|
|
Ngừoi Quốc Gia là những người đặt tổ quốc lên bản vị tối cao Tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v.. Trích VN Tự Điển của Đào Duy Anh |
|
Nationalist Vietnamese Forum |
HỒI KƯ TRẦN QUANG CƠ
BBT: Từ đầu năm nay, giới cán bộ Bộ ngoại giao rồi
giới trí thức trong nước đă chuyền tay nhau tập hồi kí
Hồi ức và Suy nghĩ của ông Trần Quang Cơ, nguyên thứ
trưởng ngoại giao. Tác giả làm việc ở Bộ ngoại giao từ
năm 1954. Năm 1968 ông tham gia Hội nghị Paris
(68-73), cuộc đàm phán về b́nh thường hoá quan hệ với
Mĩ (75-78) và các cuộc thương lượng giải quyết vấn đề
Campuchia (thập niên 80-90). Năm 1991, được đề nghị
làm bộ trưởng ngoại giao thay thế ông Nguyễn Cơ Thạch,
ông viện lí do « sức khoẻ » để từ chối. Cuối năm 1993,
ông xin rút khỏi Ban chấp hành Trung ương Đảng.
Đây là một chứng từ rất quan trọng về quan hệ đối
ngoại của Việt Nam trong một giai đoạn khó khăn, đồng
thời về những bất đồng trong nội bộ lănh đạo ĐCSVN.
Hai chương chúng tôi trích đăng dưới đây cho thấy
trách nhiệm nặng nề của các ông Nguyễn Văn Linh và Lê
Đức Anh vào đầu thập niên 1990 trong quan hệ với Bắc
Kinh và việc giải quyết vấn đề Campuchia.
Tập hồi kí 82 trang (khổ A4, viết xong lần thứ nhất
năm 2001, hoàn thành tháng 5-2003) này tất nhiên chưa
được xuất bản công khai. Với nội dung phong phú, chính
xác và trung thực, nó cung cấp những thông tin quư
hiếm về những vấn đề Việt Nam đương đại. Chúng tôi sẽ
có dịp trở lại tác phẩm này.
Cuộc gặp cấp cao Việt – Trung tại Thành Đô
Ngày 29.8.90, đại sứ Trương Đức Duy xin gặp gấp Tổng
Bí Thư Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Đỗ Mười chuyển
thông điệp của Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân và Thủ
tướng Lư Bằng mời TBT Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ
Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô [Chengdu],
thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên [Xichuan], Trung Quốc ngày
3.9.90 để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề
b́nh thường hoá quan hệ hai nước. Trương nói mập mờ là
Đặng Tiểu B́nh có thể gặp anh Tô. Trung Quốc c̣n lấy
cớ ở Bắc Kinh đang bận chuẩn bị tổ chức ASIAD (Á Vận
hội) nên không gặp cấp cao Việt Nam ở thủ đô Bắc Kinh
được v́ khó giữ được bí mật, mà gặp ở Thành Đô.
Đây quả là một sự chuyển biến đột ngột của phía Trung
Quốc. Trước đây Trung Quốc nói không chỉ sau khi giải
quyết xong vấn đề Campuchia mới gặp cấp cao ta và mới
bàn vấn đề b́nh thường hoá quan hệ. Năm ngày trước –
ngày 24.8.90 – Trung Quốc c̣n bác bỏ việc gặp cấp cao,
nay lại mời ta gặp cấp cao trong một thời hạn rất gấp
và đồng ư cấp cao sẽ nói chuyện về cả hai vấn đề
Campuchia và vấn đề b́nh thường hoá quan hệ.
Thái độ “ thiện chí ” gấp gáp như vậy của Bắc Kinh
không phải tự nhiên mà có. Nó có những nguyên nhân sâu
xa và nhân tố bức bách :
a. Tất cả những hoạt động đối ngoại và đối nội của
Trung Quốc trong hơn 10 năm qua khẳng định chiến lược
nhất quán của họ là kiên quyết thực hiện " 4 hiện đại
", biến Trung Quốc thành một cường quốc hàng đầu trên
thế giới, đồng thời xác định vị trí nước lớn của ḿnh
trước hết ở Đông Nam Á và châu Á - Thái B́nh Dương. V́
lợi ích chiến lược đó, Trung Quốc kiên tŕ tranh thủ
Mỹ, Nhật, phương Tây, đồng thời b́nh thường hoá quan
hệ với Liên Xô. Nhưng sau hơn 10 năm cải cách và mở
cửa, t́nh h́nh chính trị, xă hội và kinh tế của Trung
Quốc rất khó khăn. Sau sự kiện Thiên An Môn, mục tiêu
chiến lược đó đang bị đe doạ nghiêm trọng. Về đối
ngoại, bị Mỹ, Nhật và phương Tây thi hành cấm vận.
Trong khi đó, quá tŕnh cải thiện quan hệ Mỹ-Xô tiến
triển rất nhanh. Xô-Mỹ hợp tác chặt chẽ giải quyết các
vấn đề thế giới và khu vực không kể đến vai tṛ của
Trung Quốc. Ngay trong vấn đề Campuchia, vai tṛ Trung
Quốc cũng bị lấn át (Xô-Mỹ tiếp xúc trao đổi chặt chẽ
về vấn đề Campuchia, cuộc gặp Sihanouk – Hun Xen ở
Tokyo là do sự dàn xếp của Mỹ, Nhật và Thái, ngoài ư
muốn của Trung Quốc). Phương Tây tiếp tục đ̣i Trung
Quốc thực hiện dân chủ và giải quyết vấn đề Campuchia
trên cơ sở kiềm chế Khmer Đỏ.
b. Chuyến đi Đông Nam Á của Lư Bằng (6-13.8.90) nằm
trong yêu cầu chiến lược của Trung Quốc tranh thủ hoàn
cảnh quốc tế hoà b́nh để thực hiện “ 4 hiện đại ”,
diễn ra trong bối cảnh liên minh Trung Quốc xây dựng ở
Đông Nam Á trong 10 năm qua để chống Việt Nam đang tan
vỡ sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và sau khi
Mỹ đă điều chỉnh chính sách. Cuộc đi thăm của Lư đă
bộc lộ những điểm đồng và bất đồng giữa Trung Quốc và
các nước ASEAN. Các nước ASEAN vẫn rất lo ngại lư do
bành trướng của Trung Quốc. Trung Quốc buộc phải cam
kết nội bộ các nước trong khu vực, ủng hộ các đảng
cộng sản và vấn đề Hoa kiều, tuyên bố sẵn sàng thương
lượng và hợp tác về vấn đề Trường Sa. Tiếp tục đối đầu
với Việt Nam không c̣n phù hợp với chính sách Đông Nam
Á của Trung Quốc lúc này nữa.
c. Sau khi Việt Nam đă hoàn tất việc rút quân khỏi
Campuchia, các nước phương Tây, Mỹ, Nhật, ASEAN đi vào
cải thiện quan hệ với ta theo hướng không có lợi cho
tính toán của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trước t́nh h́nh
đó, Trung Quốc không muốn chậm chân.
d. Về thời điểm : trong cuộc họp ngày 27 và 28.8.90
tại Nữu Ước, P5 đă thoả thuận văn kiện khung về giải
pháp toàn bộ cho vấn đề Campuchia (gồm các vấn đề :
các lực lượng vũ trang Campuchia, tổng tuyển cử dưới
sự bảo trợ của LHQ, nhân quyền và bảo đảm quốc tế đối
với thể chế tương lai của Campuchia). Văn kiện về nhân
quyền không đề cập trực tiếp đến vấn đề diệt chủng,
chỉ nói Campuchia sẽ " không trở lại chính sách và
hành động trong quá khứ ”. C̣n Trung Quốc buộc phải
nhân nhượng không c̣n đ̣i lập chính phủ liên hiệp 4
bên ngang nhau, phải chấp nhận vai tṛ lớn của LHQ. P5
thoả thuận lịch giải quyết vấn đề Campuchia : trong
tuần từ 3.9 đến 9.9 họp các bên Campuchia ở Jakarta để
lập SNC trước phiên họp Đại hội đồng LHQ, tiếp đó họp
mở rộng với các nước trong khu vực (có Trung Quốc),
đến khoảng tháng 10-11.90 họp uỷ ban Phối hợp Hội nghị
Paris về Campuchia để soạn thảo Hiệp định trên cơ sở
văn kiện khung do P5 vạch ra, các ngoại trưởng kư Hiệp
định ; 15 nước trong Hội đồng Bảo An thông qua. Trung
Quốc đặt cuộc gặp cấp cao Trung-Việt trong cái khung
thời gian này. Tuy nhiên Bắc Kinh giấu không cho ta
biết ǵ về những thoả thuận giữa họ và các ước lớn
trong Hội đồng bảo an, mặt khác cũng giữ kín cuộc hẹn
gặp ta ở Thành Đô v́ không muốn làm cho phương Tây và
ASEAN lo ngại khả năng đoàn kết hợp tác giữa Trung
Quốc và Việt Nam.
Ngày 30.8.90, Bộ Chính trị họp bàn về việc gặp lănh
đạo Trung Quốc. Anh Linh nêu ư kiến là sẽ bàn hợp tác
với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xă hội chống đế
quốc, và hợp tác giữa Phnom Penh và Khmer Đỏ để giải
quyết vấn đề Campuchia, mặc dù trước đó Bộ Ngoại Giao
đă tŕnh bày đề án nêu rơ là rất ít khả năng thực hiện
phương án này v́ phương hướng chiến lược của Trung
Quốc vẫn là tranh thủ phương Tây phục vụ " 4 hiện đại
". Anh Lê Đức Anh bổ sung ư anh Linh : “ Phải nói về
hoà hợp dân tộc thực sự ở Campuchia. Nếu không có Pol
Pot th́ vẫn tiếp tục chiến tranh ". Anh Vơ Chí Công
không đồng ư, nói : “ Trung Quốc sẽ không nghe ta về
hợp tác bảo vệ chủ nghĩa xă hội. Trung Quốc muốn tranh
thủ phương Tây ". Anh Thạch cảnh giác : " Vẫn có 3 khả
năng về quan hệ giữa ta và Trung Quốc, không phải chỉ
là khả năng tốt cả. Dự kiến Trung Quốc sẽ nêu công
thức " SNC 6+2+2+2 " để nhấn rơ là có 4 bên Campuchia
(trong đó Khmer đỏ là 1 bên), xoá vấn đề diệt
chủng..." Sự thực sau này cho thấy Trung Quốc c̣n đ̣i
cao hơn thế !
Ngày 2.9.90, ba đồng chí lănh đạo cao cấp của ta đến
Thành Đô đúng hẹn. Tháp tùng có Hồng Hà - Chánh Văn
pḥng Trung ương, Hoàng Bích Sơn - Trưởng ban Đối
ngoại, và Đinh Nho Liêm – Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao.
Đáng chú ư là trong đoàn không có bộ trưởng ngoại giao
Nguyễn Cơ Thạch.
Sau 2 ngày nói chuyện (3-4.9.90), kết quả được ghi lại
trong một văn bản gọi là " Biên bản tóm tắt " gồm 8
điểm. Khi nghiên cứu biên bản 8 điểm đó, chúng tôi
nhận thấy có tới 7 điểm nói về vấn đề Campuchia, chỉ
có 1 điểm nói về cải thiện quan hệ giữa hai nước mà
thực chất chỉ là nhắc lại lập trường cũ Trung Quốc gắn
việc giải quyết vấn đề Campuchia với b́nh thường hoá
quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong 7 điểm về
Campuchia, 2 điểm là những điểm có tính chất chung về
mặt quốc tế mà 2 bên đang c̣n tranh căi (giải pháp
chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia ; rút hết
quân Việt Nam ở Campuchia có dẫn chứng), c̣n 5 điểm
th́ hoàn toàn là đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc. Không
có điểm nào theo yêu cầu của ta cả. Trong bản thoả
thuận, vấn đề nổi cộm nhất là điểm 5 về việc thành lập
SNC. Lănh đạo ta đă thoả thuận dễ dàng, không do dự
(!), công thức " 6+2+2+2+1 " (phía Phnom Penh 6 người
; phía " 3 phái " 7 người ; 2 của Khmer đỏ, 2 của phái
Son San, 2 của phái Sihanouk và bản thân Sihanouk) mà
Từ Đôn Tín vừa đưa ra ở Hà Nội và bị tôi bác. Công
thức này bất lợi cho Phnom Penh, với công thức " 6+6 "
hay " 6+2+2+2 ", tức là hai bên có số người ngang nhau
mà Sihanouk và Hun Xen đă thoả thuận ở Tokyo.
Về sáng kiến " giải pháp Đỏ ” cho vấn đề Campuchia mà
lănh đạo ta đưa ra, tưởng như phía Trung Quốc sẽ nhiệt
liệt hoan ngênh, song Lư Bằng đă bác đi : “ Các đồng
chí nói cần thực hiện 2 đảng cộng sản hợp tác với nhau
để phát huy hơn nữa. Tôi đồng ư một phần và không đồng
ư một phần. Bốn bên Campuchia, xét về lực lượng quân
sự và chính quyền, mạnh nhất là hai đảng cộng sản, có
vai tṛ nhiều hơn. Nhưng phần tôi không đồng ư là ở
Campuchia không chỉ có hai đảng cộng sản mà c̣n có các
thế lực khác là lực lượng của Sihanouk và lực lượng
của Son San. Lực lượng của họ không lớn lắm nhưng họ
được quốc tế ủng hộ. Bài xích họ th́ cô lập SNC, không
thể đoàn kết Campuchia. Cần phải để cho hai bên kia
phát huy tác dụng ở Campuchia ". Và Giang Trạch Dân
cùng nói thêm : " Các nước phương Tây rất chú ư tới
quan hệ của chúng ta. Các đồng chí đến đây, cho đến
nay các nước không ai biết, cũng không cho các bên
Campuchia biết. Chúng tôi cảnh giác vấn đề này. Họ cho
rằng Việt nam XHCN, Trung Quốc XHCN đều do Đảng Cộng
sản lănh đạo, họp với nhau bàn cái ǵ đây ? V́ vậy
chúng tôi giữ kín chuyến đi này. T́nh h́nh quốc tế
hiện nay nếu để hai đảng cộng sản bắt tay nhau là sách
lược không lợi cho chúng ta ".
Thành Đô là thành công hay là thất bại của ta ?
Ngay say khi ở Thành Đô về, ngày 5.9.90 anh Linh và
anh Mười, có thêm anh Thạch và Lê Đức Anh, đă bay sang
Phnom Penh thông báo lại với Bộ Chính trị Campuchia
nội dung cuộc gặp gỡ cấp cao Việt-Trung. Để thêm sức
thuyết phục Phnom Penh nhận Thoả thuận Thành Đô, anh
Linh nói với lănh đạo Campuchia : “ Phải thấy giữa
Trung Quốc và đế quốc cũng có mâu thuẫn trong vấn đề
Campuchia. Ta phải có sách lược lợi dụng mâu thuẫn
này. Đừng đấu tranh với Trung Quốc đến mức xô đẩy họ
bắt tay chặt chẽ với đế quốc ”. Lập luận này được Lê
Đức Anh mở rộng thêm : " Mỹ và phương Tây muốn cơ hội
này để xoá cộng sản. Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên
bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới. Rơ ràng nó là
kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải t́m đồng minh.
Đồng minh này là Trung Quốc."
Nhưng câu trả lời của Heng Somrin, thay mặt cho lănh
đạo Campuchia, vẫn là : " Phải giữ nguyên tắc không
can thiệp vào công việc nội bộ của chúng ta. Những vấn
đề nội bộ liên quan đến chủ quyền CPC phải do các bên
CPC giải quyết ". Về " giải pháp Đỏ ”, Phnom Penh nhận
định : " Trung Quốc không muốn hai phái cộng sản ở
Campuchia hợp tác với nhau gây phức tạp cho quan hệ
của họ với Sihanouk và với phương Tây. V́ vậy chúng
tôi thấy rằng khó có thể thực hiện " giải pháp Đỏ ” v́
" giải pháp Đỏ ” trái với lợi ích của Trung Quốc ”.
Mặc dù ban lănh đạo Campuchia đă xác định rơ thái độ
như vậy, song Lê Đức Anh vẫn cứ cố thuyết phục Bạn : “
Ta nói " giải pháp Đỏ” nhưng đó là " giải pháp Hồng ",
vừa xanh vừa đỏ. Trước mắt không làm được nhưng phải
kiên tŕ. Ta làm bằng nhiều con đường, làm bằng thực
tế. Các đồng chí cần t́m nhiều con đường tiếp xúc với
Khmer Đỏ. Vấn đề tranh thủ Khmer Đỏ là vấn đề sách
lược mang tính chiến lược… Nên kiên tŕ t́m cách liên
minh với Trung Quốc, kéo Khmer Đỏ trở về… Ta đừng nói
với Trung Quốc là làm " giải pháp Đỏ ”, nhưng ta thực
hiện " giải pháp Đỏ ” ; có đỏ có xanh…nhưng thực tế là
hợp tác hai lực lượng cộng sản ". Nguyễn văn Linh bồi
thêm : " Xin các đồng chí chú ư lợi dụng mâu thuẫn,
đừng bỏ lỡ thời cơ. Trung Quốc muốn đi với Mỹ, nhưng
Mỹ ép Trung Quốc nên Trung Quốc cũng muốn có quan hệ
tốt với Lào, Việt Nam và Campuchia. Nếu ta có sách
lược tốt th́ ta có giải pháp Đỏ.”
Theo báo cáo của đại sứ Ngô Điền, thái độ của bạn
Campuchia đối với ta từ sau Thành Đô có đổi khác. Về
công khai, bạn cố tránh tỏ ra bị lệ thuộc vào Việt
Nam. Trên cơ sở tính toán về lợi ích của ḿnh, bạn tự
quyết định lấy đối sách, không trao đổi trước với ta,
hoặc quyết định trái với sự gợi ư của ta trên nhiều
việc.
Nh́n lại, trong cuộc gặp Thành Đô, ta đă mắc lỡm với
Trung Quốc ít nhất trên 3 điểm :
* Trung Quốc nói cuộc gặp Thành Đô sẽ đàm phán cả vấn
đề Campuchia và vấn đề b́nh thường hoá quan hệ, nhưng
thực tế chỉ bàn vấn đề Campuchia, c̣n vấn đề b́nh
thường hoá quan hệ hai nước Trung Quốc vẫn nhắc lại
lập trường cũ là có giải quyết vấn đề Campuchia mới
nói đến chuyện b́nh thường hoá quan hệ hai nước ;
* Trung Quốc nói mập mờ là Đặng Tiểu B́nh có thể gặp
cố vấn Phạm Văn Đồng, nhưng đó chỉ là cái " mồi " để
kéo anh Đồng tham gia gặp gỡ cấp cao.
* Trung Quốc nói giữ bí mật việc gặp cấp cao hai nước,
nhưng ngay sau cuộc gặp hầu như tất cả các nước đă
được phía Trung Quốc trực tiếp hay gián tiếp thông báo
nội dung chi tiết bản thoả thuận Thành Đô theo hướng
bất lợi cho ta.
Ngày 7.9.90 Bộ chính trị đă họp thảo luận về kết quả
cuộc gặp cấp cao Việt-Trung và cuộc gặp cấp cao Việt-
Campuchia sau đó, và quyết định ngay hôm sau Đỗ Mười
gặp đại sứ Trung Quốc thông báo lại lập trường của
Campuchia ; đồng thời thông báo với Liên Xô, Lào như
đă thông báo với Campuchia. Nếu có ai hỏi về công thức
" 6+2+2+2+1 ", nói không biết.
Nhưng Báo Bangkok Post ngày 19.9.90 trong bài của
Chuchart Kangwaan đă công khai hoá bản Thoả thuận
Thành Đô, viết rơ Việt Nam đă đồng ư với Trung Quốc về
thành phần SNC của Campuchia sẽ gồm 6 người của Nhà
nước Campuchia, 2 của Khmer đỏ, 2 của phái Son San, 2
của phái Sihanouk, thành viên thứ 13 là Hoàng thân
Sihanouk giữ chức Chủ tịch Hội đồng. Tạp chí Kinh tế
Viễn Đông (FEER) số 4/10 (10.10.90) đăng bài Củ cà-rốt
và cái gậy viết về cuộc gặp gỡ cấp cao Trung-Việt ở
Thành Đô giữa Tổng Bí Thư Đảng và Thủ tướng hai nước,
cho biết hai bên đă thoả thuân công thức " 6+6+1 " về
việc lập SNC. Phía Việt Nam có nhượng bộ nhiều hơn.
Việc Ngoại trưởng hai nước không dự họp cấp cao là
đáng chú ư. Bên trong, Trung Quốc nói họ coi ông Thạch
là người có quan điểm cứng rắn về vấn đề Campuchia
cũng như đối với Trung Quốc. Ngày 12.10.90, nhà báo
Nayan Chanda nói với anh Thạch : " Trung Quốc đang
tuyên truyền rộng răi là lănh đạo Việt Nam đánh lừa
mọi người, họ kư kết với lănh đạo Trung Quốc về thành
phần SNC nhưng đă không thực hiện thoả thuận cấp cao
Việt-Trung. Việt Nam lại c̣n xúi dục chính quyền Phnom
Penh chống việc bầu Sihanouk làm chủ tịch SNC và đưa
ra hết điều kiện này đến điều kiện khác.” Ngày
5.10.90, anh Nguyễn Cơ Thạch gặp Ngoại trưởng Mỹ
Baker. Baker cho biết là sau khi cuộc họp các bên
Campuchia ở Bangkok vừa qua thất bại, Trung Quốc rất
bất b́nh với lănh đạo Việt Nam. Trung Quốc cho rằng
lănh đạo cấp cao của Việt Nam đă hoàn toàn đồng ư với
đề nghị của Trung Quốc về con số 13 thành viên của SNC
nhưng lại nói với Phnom Penh là công thức đó là ư kiến
riêng của Trung Quốc, đă không làm ǵ để thúc đẩy
Phnom Penh thực hiện thoả thuận giữa cấp cao hai nước.
Không thể tin được ngay cả lănh đạo cấp cao nhất của
Việt Nam cũng như Bộ Ngoại giao Việt Nam. Baker c̣n
nói rằng Trung Quốc đă bác bỏ đề nghị của lănh đạo cấp
cao nhất của Việt Nam là Việt Nam và Trung Quốc đoàn
kết bảo vệ CNXH chống âm mưu của đế quốc Mỹ xoá bỏ
CNXH cũng như đề nghị của Việt Nam về giải pháp dựa
trên liên minh giữa Phnom Penh và Pol Pot.
C̣n Lư Bằng trong khi trả lời phỏng vấn của Paisai
Sricharatchang, phóng viên tờ Bangkok Post tại Bắc
Kinh, ngày 24.10.90, đă xác nhận có một cuộc gặp bí
mật giữa lănh đạo Trung Quốc và Việt Nam hồi đầu tháng
9 và cho biết kết quả cuộc gặp đă được phản ảnh qua
cuộc họp giữa các bên Campuchia ngày 10.9.90 tại
Jakarta. Trong khi nói không biết chắc phía Việt Nam
đă cố gắng thuyết phục Phnom Penh đến đâu, Lư nhận
định là Hà Nội chắc chưa làm đủ mức. Điều đó có thể
thấy được qua việc Phnom Penh đă có " một thái độ
thiếu hợp tác ".
Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Đô là v́ chính ta
đă tự lừa ta. Ta đă tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc
sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm
chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa
xă hội thế giới, chống lại hiểm hoạ " diễn biễn hoà
b́nh " của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Tư tưởng
đó đă dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm " giải
pháp Đỏ ”.
Sau Thành Đô, trong Bộ Chính trị đă có nhiều ư kiến
bàn căi về chuyến đi này. Song măi đến trước Đại hội
VII, khi Bộ Chính trị họp (15-17.5.91) thảo luận bản
dự thảo Báo cáo về t́nh h́nh thế giới và việc thực
hiện đường lối đối ngoại của Đại hội VI và phương
hướng tới, cuộc gặp cấp cao Việt Nam - Trung Quốc ở
Thành Đô mới lại được đề cập tới khi bản dự thảo báo
cáo của Bộ Ngoại Giao có câu " có một số việc làm
không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn
đề Campuchia ". Cuộc họp này đầy đủ Tổng Bí Thư Nguyễn
văn Linh, các cố vấn Phạm văn Đồng, Vơ Chí Công, các
uỷ viên BCT Đỗ Mười, Vơ Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch, Lê
Đức Anh, Mai Chí Thọ, Nguyễn Đức Tâm, Đào Duy Tùng,
Đồng Sĩ Nguyên, Đoàn Khuê, Nguyễn Thanh B́nh.
Anh Tô nói : " Có thời giờ và có cơ hội đem ra kiểm
điểm những việc vừa qua để nhận định sâu sắc th́ tốt
thôi. Sau chuyến đi Thành Đô, tôi vẫn ân hận về thái
độ của ḿnh. Nói là tự kiểm điểm th́ tự kiểm điểm. Tôi
ân hận là ở hai chỗ. Lúc ở Thành Đô, khi bàn đến vấn
đề Campuchia, người nói là anh Linh. Anh Linh nói đến
phương án hoà giải dân tộc Campuchia. Sau đó Lư Bằng
tŕnh bày phương án " 6+2+2+2+1 " mà Từ Đôn Tín khi
đàm phán với anh Cơ ở Hà Nội đă ép ta nhận song ta
bác. Anh Linh đă đồng ư (nói không có vấn đề). Lúc đó
có lẽ do thấy thái độ của tôi, Giang mời tôi nói. Tôi
nói : tôi không nghĩ phương án 13 này là hay, ư tôi
nói là không công bằng... Tôi ân hận là lẽ ra sau đó
đoàn ta nên hội ư lại sau bữa tiệc buổi tối. Nhưng tôi
không nghĩ ra, chỉ phân vân. Sáng sớm hôm sau, mấy anh
bên Ban Đối Ngoại và anh Hồng Hà nói nhỏ với tôi là
cốt sao tranh thủ được nguyên tắc " consensus " (nhất
trí), c̣n con số không quan trọng. Tôi nghe hơi yên
tâm nhưng vẫn nghĩ có hội ư vẫn hơn. Sau đó, Trung
Quốc đưa kư bản thoả thuận có nói đến con số 13… Tôi
phân vân muốn được biết nội dung trước khi ta hạ bút
kư. Nếu như đoàn ta trao đổi với nhau sau phiên họp
đầu, sau khi Lư Bằng đưa ra công thức 6+2+2+2+1 th́ ta
có thể có cách bàn thêm với họ. Hai là trước khi kư
văn bản do chuyên viên hai bên thoả thuận, các đồng
chí lănh đạo cần xem lại và bàn bạc xem có thể thêm
bớt ǵ trước khi kư. Nghĩ lại, khi họ mời Tổng Bí Thư,
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ta sang gặp Tổng Bí Thư,
Chủ tịch Quốc vụ viện, lại mời thêm tôi. Tôi khá bất
ngờ, không chuẩn bị kỹ. Anh Mười cho là họ mời rất
trang trọng, cơ hội lớn, nên đi. Nhưng đi để rồi kư
một văn bản mà ta không lường trước hậu quả về phản
ứng của Bạn Campuchia, rất gay gắt. Tôi hiểu là Bạn
khá bất b́nh, thậm chí là uất nhau. Cho ta là làm sau
lưng, có hại cho người ta."
Anh Linh : " Anh Tô nhớ lại xem. Không phải tôi đồng
ư, tôi chỉ nói ta nghiên cứu xem xét và cuối cùng đặt
vấn đề thông báo lại Campuchia… Bây giờ tôi vẫn nghĩ
thế là đúng. Tôi không thấy ân hận về việc ḿnh chấp
nhận phương án 13… Vấn đề Campuchia dính đến Trung
Quốc và Mỹ. Phải tính đến chiến lược và sách lược.
Phải tiếp tục làm việc với Campuchia về chiến lược,
phải có nhiều biện pháp làm cho bạn thấy âm mưu của đế
quốc Mỹ chống phá chủ nghĩa xă hội ở châu Á, cả ở
Cuba. Nó đă phá Trung Quốc qua vụ Thiên An Môn rồi,
nay chuyển sang phá ta… Trung Quốc muốn thông qua
Khmer Đỏ nắm Campuchia. Song dù bành trướng thế nào
th́ Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa."
Anh Thạch : " Về chuyện Thành Đô, Trung Quốc đă đưa cả
băng ghi âm cuộc nói chuyện với lănh đạo ta ở Thành Đô
cho Phnom Penh. Hun Xen nói là trong biên bản viết là
" hai bên đồng ư thông báo cho Campuchia phương án
6+2+2+2+1" nhưng băng ghi âm lại ghi rơ anh Linh nói
là " không có vấn đề ǵ ". Tôi xin tŕnh bày để các
anh hiểu nguyên do con số 13 là từ đâu. Tại Tokyo
tháng 6.90, Sihanouk và Hun Xen đă thoả thuận thành
phần SNC gồm hai bên ngang nhau = 6+6. Từ Đôn Tín sang
Hà Nội, ép ta nhận công thức 6+2+2+2+1 không được. Đến
cuộc gặp Thành Đô, Trung Quốc lại đưa ra. Khi ta sang
Phnom Penh để thuyết phục bạn nhận con số 13 với
nguyên tắc làm việc consensus trong SNC, anh Hun Xen
nói riêng với tôi : chúng tôi thắng mà phải nhận số
người ít hơn bên kia (bên ta 6, bên kia 7) th́ mang
tiếng Campuchia bị Việt nam và Trung Quốc ép. Như vậy,
dù là consensus cũng không thể thuyết phục nhân dân
Campuchia được. Chỉ có thể nhận 12 hoặc 14 thành viên
trong Hội đồng Dân tộc Tối cao. Phải nói là Phnom Penh
thắc mắc nhiều với ta. Liên Xô, Anh, Pháp, Nhật, Mỹ
đều cho ta biết là Trung Quốc đă thông báo cho họ đầy
đủ về Thoả thuận Thành Đô và nói với họ là lănh đạo
Việt Nam không đáng tin cậy. Trung Quốc đă sử dụng
Thành Đô để phá quan hệ của ta với các nước và chia rẽ
nội bộ ta…"
Hôm sau, Bộ Chính trị họp tiếp, anh Mười nói : " Ta
tán thành Sihanouk làm chủ tịch Hội đồng Dân tộc Tối
cao, Hun Xen làm phó chủ tịch, lấy nhất trí trong Hội
đồng Dân tộc Tối cao làm nguyên tắc. Đây không phải là
một nhân nhượng… Nếu có anh Thạch đi Thanh Đô th́ tốt
hơn…"
Anh Tô : " Vấn đề chủ yếu không phải là thái độ của ta
ở Thành Đô như anh Mười nói, mà là kết quả và tác động
đến bạn Campuchia đánh giá ta như thế nào ? Ở Thành
Đô, điều ta làm có thể chứng minh được nhưng
Cam-puchia cho là ta giải quyết trên lưng họ. V́ vậy
mà tôi ân hận. Tôi ân hận là về sau này sẽ để lại hậu
quả."
Anh Mười : " Với tinh thần một người cộng sản, tôi cho
là ta không sai. Ban Campuchia nghĩ ǵ về ta là quyền
của họ. Với tinh thần một người cộng sản, ta không bao
giờ vi phạm chủ quyền của bạn."
Anh Thạch : " Họp Bộ Chính trị để kiểm điểm, tôi xin
được nói thẳng. Có phải khi đi Thành Đô về, anh Đỗ
Mười có nói với tôi là hai ông anh nhận hơi sớm. Anh
Linh nhận công thức 13 và anh Tô nhận consensus
(nguyên tắc nhất trí) " .
Anh Vơ Văn Kiệt : “ Trong thâm tâm tôi, tôi không đồng
ư có anh Tô trong đoàn đi Thành Đô. Nếu có gặp anh
Đặng th́ anh Tô đi là đúng. Tôi nói thẳng là tôi xót
xa khi biết anh Tô đi cùng anh Linh và anh Mười chỉ để
gặp Giang và Lư, không có Đặng. Ḿnh bị nó lừa nhiều
cái quá. Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm bẫy."
Vốn là người điềm đạm, song anh Tô có lúc đă phải phát
biểu : " Ḿnh hớ, ḿnh dại rồi mà c̣n nói sự nghiệp
cách mạng là trên hết, c̣n được hay không th́ không
sao. Cùng lắm là nói cái đó, nhưng tôi không nghĩ như
vậy là thượng sách. Tôi không nghĩ người lănh đạo nên
làm như vậy."
Thoả thuận Việt Nam - Trung Quốc ở Thành Đô đúng như
anh Tô lo ngại đă để lại một ấn tượng không dễ quên
đối với Phnom Penh. Trong phiên họp Quốc hội Campuchia
ngày 28.2.91, Hun Xen phát biểu : " Như các đại biểu
đă biết, vấn đề SNC này rất phức tạp. Chúng ta phải
đấu tranh khắc phục và làm thất bại âm mưu của kẻ thù
nhưng bọn ủng hộ chúng không đâu. Mặc dù Hội đồng đă
được thành lập trên cơ sở 2 bên b́nh đẳng nhưng người
ta vẫn muốn biến thành 4 bên theo công thức 6+2+2+2+1,
và vấn đề chủ tịch làm cho Hội đồng không hoạt động
được ".
Tôi c̣n nhớ khi tiếp tôi ở Phnom Penh, ngày 28.9.90,
Hun Xen đă có những ư khá mạnh về thoả thuận Thành Đô
: " Khi gặp Sok An ở Bangkok hôm 17.9, Trung Quốc doạ
và đ̣i SOC phải công nhận công thức mà Việt Nam và
Trung Quốc đă thoả thuận. Nhưng Phnom Penh độc lập.
Sok An đă nói rất đúng khi trả lời Trung Quốc là ư này
là của Việt Nam không phải của Phnom Penh."
Cuộc hội đàm Thành Đô tháng 9.90 hoàn toàn không phải
là một thành tựu đối ngoại của ta, hiện tại đó là một
sai lầm hết sức đáng tiếc về đối ngoại. V́ quá nôn
nóng cải thiện quan hệ với Trung Quốc, đoàn ta đă hành
động một cách vô nguyên tắc, tưởng rằng thoả thuận như
thế sẽ được ḷng Bắc Kinh nhưng trái lại thoả thuận
Thành Đô đă làm chậm việc giải quyết vấn đề Campuchia
và do đó làm việc b́nh thường hoá quan hệ với Trung
Quốc, uy tín quốc tế của ta bị hoen ố.
Việc ta đề nghị hợp tác với Trung Quốc bảo vệ chủ
nghĩa xă hội chống đế quốc Mỹ, thực hiện “ giải pháp
Đỏ " ở Campuchia là không phù hợp với Nghị quyết 13
của Bộ Chính trị mà c̣n gây khó khăn với ta trong việc
đa dạng hoá quan hệ với các đối tượng khác như Mỹ,
phương Tây, ASEAN, và tác động không thuận lợi đến
quan hệ giữa ta và đồng minh, nhất là quan hệ với Liên
Xô và Campuchia. Trung Quốc một mặt bác bỏ những đề
nghị đó của ta, nhưng mặt khác lại dùng ngay những đề
nghị đó chơi xấu ta với các nước khác nhằm tiếp tục cô
lập ta, gây sức ép với ta và Campuchia.
Cùng với việc ta thúc ép Phnom Penh đi vào " giải pháp
Đỏ ", việc ta thoả thuận với Trung Quốc công thức SNC
tại Thành Đô là không phù hợp với nguyên tắc nhất quán
của Đảng ta là không can thiệp và không quyết định các
vấn đề nội bộ của Campuchia, làm tăng mối nghi ngờ vốn
có của Campuchia đối với ta, đi ngược lại chủ trương tăng
cường và củng cố mối quan hệ với ta với Campuchia và Lào.
Trần Quang Cơ
(trích Hồi ức và suy nghĩ, 2003)