 |
DIỄN ĐÀN
NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA
Ngừoi Quốc Gia là những người
đặt tổ quốc lên bản vị tối cao
Tối cao có nghĩa là trên tất
cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v..
Trích VN Tự Điển của Đào Duy
Anh |
|
Nationalist Vietnamese Forum |
Home
Sử Thuyêt'
Họ Hùng
Nguyễn Quang
Nhật
LTS: TCCM
xin giới thiệu với bạn đọc một bài nghiên cứu
về sử thuyết
của Họ Hùng Vương. Trong bài nghiên cứu
này, tác giả
đă mạnh dạn, dựa trên các dữ kiện đă
được tác giả
tŕnh bầy, đặt câu hỏi về lịch sử Trung
Hoa, và v́
thế ảnh hưởng đến nền lịch sử Việt Nam do
phần nhiều
dựa trên các sách sử biên chép của Trung Hoa.
Chúng tôi
sẵn sàng đăng các bài phản bác hoặc đồng
thuận với
quan điểm này, theo đúng như tiến tŕnh sàng
lọc khoa học
để các học giả khác có cơ hội chỉ trích và
phê b́nh.
PHẦN I: LUẬN
BÀN VỀ SỬ VIỆT-HOA
A. Sự biến
âm trong tiếng Việt
Cũng
như bao sự việc khác, ngôn ngữ phát triển và biến
đổi theo
từng thời gian, và vị trí địa lư, nó thay đổi
theo từng
vùng và dân tộc. Nếu không đi nhiều cũng như
không tiếp
xúc với các phương ngữ ở các địa phương
khác nhau,
ngay chính người Việt ở thời truyền thông
hiện đại, sự
giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt cũng
chưa đạt đến
sự hiểu nhau trọn vẹn theo mong muốn.
Ta
có thể nói là có sự khác nhau, chứ không nên xác
định là sai
hay đúng; chỉ có thể nói sai hay đúng về
chính tả so
với chuẩn quốc gia, mà chuẩn quốc gia cũng
là một qui
định, cùng nhau qui ước là viết như thế và
đọc như vậy
cho thống nhất trong một chuẩn để thông
tin, chuyển
tải ngôn ngữ đạt được sự chính xác –
tránh việc
ông nói gà bà hiểu ra là vịt.
Ta
có thể nêu vài sự khác biệt hay thay đổi lớn trong
ngôn ngữ
Việt ngày nay:
-
Trước đây khoảng trăm năm, khi được “La Tinh hóa”
Quốc ngữ ,
âm ‘tr’ được viết và đọc là ‘bl’,
thí dụ: Blời
→ Trời; Blâu → Trâu
Không phải thay đổi rồi thôi mà có nhiều chữ vẫn song
hành như:
rung rinh → lung linh
Vẫn
c̣n nhiều sự biến đổi khác, nếu không hiểu rơ,
có thể ta sẽ
hiểu sai hay không hiểu nổi nhiều vấn
đề, nhiều sự
việc của quá khứ xa xôi.
Với
âm ‘l’ nhiều người miền Bắc phát âm với âm
‘n’. Thí dụ:
phương Nam → phương Lam; làng nước →
nàng lước.
Nếu
sự thay đổi âm ‘l’ và ‘n’ lại chồng lên sự
thay đổi của
âm ‘r’ và ‘l” th́ sự khác biệt đi
quá xa coi
như không có sự liên quan, … nhưng nếu chúng
biến đổi qua
nhiều tầng nấc trung gian chúng lại có liên
quan với
nhau.
‘rú’
trong ‘rừng rú’ có nghĩa là ‘núi’, ta xem
diễn biến
chuyển đổi như sau:
rú →
lú → lúi → núi
r→
l l→ n
rừng
→ lừng → lừm → lùm (bụi)
lâm (Hán-Việt)
Lần
theo từng mắt xích như trên, ta thấy rơ ràng
“lâm” đâu có
phải là từ ngoại. C̣n có nhiều thay
nếu đổi
không biết sẽ không hiểu nổi nhiều vấn đề
của lịch sử
như:
Âm
‘r’ c̣n có thể biến âm thành ‘d’ như: râm (bóng
râm) → bóng
dâm
Âm
‘l’ biến âm thành ‘nh’: ló → lú (lên) → nhú
(lên), nhô
(lên); lớn lao → nhớn nhao
Từ
kép: siu siu (ngủ) → thiu thiu (ngủ)
siêu siêu (ngủ)
Cũng
có nhiều sự khác biệt rất lớn giữa phương ngữ
miền Bắc và
phương ngữ Nam bộ, chỉ xin khái quát vài
điều rơ ràng
mà thôi:
- Âm
‘v’ miền Bắc, miền Nam đọc thành ‘d’, ngay
trong cách
phát âm tên quốc gia cũng có sự khác biệt:
Việt
Nam → diệc nam (viết theo cách phát âm); nếu nói
“Việt” từ
gốc Hán có nghĩa là “vượt” th́
“diệc” hay
“diệt” là ǵ?
Âm
‘h’ ở miền Bắc th́ ở miền Nam biến thành
‘gh”; tương
tự âm ‘q’ cũng vậy.
Thí
dụ: đi hoài → đi ghoài (măi)
quốc gia → ghuấc gia hay guốc giạ
Nguyên âm tiếng Việt như:
‘u’
biến thành ‘o’, như tùng → ṭng
‘u’
biến thành ‘âu’, như chu → châu
‘â’
biến thành‘ư’’, như nhất → nhứt, chân →
chưn
Lúc
xưa chữ ‘khởi’ đọc là ‘khỉ’; chữ ‘mày’
miền Trung
đọc là ‘mi’, ‘ông’ → ‘ôn’. Như thế
sự khác biệt
thiên h́nh vạn trạng. Đó mới chỉ là
chuyện trong
nhà, c̣n xét đến từ thuần Việt và Hán
Việt c̣n
nhiều điều phải bàn lắm như chữ ‘lâm’ và
‘lùm’ ở
trên.
Ta
quen gọi là từ Hán Việt, thực ra chưa chắc như thế,
nhiều khi
c̣n ngược lại là đằng khác. Thí dụ: sông và
xuyên; sưng
và sơn; kênh lạch và kinh lạc.
Có
nhiều từ xét về sự hợp lư theo thời gian cấu
thành, tưởng
là xuất phát từ Hán tự nay chỉ là từ
biến âm theo
từ “Nôm”. Thí dụ: người Việt thường
nói, họ hàng
– hang hốc; nếu nghiệm ra ta thấy đây là
cặp từ ghép
mang tính giải thích, chú dẫn về nguồn
gốc: ‘hàng’
xuất phát từ ‘hang’, ‘họ’ phát xuất
từ ‘hốc’. Từ
thưở hồng hoang khi con người c̣n
“ăn hang ở
lỗ” th́ mỗi một hang là nơi cư trú của
một thị tộc
gồm từ vài chục đến vài trăm người, và
nhiều hang
như thế hợp thành một bộ tộc hay bộ lạc,
trong mỗi
hang lại có nhiều ngơ ngách gọi là ‘hốc’,
mỗi hốc
thường là nơi cư trú của một đại gia đ́nh;
sau này dù
c̣n người không c̣n ở hang nữa nhưng từ
‘hang’ và
‘hốc’ vẫn được dùng để chỉ một tập
thể người có
liên quan với nhau.
Có
điều đặc biệt là chúng không dừng lại ở tiếng
Việt mà c̣n
biến thành từ Hoa hay từ Hán Việt:
hang → hàng (Việt)
hương (Hoa)
hốc → họ (Việt)
hữu (Hoa)
Vậy
ta có thể quyết định xem nhóm từ hang – hốc →
hương – hữu
là từ Việt gốc Hán hay là từ Hán gốc
Việt? Xét về
mặt lịch sử h́nh thành th́ không thể nào
nói khác đi:
đó là từ Hán gốc Việt.
Tương tự như vậy, khi ta xét cặp từ ‘kênh lạch’ và
‘kinh lạc’:
‘kênh lạch’ là đường dẫn truyền nước
trong tự
nhiên có trước khi con người và hệ ngôn ngữ
xuất hiện,
sau nó được định danh là ‘kênh’ và
‘lạch’; c̣n
‘kinh lạc’ là đường dẫn truyền khí
huyết trong
con người; nó là thành tựu tuyệt vời của
nền khoa học
nói chung, y học Trung Hoa nói riêng tức là lúc
con người đă
văn minh lắm rồi, nói như vậy chắc chắn
từ ‘kinh
lạc’ bắt nguồn từ ‘kênh lạc’.
Các
nhà ngôn ngữ học ngày nay xác định hơn 50% từ Việt
là từ Hán
Việt – nói như thế có 2 điều phải bàn:
1.
Có hơn 50% là từ Hán Việt là mới xem xét đến số
lượng từ
dùng chung, c̣n cộng cả số từ biến âm, bắt
nguồn từ
nhau th́ tỉ lệ lẫn lộn Việt – Hoa c̣n lớn
hơn nhiều.
2.
Nói từ Hán Việt là từ Việt có nguồn gốc ở ngôn
ngữ Hán là
thói quen có tính áp đặt; sự áp đặt này
xuất phát từ
ưu thế số lượng mà ra. Khách quan mà xét
th́ sự áp
đặt trên có nguồn cơn từ lịch sử, qua hàng
ngàn năm
nước Việt chỉ là một chư hầu của nước Hán
(ta cứ tạm
gọi như thế), rơ ràng như vậy chư hầu chỉ
là cái cành,
cái lá của cái gốc thiên triều…. nên nói
từ ‘Hán
Việt’ hay từ Việt gốc Hán là hợp lư và
nhiều người
mặc nhiên chấp nhận, coi như chuyện b́nh
thường,
không ai thắc mắc, từ quan tới dân, từ trí
thức tới
người tốt nghiệp b́nh dân giáo dục không ai
đặt dấu chấm
hỏi.
Như
đă dẫn ở vài thí dụ ở trên, chuyện không đơn
giản như
quán tính lịch sử đă tạo nên, 2 ngôn ngữ Hoa
Việt quấn
quưt vào nhau chặt chẽ hơn ta tưởng, ngay trong
Kinh Dịch là
linh hồn của văn minh Trung Hoa cũng không phải
là thấp
thoáng, mà tràn đầy tiếng Việt!?
Quẻ
Lửa → Ly
Sấm
→ Chấn
Tán
(Toán) → Tốn
Kiềng, Càng→ Kiền, Càn
Cản
→ cản → Cấn
Cẳm
→ Khảm (cảm thấy), Căm (mờ)
Khôn
th́ rơ ràng là từ Việt (khôn ngoan, trí khôn hay
khuân vác,
khuân mang)
Lịch
sử và văn minh Trung Hoa cũng rơ ràng kết cấu gằng
“gạch” Việt,
như:
ḥn
→ hoàng (xuất phát từ Kinh Dịch: trời tṛn)
viên → vương
vua
→ vũ
cha,
chúa → chu, chiếu, triệu (họ)
bản
(làng) → bang (quốc)
gốc
(→ guốc) → quốc, nhà → gia
giêng – hai → giang – hồ (hải)
lu
(mờ) → người Liêu
lu
căm, mờ căm → người Kim
mun
(đen) → mông, minh, Măn )người)
Đặc
biệt 2 từ có mối liên hệ quan trọng đến vận
mệnh nước
Hán là “quan” và “từ” lại được dịch
từ chữ Nôm:
“quan” là dịch từ chữ ‘nh́n’, chữ
‘nom’; “từ”
dịch từ chữ ‘thương’ (t́nh thương).
Quan
Trung: vùng đất phía nam. Quan thoại: tiếng nói
phương nam.
Quang Vũ (viết Quan thành Quang): ông vua khai
sáng triều
Đông Hán: vua phương Nam (đâu phải đất Trung
Hoa).
Chữ
“từ” là dịch từ chữ “thương” của tiếng
Việt. Theo
Dịch lư, th́ phương đông là phương của t́nh
cảm (quẻ
Khảm), nghĩa là phương của sự thương cảm giữa
người và
người (trong chữ Hán, thương lại là thương
tật, bi
thương) đồng thời phương đông cũng là phương
của màu
xanh.
Xanh → thương – thanh, nên sau này có nhà Thương, nhà
Thanh. Như
thế: từ = thương = phương đông chính là vùng
Sơn Đông
hiện nay, xưa là đất nước Tề (Từ → Tề).
Nhưng kẹt
một điều là lịch sử Trung Hoa lỡ gọi là Nam
Man, Đông
Di; như thế chữ gọi là man – di lại chỉ ngay
vùng Hà Bắc,
đất tổ của nhà Đông Hán và Sơn Đông là
đất nước Tề
(Từ) thời Chiến Quốc, nước Ngụy thời
Tam Quốc mà
đă là man – di th́ Hán Quốc, Ngụy Quốc
không thể
nào là Trung Hoa được.
Về
sự thiên biến, vạn hóa trong tiếng Việt giữa xưa
và nay, ta
đơn cử một đoạn trong sớ tấu của Trần
Cương Trung,
sứ giả nhà Nguyên (thế kỷ 13) dâng lên vua
theo bản
dịch của Lê văn Siêu trong Việt Nam Văn Minh Sử
như sau:
“Tiếng nói của dân Tru Ly gọi ‘trời’ là
‘bột mạt’,
‘mặt trời’ là ‘phù bột mạt’,
‘mặt trăng’
là ‘bột văn’, ‘gió’ là ‘giáo’,
‘mây’ là
‘mai’, ‘núi’ là ‘can ngỗi’,
‘nước’ là
‘lược’, ‘mắt’ là ‘mạt’,
‘mồm’ là
‘mạnh’, ‘cha’ là ‘chá’, ‘mẹ’ là
‘ná’, ‘con
trai’ là’can đa’, ‘con gái’ là ‘can
ái’, ‘chồng’
là ‘chùng’, ‘vợ’ là ‘đà bị’,
‘tốt’ là
‘lĩnh’, ‘không tốt’ là ‘chương
lĩnh’, cả
thảy là như thế, tiếng nói gấp mà nổi,
phần lớn
giống như tiếng chim, …”
Chắc
chắn phiên âm tiếng Việt bằng chữ Hán có nhiều
lệch lạc,
nhưng qua đó ta vẫn c̣n nhận ra:
‘gió’ là ‘giáo’
‘mây’ là ‘mai’
‘nước’ là ‘lược’
‘mặt
trăng’ là ‘bột văn’ (âm Nam bộ = dăng =
trăng; chữ
‘bột’ không đoán được)
‘mắt’ là ‘mạt’
‘mồm’ là ‘mạnh’ (miệng)
‘cha’ là ‘chá’
‘mẹ’
là ‘ná’ (má, nạ)
‘con
trai’ là’can đa’
‘con
gái’ là ‘can ái’
‘chồng’ là ‘chùng’
‘vợ’
là ‘đà bị’ (đàn bà)
‘tốt’ là ‘lĩnh’ (lành)
‘không tốt’ là ‘chương lĩnh’ (chẳng lành), những
chữ c̣n lại
không thể đoán ra được, đặc biệt tên
của dân tộc
ta viết là ‘Tru Ly’ có thể đoán: ‘Tru’
biến âm của
từ ‘chúa’; ‘Ly’ biến âm của từ
‘Lửa’ nghĩa
là dân của vua lửa hay vua vùng nhiệt
đới, hoặc
Tru là biến âm của ‘chiêu’ nghĩa là phương
tây; ly là
lửa chỉ hướng xích đạo tức hướng bắc
(bức) theo
Dịch Lư. Như thế dân Tru Ly là dân sống ở
miền tây bắc
(Dịch Lư) tức hướng tây nam ngày nay.
Mới
700 năm mà đă khác xa như thế, nói chi đến 2, 3
ngàn năm
trước!? Hỏi c̣n bao nhiêu từ cổ mà ngày nay
chúng ta
nhận ra được?
Ở
đoạn trên, riêng từ ‘núi’ là ‘can ngỗi’ có
thể đoán:
‘can’ là ‘cấn’, một quẻ trong Bát Quái,
tượng trưng
cho ‘núi’ và chúng ta chú ư từ ‘nước’
là ‘lược’ v́
nó có liên quan đến quốc hiệu cổ xưa
của Việt Nam
mà ta sẽ t́m hiểu ở phần sau.
Về
sự liên quan giữa ngôn ngữ Hán và Việt c̣n nhiều
khía cạnh
phải xem xét. Thí dụ: tên Nôm và tên chữ của
một số địa
danh ở Việt Nam , tên Nôm là tên gọi, nói;
tên chữ là
tên viết bằng Hoa tự như:
Làng
Vầy → Làng Sơn Vi
Làng
Tó → Làng Vũ Đại
Vi
là Vây (cái vây cá); từ ‘Vầy’ → ‘Vây’, kư âm
Hán tự là
‘Vi’ như thế nếu nói ‘Vi’ là từ Hán
Việt e không
đúng, ‘Vi’, ‘Vây’, ‘Vầy’chỉ là
những phương
âm của cùng một chữ mà thôi.
C̣n
‘Tó’ viết thành ‘Vũ Đại’ mới đúng là dịch
sang Hán tự;
tó là to, to → đại.
Việc
dịch những danh từ riêng của Việt sang Hán tự cũng
gây đau đầu
lắm! Như từ ‘Vũng Quưt’, một địa danh
ở miền Trung
của Việt Nam , nếu hiểu ‘Vũng’ là danh
từ chung là
một vùng nước sát đất liền tương đối
được che
chắn kín gió, … như Vũng Tàu, Vũng Rô, th́
chữ ‘vũng’
là ‘Vịnh’ trong Hán ngữ. ‘Quưt’ là
tên riêng
hay ‘Quất’ (Hán) ta có chuyển thành ‘Quất
Vịnh’ có thể
nhận ra, c̣n nếu phiên âm theo Hán tự
để viết
thành ‘Dung Quất” th́ sai xa lắm, người dân
ở Vũng Quưt
đọc lên và ngở là một địa danh nào đó
bên Trung
Hoạ
Việc
dùng Hán tự để kư âm các từ gốc La Tinh đôi khi
tạo nên
những cụm từ … quái dị …, về nghĩa th́ không
có rồi, và
về âm th́ chuyển đi xa lắc xa lơ … phải có
óc tưởng
tượng siêu lắm mới t́m thấy sự liên quan,
như:
England kư âm thành Anh Cát Lợi. France thành Phú Lăng Sa.
Washington →
Hoa Thịnh Đốn. (ông) Ghandi → (Thánh) Cam
Địa, v.v…
Khổ một nổi sự kư âm này là bắt buộc v́
2 hệ thống
ngôn ngữ khác nhau hoàn toàn nên không có cách
nào khác.
Tới
đây người đọc có thể thông cảm với người viết
và mặc nhiên
chấp nhận một độ lệch nào đó của âm
tiết khi dẫn
chứng tư liệu lịch sử Việt Nam từ cổ
đại cho đến
cận đại v́ tất cả được viết bằng chữ
Hoa hay nói
rơ hơn là những từ Việt được kư âm bằng
chữ Hoa, sự
lệch lạc đôi khi rất xa, nhưng ta có thể
nhận ra được
nếu nó nằm trong một thể hoàn chỉnh, có
đầu có đuôi,
có đối chứng V.v… nếu có hẳn một hệ
thống xuyên
suốt th́ trở nên hiển nhiên, rơ ràng không
phải bàn
nữa, ta có thể khái lược hệ thống “biến
từ ” Việt –
Hoa như sau:
1.
Cao – cả → cổ nghĩa là người đứng đầu, thủy
tổ như ông
Bàn Cổ; Cổ Thục; Cổ Tẩu.
→ cô, cơ: cũng là người đứng
đầu như
‘Hiên Viên là tổ họ Cơ; ông Cơ Xương, Cơ
Phát.
→ Cao: ông cao Giao; Thái Cao; Cao Tân;
Cao Dương;
Cao Sơn.
→ Câu: Câu Tiễn (Việt Vương)
Đặc
biệt ‘Cao’ dịch sang Hán tự là Tôn, và viết sai
là Tông trở
thành đế hiệu của các vua Việt Nam và Trung
Hoa từ đời
Đường, Lư về sau. Căn cứ vào cấu trúc
cụm từ th́
rơ ràng ‘Tôn”, ‘Tông’ tương đương với
chữ ‘Vương’.
Thí dụ: Lư Thái Tôn, Lư Cao Tôn, V.v…
2.
Vua → Vũ: chỉ hoàng đế khai quốc như Hạ Vũ, Vơ
Vương, Chu
Vũ Vương, Hán Vũ Đế, Vũ văn Giác, Quách Vụ
3.
Cha – chú → chúa, chủ
→ chu, châu, sau biến thành Chu , Triệu như: nhà
Chu, họ Chu
: Chu Nguyên Chương, họ Triệu: Triệu Chính,
Triệu Đà,
Triệu Khuông Dẫn, V.v… đặc biệt ngôn ngữ
Thái – Lào
có từ ‘chậu’ nghĩa là ‘ông hoàng’, khi
kư âm bằng
Hán tự th́ các vua Champa trở thành họ
‘Chế’ như:
Chế Củ, Chế Mân, Chế Bồng Nga, V.v…
4.
Lửa → Ly (quẻ) là ngọn lửa, mặt trời, nghĩa bóng
chỉ ‘hoàng
đế’ sau biến thành họ ‘Lư’, họ ‘Lê’
như: Lư Bôn,
Lư Bí, Lư Uyên, Lư Công Uẩn; Lê Lợi, Lê
Hoàn, (Hán
tự kư âm sai thành họ Lưu)
5.
Đức: chỉ nhân vật có địa vị cao trọng như: đức
Chúa, đức
ông, V.v… Hán ngữ kư âm thành Đế đồng
nghĩa với
vua, chúa; âm Khmer là ‘cham đéc’ nghĩa là ông
hoàng.
6.
Xuất phát từ ư niệm: ‘trời tṛn, đất vuông’,
‘trời là
vua, đất là dân’, người ta tạo nên các từ:
ḥn → hoàn
→ hoàng nghĩa là vua; ‘viên’ chỉ vật
tṛn →
vương. Trong lịch sử có: Đinh Hoàn, Lê Hoàn,
Hiên Viên,
Tản Viên, …
7.
Các tước vị của quí tộc Trung Hoa:
không 0 → công
hai 2 → hầu
ba 3 → bá
tư 4 → tử
năm 5 → nam
Từ
hệ thống “chuyển ngữ” này, ta có thể khẳng
định, trước
khi Hán tự được dùng để viết sử th́
đă có “Việt
sử” hay lịch sử Trung Hoa viết bằng một
thứ chữ khác
với Hán tự, thứ chữ đó chắc chắn là
kiểu chữ
“đại triện” của nhà Chu , Ngũ kinh cũng
được chép
bằng thứ chữ này. Từ đời Tần người ta
mới dùng
kiểu chữ “tiểu triện” thay thế, loại chữ
tiểu triện
qua nhiều lần cách tân về cách viết trở
thành Hán tự
ngày nay; người Việt không gọi là Hán tự
mà gọi là
“chữ Nho”, phải chăng ‘Nho’ là biến âm
của ‘nhỏ’
đồng nghĩa với ‘tiểu triện’, người
Việt ưa dùng
điệp ngữ “Nho nhỏ” cũng là một dẫn
chứng có giá
trị cho hướng suy nghĩ như trên.
Bản
thân dân du mục phương Bắc khi chiếm đóng Trung Hoa
chưa có hệ
thống văn tự riêng nên dùng luôn hệ thống
văn tự Trung
Hoa làm quốc ngữ v́ không có cách nào khác,
từ đó chữ
tiểu triện biến thành Hăn tự, điều này
giải thích
sự mâu thuẫn trong tâm thức người Việt.
Từ
Hán trong Hăn tộc là một nổi ám ảnh kinh hoàng do
những thống
khổ người Việt phải chịu thời vong quốc.
Nhưng từ
‘Hán’ trong ngôn ngữ Hán, người Việt gọi là
chữ Nho th́
lại có vị trí trân trọng đặc biệt và
được gọi là
chữ của “thánh hiền”.
B. Những
nghi vấn trong Hoa sử
Sai
lầm lớn nhất của các sử gia Hán tộc là kết cấu
lịch sử dân
tộc – quốc gia ḿnh một cách máy móc
thiếu biện
chứng, bỏ quên yếu tố thời gian.
Lănh
thổ Trung Hoa tới điểm “hạn” khoảng đầu công
nguyên, tức
là mốc thời gian mà lănh thổ không thể
trương nở tự
do được v́ nó tiến đến một đường
biên với các
dân tộc, quốc gia khác, từ điểm này sự
xê dịch biên
giới luôn là kế quả của một cuộc chiến,
với Trung
Hoa từ mốc lịch sử này các cuộc chiến tranh
thôn tính
lẫn nhau giữa Hán tộc và lân bang đều được
ghi vào sách
sử.
Ta
thử làm một con tính đơn giản, dân số Trung Hoa đời
Tần khoảng
20 triệu người, 2000 năm sau là 1.200 triệu
người tức
tăng 60 lần, lấy tỉ lệ này ước tính dân
số nhà Hạ
trước Tần 2.000 năm, vương triều đầu tiên
trong Tam
Đại của Trung Hoa, th́ dân số cao lắm cũng chỉ
dưới 500.000
người; với số dân như vậy dàn trải trên
diện tích
gần bằng diện tích Trung Hoa ngày nay là điều
không thể
có. Lư do rất đơn giản là điều kiện vật
chất kỹ
thuật không cho phép, với phương tiện lưu thông
chính là đôi
chân th́ không thể có một nhà nước mà
lănh thổ
rộng tới vài triệu ki-lô mét vuông bao gồm 9
châu: Duyệt,
Kư, Thanh, Từ, Dự, Kinh, Dương, Lương, Ung
như đă ấn
định trên bản đồ Trung Hoa cổ; các sử gia
Hán tộc đều
thành thực tin rằng lănh thổ Trung Hoa to
lớn như thế
v́ cổ sử Trung Hoa từ thời vua Chuyên Húc
(2513 –n
2345 trước CN), đời vua Nghiêu (2357 trước CN)
thậm chí cả
đến đời Thần Nông, một v́ vua của truyền
thuyêt xa
xôi lắm, lănh thổ Trung Hoa đă tiếp giáp với
Giao Chỉ hay
Giao Châu, cũng có sách chép là Nam Giao tức
lănh thổ
Việt Nam ngày nay.
Sử
gia Hán tộc đă sai lầm khi tạo nên một lịch sử
không có sự
phát triển, quốc gia cũng chỉ là một cơ
thể sống, có
sinh ra, có lớn lên rồi tới điểm dừng
hay hạn.
Cũng như con người sinh ra chỉ khoảng 2 – 3 kg
lớn lên tới
độ 23 – 25 tuổi là điểm dừng th́ nặng
khoảng 50 –
60 kg, c̣n “Hán Quốc” mới khai sinh đă to
bằng tuổi 20
– 25, đă có 9 châu mênh mông thiên địa
…. đúng là
thần nhân trong thần thoại….
Như
vậy làm sao ta có thể lư giải một việc rất nhất
quán trong
cổ sử Trung Hoa. Liên tiếp từ thời Thần Nông
tới Chuyên
Húc và sau là vua Nghiêu …, kinh Thư, Thiên
Nghiêu Điển
viết: “vua Nghiêu mệnh hy thúc trạch Nam
Giao…” Nam
Giao, Giao Chỉ là một địa danh, một vùng đất
đă có từ
thời Thái cổ trong lịch sử Trung Hoa và liên
tục cho đến
đời Tống; vua Tống vẫn phong cho vua Đại
Việt là:
“Giao Chỉ Quận Vương” trước khi nâng cấp
lên “An Nam
Quốc Vương”, sự việc đó chỉ cách nay một
ngàn năm và
được ghi chép rơ ràng trong sách sử. T́m
lời giải đáp
cho câu hỏi hóc búa nhưng kỳ thú này dẫn
dắt đến một
sử thuyết, và khi sử thuyết này được
minh chứng
sẽ làm đảo lộn toàn bộ lịch sử Trung Hoa,
Việt Nam và
Đông Nam Á.
Chính sử Trung Hoa đều cho rằng thủy tổ dân tộc ḿnh
là Bào Hy,
Thần Nông. Thần Nông là kết cấu ngôn ngữ
Việt, nếu
theo Hán ngữ phải viết là Nông Thần; đây
không phải
là trường hợp duy nhất v́ ta gặp nhiều
trường hợp
như thế trong Ngũ Kinh, như: Đế Ất, Hậu
Tắc,… Hậu
Nghệ, V.v… Vậy các vua này là vua Việt hay
vua Hán?
Thêm vào đó các địa danh của Trung Hoa đầy dẫy
ngôn ngữ
Việt, như: Hồ Nam , Hồ Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây,
… Hán tự
dùng ‘sơn hà’ là ‘núi’ và ‘sông’ để
chỉ lănh thổ
quốc gia, như sông phương bắc, sông phương
nam, núi
phương tây, núi phương đông, … vậy theo Hán
ngữ phải ghi
là Bắc Hà , Nam Hà, Đông Sơn, Tây Sơn …,
c̣n Hà Bắc,
Hà Nam , Sơn Đông, Sơn Tây là kết cấu theo
Việt ngữ?
Lịch
sử về văn minh Trung Hoa cũng có một số điểm mà
ta không
hiểu nổi.
“Thời nhà Hạ (2200 trước CN) người dân đă biết
‘tát nước
vào ruộng’…” rơ ràng câu này chỉ sự
canh tác lúa
nước; nước là điều kiện đầu tiên trong:
“nước, phân,
cần, giống” mà nền khoa học nông nghiệp
Việt Nam đă
tổng kết từ xa xưa; nước quan trọng đến
nỗi “việc
dẫn thủy nhập điền” được coi như một
thành tựu
khoa học, phản ánh tŕnh độ văn minh của một
dân tộc. Sự
việc này khó hiểu ở chỗ: lănh thổ nhà
Hạ ở vùng
Hoàng Hà (theo chính sử Trung Hoa) đâu có trồng
được lúa
nước … cây được trồng chính ở miền Bắc
Trung Hoa là
kê và lúa ḿ. Các chứng cứ về khảo cổ học
và các ngành
khoa học khác như nông học, thổ nhưỡng đă
xác định như
vậy.
Ngày
nay qua các di chỉ trong ḷng đất, ngành khảo cổ học
đă xác định
được nơi sinh tụ thời cổ xưa của Hán
tộc là bờ
sông Hoàng Hà. Hán tộc là tộc người xây
dựng được
nền văn minh rất sớm, họ đă bước vào
thời gọi là
văn hóa gốm đỏ cách đây khoảng 8.000 năm,
địa bàn của
họ dịch chuyển từ tây sang đông dọc theo
sông Hoàng
Hà với các nền văn hoá gốm đỏ, gốm đen,
rồi gốm xám.
Vùng đất từ Thiểm Tây tới Hà Nam ngày
nay. Vào đời
Thương lănh thổ Trung Hoa là vùng đất nằm
ở 4 tỉnh: Hà
Nam – Hà Bắc – Sơn Đông – Sơn Tây. Qua
đời Chu th́
chuyển về vùng Sơn Tây ngày nay, theo đó ta
có thể xác
định Hán Quốc cổ là quốc gia lục địa chưa
tiến đến bờ
biển; nhưng sử Trung Hoa lại ghi: “Từ
đời Thương
dân Trung Hoa đă biết dùng vỏ ṣ làm tiền
để trao đổi
hàng hóa…”, nên trong Hán tự đă cấu
thành bộ
‘bối’ nghĩa là ‘vỏ ṣ’, ‘vỏ hến’ để
tạo nên các
từ liên quan đến việc giao thương, buôn bán
… nhưng dân
sinh sống sâu trong lục địa th́ lấy vỏ hến,
vỏ ṣ ở đâu
rả
Sử
Trung Hoa cũng ghi là vào đời Thương đă biết dùng
voi trong
chiến trận …, nhưng lănh thổ nhà Thương ở
vùng sông
Hoàng Hà th́ làm ǵ có voi, voi Á Châu chỉ sống
ở miền xích
đạo và nhiệt đới, … không lẽ sử Trung
Hoa sai lầm
lớn đến thế?
Hai
loại “vật liệu” nền tảng của văn hóa Trung Hoa là
mai rùa và
tre đều không phải là sản vật tự nhiên của
miền Bắc
Hoàng Hà. Người ta đă đào được ở An
Dương thuộc
phần Bắc Hoàng Hà thuộc tỉnh Hà Nam, hàng
vạn mai rùa
và xương thú có khắc “Hoa tự” cổ và coi
đây là căn
cứ để xác định trung tâm văn minh Trung Hoa
… nhưng ở
miền Bắc Hoàng Hà không hề có loại rùa lớn
đó sinh
sống, khoa học đă chỉ rơ như thế; loại rùa có
mai lớn để
khắc chữ chỉ sinh sống ở sông Dương Tử
hay Trường
Giang. Lại nữa, Dịch Lư vào đời nhà Thương