu thăm
thẳm vẫn
liên tục chảy về hiện tại tạo thành sức mạnh
tâm linh vô
song cho mỗi người, dù tiếp nhận trong vô
thức nhưng
ḍng linh khí đó thể hiện rơ rệt và trở
thành bản
lĩnh sống, thành năng lực bẩm sinh của trí
tuệ, hun đúc
trong mỗi người chúng ta và trở thành
động lực
thúc đẩy tiến nhanh về phía trước. Nếu
cắt đứt sự
liên thông với quá khứ ở một mốc thời
gian nào đó
th́ ḍng lịch sử truyền đời sẽ ngắn lại
tương ứng,
và hậu quả là “nhăn tiền” lẩn quẩn măi
trong ṿng
lạc hậu so với thiên hạ, đấy cũng là lư do
để ta nỗ lực
vượt bực mong t́m được đích xác
nguồn gốc
ḍng giống của ḿnh; xác định cho được bản
quyền dân
tộc trên Dịch Lư, một siêu phẩm của minh
triết và
khoa học, cũng tức là nối được ḍng “kinh
lạc” thời
gian với quá khứ ngàn đời cho linh khí từ
chục vạn,
thậm chí hàng triệu năm tuôn tràn về hiện
tại. Chỉ khi
cuộc sống và việc tổ chức cuộc sống của
chúng ta
được đặt trên nền tảng của Dịch Lư th́ dân
“trống đồng”
mới có cơ phục hồi địa vị là ánh
đuốc dẫn
đường cho nhân loại như thời “hồng hoang”
mà sử sách
đă ghi là Hồng Bàng Thị (hồng trong tiếng
Việt cũng có
nghĩa là bó đuốc, ánh đuốc, ngọn lửa
hồng.)
D. Đôi điều
về Hán sử
Đọc
lịch sử Trung Hoa ta nhận thấy một số điểm cần
phải lưu ư:
1.
Khuynh hướng Hán sử là lịch sử một vùng đất,
nghĩa là
trên phần đất gọi là lănh thổ Trung Hoa ngày nay
từ thái cổ
cho đến bay giờ, bất kỳ dân tộc nào làm
chủ trên
phần đất đó đều được gọi là một “nhà”
của quốc gia
Trung Hoa, khuynh hướng này đem đến hệ quả
là đánh
đồng: thời tự chủ cũng là một nhà, thời dân
Trung Hoa bị
ngoại bang cai trị cũng được coi như một nhà.
Thí dụ: thời
độc lập huy hoàng của dân Trung Hoa như
Đường, Tống
sử cũng gọi là nhà Đường, nhà Tống.
Thời bị quân
Hung Nô và người Măn cưỡi đầu cưỡi cổ
th́ sử cũng
gọi là nhà Nguyên, nhà Thanh; viết sử kiểu
này th́ ở
Việt Nam sẽ có nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lư, nhà
Trần, nhà
Lê, nhà Nguyễn, nhà Tây (Pháp), … như vậy sao
c̣n có thể
gọi là lịch sử dân tộc nữa mà là thứ quái
thai “đầu
Ngô ḿnh Sở”.
2.
Chắc chắn Hán sử thời Tần, Hán trở về trước là
sách dịch từ
một ngôn ngữ khác sang Hán tự nên những
từ được
người dịch cho là danh từ riêng th́ được kư
âm bằng Hán
tự. Nên thành những từ không có nghĩa trong
Hán tự, hoặc
là theo một nghĩa áp đặt phải giải thích
ḷng ṿng.
Thí dụ: ông Bàn Cổ … chẳng có nghĩa ǵ cả
hay với
nghĩa chẳng liên quan ǵ đến lịch sử… (Bàn Cổ
= bàn cũ);
Toại Nhân: được giải thích là khoan cây lấy
lửa.
Thủy
tổ bào Hy, vua thái cổ, có vị trí vô cùng quan trọng
trong lịch
sử văn minh Trung Hoa th́ lại có tên rất kỳ
khôi, không
thể hiểu nổi: Bào = nhà bếp; Hy = súc vật.
Nhà bếp +
súc vật th́ nói lên được điều ǵ trong lịch
sử? Và c̣n
nhiều lắm: nào Xuy Vưu, nào Xuyên Húc, … có
nghĩa là ǵ
trong ngôn ngữ Hán?
3.
Sử Trung Hoa tính theo âm lịch nên cứ 60 năm lại trở
lại từ đầu,
có thể nói cổ sử Trung Hoa có thời gian
tùy ư; cũng
là năm Giáp Tư, Tân Măo … nhưng có thể cách
đây với ước
số của [(n) năm] hay [(n) (60) năm], v́ vậy
rất dễ tùy
tiện ấn định, có thể lệch nhau vài ngàn
năm không
chừng. Phải đợi đến nhà Tây Hán trở đi khi
vua bắt đầu
có niên hiệu, th́ việc kết hợp lịch Can
Chi với niên
hiệu của triều đại mới có thể ấn định
thời gian
chính xác … nhưng chưa phải đă ổn v́ niên
hiệu vua
cũng trùng lắp rất nhiều.
4.
Trên phương diện địa lư Trung Hoa cổ cũng dễ lẫn
lộn.
Nghiên cứu kỹ ta thấy người Trung Hoa kết cấu các vùng
lănh thổ của
ḿnh luôn luôn theo cách định một trung tâm
và 4 phương
8 hướng chung quanh mà Dịch Lư gọi là ‘cửu
cung’, nhưng
lănh thổ một quốc gia đâu có phải là lănh
thổ chết mà
nó luôn dịch chuyển biên giới, khi mới
thành lập
chắc chắn chỉ là một vùng đất nhỏ bé, theo
thời gian do
có sự tăng trưởng về dân số và tiến bộ
về khoa học
– kỹ thuật lănh thổ quốc gia sẽ mở rộng
cho tới khi
giáp giới với các quốc gia khác nó sẽ dừng
lại … rồi
chiến tranh sẽ xăy ra giữa các dân tộc, lănh
thổ cũng
bành trướng hay thu hẹp tùy vận hưng suy của
quốc giạ
V́
lư do cũng là vùng “giao” hay Trung Nguyên nhưng mỗi
thời mỗi
khác, Trung Nguyên hay Ngũ Lĩnh của nhà Thương
không phải
là Trung Nguyên của nhà Hạ, hay nhà Chu, càng
không phải
là của nhà Thanh, nhà Nguyên. Khi trung tâm thay
đổi th́ 4
phương, 8 hướng sẽ thay đổi theo. Thí dụ:
đất Thục có
nghĩa là đất phía tây … nhưng Thục đời
Thương và
Thục thời Tam Quốc chẳng dính dáng ǵ với nhau
cả, cũng là
Kinh Man nhưng thời Cổ và thời Trung Cổ là
đất hoàn
toàn khác nhau. Hệ quả là đọc sử Trung Hoa
phải lưu ư:
cũng là Cửu Châu: Duyệt, Kư, Thanh, Từ, Dự,
Kinh, Lương,
Hy, Tương … nhưng Cửu Châu thời Hoàng Đế
… chẳng díng
dáng đến Cửu Châu thời Tam Quốc, và khi
nh́n vào Cửu
Châu được xác định trên bản đồ hiện nay
th́ ta phải
hỏi đó là Cửu Châu nào? Chắc chắn không
phải Cửu
Châu đời Thái Cổ rồi, v́ điều kiện vật
chất, kỹ
thuật lúc đó không cho phép tồn tại một đất
nước to lớn
như thế.
Tương tự, ta thấy các nước Tấn, Triệu, Yên, Tề V.v…
thời nào
cũng có, nhưng Tấn, Triệu, Yên, Tề, Sở thời
Chiến Quốc
không phải là những Tấn, Triệu, Yên, Sở về
sau, bằng
chứng là khi rợ Ngũ Hồ xâm chiếm Trung Nguyên
tức chủ
quyền dân tộc không c̣n, dân Trung Hoa làm thân
nô lệ …
nhưng các rợ lại cũng lập nên các nước:
Tấn, Triệu,
Yên, Tề … V́ thế khi đọc sử Trung Hoa nếu
không để ư
ta sẽ rơi vào t́nh thế không phân biệt
được trắng
đen, đánh đồng kẻ xâm lược và người
mất nước,
thậm chí c̣n có thể đảo ngược Hồ với
Man, Man ra
Hồ, Hồ ra Man như ta sẽ thấy ở phần sau.
5.
Trong lịch sử Trung Hoa đă có ít ra là một lần đảo
cực Bắc Nam.
Sự đảo cực này không phải là do biến cố
vũ trụ đưa
đến sự đảo cực từ của trái đất như khoa
học đă biết
mà là đảo cực do chủ ư của con người, mục
đích của sự
đảo cực này ta sẽ xem xét ở phần sau, ở
đây chúng ta
chỉ cần biết đă có xăy ra như thế nên
mới có cảnh
tréo ngoe … kim chỉ nam, đă rơ ràng là chỉ
nam như tên
gọi sao lại luôn chỉ về hương Bắc?
Ở
Việt Nam có Aûi Nam Quan, là mốc phân định biên giới
với Trung
Hoa ở phương bắc, và mọi người dân Việt ta
thuộc nằm
ḷng câu: “… đất nước ta từ Aûi Nam Quan
đến mũi Cà
Mau” nam quan của ta nghĩa là cửa hướng nam,
nhưng lại
quay sang phương bắc, thực là không hiểu nổi.
Ta sẽ hiểu
ngay những điều trên khi ta thấy rằng có bản
đồ thời quân
chủ Việt Nam c̣n lại đều chỉ hướng bắc
hiện nay là
hướng nam đúng theo phương của Dịch Lư. Hậu
thiên bát
Quái cổ xưa vẽ Quẻ Ly là lửa ở dưới, Quẻ
Khảm là nước
ở trên … khiến các vị túc nho cả ta lẫn
Tàu không
hiểu phải thốt lên: ‘Dịch nghịch lư số’;
nước lại ở
trên lửa mà cứ phải hiểu … th́ vỡ đầu
ra mất.
Nếu
t́m hiểu thấu đáo ta thấy có một sự thống nhất
kỳ lạ giữa
cổ xưa và hiện đại về qui tắc đồ bản.
Tiền nhân
xưa đă đặt vị trí các quẻ trong Hậu Thiên
Bát Quái
theo chiều xích đạo và địa cực bắc (hướng
bắc hiện
nay, chứ không phải là hướng bắc cổ xưa của
Dịch Lư). Để
dễ hiểu ta h́nh dung theo vị trí địa lư
của Việt Nam
và Trung Hoa, cả hai nước đều ở Bắc (hiện
nay) Bán
Cầu. Việt Nam ở gần đường xích đạo hơn nên
cũng nóng
hơn Trung Hoa v́ vậy chiều Hoả – Thủy của Dịch
Lư là Việt
Nam hướng hoả và ngược lại Trung Hoa hướng
thủy. Theo
qui tắc vẽ bản đồ các vùng trên trái đất
hiện nay th́
hoả phải nằm dưới, thủy phải ở trên như ta
đă thấy,
Dịch đâu có “nghịch lư số” chỉ tại ta dùng
hệ qui chiếu
không đúng nên thấy thế thôi.
Dịch
Lư cũng có một qui luật nữa thể hiện ở Hà Thư,
“nhăn quan”
của Dịch Lư xác định một điểm bằng tâm
và các ṿng
đồng tâm kế tiếp, ṿng nào gần tâm hơn là
ṿng trong
và ṿng xa hơn là ngoài; trên và dưới cũng chỉ
là vị trí
đặc biệt của trong và ngoài mà thôi; đối
với mặt
phẳng nằm ngang của đất đường xích đạo
được định là
tâm do vậy miền Nam Việt Nam là đàng
trong, và
miền Bắc là đàng ngoài. Miền nam là phương
lửa, Quẻ Ly
là vùng viêm, ôn, nhiệt, nóng, bức … ngược
lại miền bắc
là phương nước, phương Thường (B́nh)
không nóng
hay ít nóng hơn. Khi đặt chiều thủy hoả trên
mặt ngang ta
dễ nhận ra hơn.
Một
điều phải lưu ư nữa khi t́m hiểu lịch sử và Dịch
Lư là ta
phải đặt ḿnh vào đúng thời điểm phát sinh
vấn đề th́
ta mới hiểu hết, hiểu đúng những ǵ xăy
ra vào lúc
ấy. Ngôn từ cũng có đời sống, có sự phát
sinh phát
triển của nó, nếu chúng ta cứ dùng ngôn từ
ngày nay mà
xét việc xưa có khi cách ta đến chục ngàn năm
th́ e không
đúng bản chất sự việc: Ngày nay ngôn ngữ
Việt Nam và
chữ Hán đều lên đến trên trăm ngàn từ,
nhưng thời
nhà Hiếu (Tây Hán) tức trước thời điểm
trước Công
Nguyên một chút th́ tự vị lúc đó là khoảng
6000 từ, đấy
là cách nhau 2.000 năm, nếu lùi xa 5.000 hay
10.000 năm,
th́ lúc đó tiền nhân của chúng ta có bao nhiều
từ? Chắc là
ít lắm v́ thế không ngạc nhiên khi chỉ
với một mă
tin của Dịch Lư sau này biến thành cả chục
từ chỉ các
lănh vực khác nhau trong thiên nhiên và đời
sống.
Đi
ngược ḍng thời gian tới buổi b́nh minh của văn minh
con người,
tức những vấn đề cốt lơi của Dịch Lư ta
có thể xác
định những mă tin cơ bản hay mă nền như sau:
Dương là những ǵ con người nh́n thấy.
Âm
là những ǵ con người không nh́n thấy.
Dịch Lư
gọi là Lưỡng Nghị
Tách
phân thế giới thêm một bước nữa:
Thái
Dương là những ǵ cụ thể có thể nắm bắt
được.
Thái
Âm là những ǵ vô h́nh, trừu tượng không thể sờ
nắm được.
Thiếu Dương là những ǵ có thể thay đổi.
Thiếu Âm là những ǵ không thay đổi.
Đó
là Tứ Tượng tức bằng 2 Lưỡng Nghi, hay Lưỡng Nghi
của Lưỡng
Nghị
Ta
đặt 4 Tượng thành đồ h́nh để dễ nhận ra hơn:
Từ
mă nền khi vận dụng vào lănh vực nào đó, ta có
những mă tin
thông thường của Dịch Lư.
Thí dụ: Từ
mă nền “không đổi” khi vận dụng vào thể
chất của một
vật ta có mă tín cứng (≠ mềm) vào sự
dịch chuyển
của một vật so với chung quanh ta có mă tin
Tịnh hay
định (≠ động) hay tương quan giữa con người và
tự nhiên
được thiết định trên cái nền những qui luật
bất biến gọi
là Lư (≠ cảm, t́nh). Và trong các đồ
h́nh của
Dịch Lư mă nền “không đổi” được đặt ở
phương tây,
ban chiều.
Phương tây là phương căng – cứng (mă tin Dịch)
Phương đông là phương mềm – nhũn (mă tin Dịch)
Căng
và nhũn là 2 từ thuần Việt lại là biến âm của 2
can trong
Thập Thiên Can (có lẽ phải nói ngược lại mới
đúng)
Căng
= Khang = Quí = 9 = phương tây
Nhũn
= Nhung = Nhâm = 8 = phương đông
Như
ta nói ở phần Dịch Lư trước. Những mă tin thông
thường hay
dùng nhất, hay được nói đến nhiều nhất
trong Dịch
Lư là:
Về 4
phương, ta nhận thấy Việt Nam là nước duy nhất
dùng Hậu
Thiên Bát Quái để chỉ phương hướng. Ngày nay
vẫn gọi
phương tây là phương đoài, có câu thơ của
Nguyễn Công
Trứ, một danh nhân Việt Nam:
“Làm
trai cho đáng nên trai
Xuống đông đông định, lên đoài đoài tan.”
Ta
thấy đông tức động nên khi người trai xuống mới
định lại –
chữ đông ở đây cũng chỉ quẻ Chấn trong
Bát Quái –
Chấn là là động ngược lại Quẻ Đoài chỉ
phương tây
là Tụ, tích tụ nên phải tan ra.
Như
thế phương hướng của người Việt xưa là:
Quẻ
Ly là biến âm của từ ‘Lửa’, lửa là nóng nên
phải ở hướng
xích đạo, vùng nhiệt, viêm, ôn, nóng bức,
c̣n phương
đông phải gọi là phương động – là tính
chất của Quẻ
Chấn. 4 phương hiện nay: Nam – Bắc –
Đông – Tây
th́ Bắc – Nam cũng là từ thuần Việt.
-
Bắc = bức = nóng – viêm nhiệt.
= bấc = nhẹ
như bấc (nặng như ch́)
= bốc
dịch nói lửa bốc lên, nước rút xuống
-
Nam = nom là nh́n, Hán từ là quan. Nếu tay mặt hay tay
mục của ta
đặt vào phía mặt trời mọc, tay trái hay tay
chiêu đặt ở
hướng ban chiều tức hướng mặt trời
lặn th́
hướng ta nh́n hay nom là hướng bắc hiện nay –
như thế so
với phương hiện nay đă có sự lật ngược
Nam bắc
không biết từ bao giờ.
Với
người Thái – Tày: nam = nậm nghĩa là con sông –
cũng phù hợp
với sự ấn định của Dịch Lư và như ta đă
biết ở phần
trước số 6 trong Thập Can là Canh hay kênh
hay kinh
cũng là chỉ con sông – con lạch (kênh – lạch) –
chỉ hướng
nam ngược với Hồ, Hà, Hải chỉ hướng nóng
bức tức
phương Bắc.
Phải
dẫn giải dài ḍng như thế để ta quen với sự vận
dụng Dịch Lư
hay đúng hơn phần âm hay thanh của các mă tin
trong Dịch
Lư hầu làm rơ cái đúng trong việc t́m sự chân
xác của lịch
sử, một trường hợp là phương Sóc trong
cổ sử. Sóc
là biến âm của xích, xích là màu đỏ, như
thế sóc
phương tức phương Bắc bắt buộc phải là
hướng xích
đạo, hướng nóng tượng trưng bằng màu đỏ
trong ngũ
sắc, là hướng của Quẻ Ly trong Hậu Thiên Bát
Quái, hướng
Hành Hoả trong Ngũ hành, hướng số 2 – 7
trong Hà Đồ
đặt nằm ngang, số 7 chữ Nho đọc là
‘Sách’ cũng
là âm của xích màu đỏ.
Một
khi đă xác định được như thế đồng thời cũng
khẳng định
những chỉ dẫn vị trí các nước từ thời
Xuân Thu
Chiến Quốc trở về trước đều không thể đúng
như sách sử
Trung Hoa đă vẽ ra, thậm chí là đảo lộn
tất cả.
C̣n tiếp...
Nguyễn Quang
Nhật