|
|
Ngừoi Quốc Gia là những người đặt tổ quốc lên bản vị tối cao Tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v.. Trích VN Tự Điển của Đào Duy Anh |
|
Nationalist Vietnamese Forum |
HUYẾT HOA
X.Y.Thái Dịch Lư Đông A
LỜI NÓI ĐẦU
Những bản văn trong tuyển tập này thuộc loại tiểu luận rút trong bộ Nhă của Thư Kư Trưởng Duy Dân Đảng Lư Đông A viết trong khoảng thời gian 1940-1945, giữa lúc Đệ Nhị Thế Chiến đang tiếp diễn và các phong trào dân tộc vận động tự chủ đang lên cao.
Lịch sử nhân loại phát triển bắt đầu đi vào một chiều hướng mới
Những bản văn này xác định chiều hướng đó trong sự nhận định t́nh thế thế giới và thời đại với con mắt của một lịch sử tiến hóa sử quan và bằng một công cụ nhận thức là "Duy Dân biện chứng" (Xuân Thu).
Từ những nhận định đó, một sứ mạng dân tộc và thời đại được đề ra cho người Việt yêu nước giàu ḷng hy sinh lại vốn có một truyền thống đấu tranh chống áp bức và chia rẽ.
Trên nền tảng của thời đại, làm công việc khơi ḍng lịch sử, người Việt phải "Sống Tái Sinh" trong một tinh thần mới, với nếp nghĩ và nếp làm mới (Bông Lau). Người Việt bước lên "Bồn gột rửa", trút bỏ mọi thành kiến, quay trở về kín gánh trong đáy hồn của lịch sử dân tộc sức sống và sức đấu tranh tâm lư (Thần Linh Học, Sử Hồn).
Người Việt làm cách mạng nghĩa là làm "Công việc xoay đổi thời đại" không thể không biết đến những thành bại của những cuộc cách mạng đă đánh dấu vào lịch sử tiến hóa của nhân loại, để rút lấy những bài học "máu" (Huyết Hoa). Bởi dân tộc là nhiều nhưng nhân loại là một, loài người xưa và nay vẫn "lướt mướt theo đuổi thực hiện một mẫu mực người lư tưởng trong một mẫu mực xă hội lư tưởng". Mỗi bước tiến của nhân loại há chẳng là những bước Duy Dân đấy ư trên con đường phục hưng "con người"? trong mỗi xă hội và ở mỗi thời đại riêng biệt? Những bài học máu c̣n là đảm bảo cho cuộc cách mạng Việt giữ được "Nhân loại toàn tính".
Cách mạng Việt v́ thế phải là một công việc có sáng tạo tính, khoa học tính, nhân đạo tính và biện chứng tính. Cách mạng Việt c̣n là cả một thể hệ triết học đấu tranh, thống nhất khoa học, triết học và sử học, thống nhất lư luận và hành động.
Nhưng ở đây, chúng tôi không làm công việc giới thiệu mà chỉ làm công việc trao truyền. Mỗi bản văn trong tuyển tập tự nó đă có những giá trị mà bạn đọc tất nhận thấy.
Non ba mươi năm đă trôi qua sau khi những bản văn được viết ra. Thời gian không làm mất giá trị thực tiễn của những bản văn đó đối với công cuộc cách mạng và mở thời đại của dân tộc chúng ta trên con đường sống c̣n và tiến hóa. Trái lại, thời gian với kinh nghiệm sống và tranh đấu càng làm nổi bật lên tính chất đúng xác và cần thiết của những công việc mà cách mạng phải làm, của con đường mà cách mạng phải đi với những phương thức và phương pháp mà cách mạng phải theo.
Nói như vậy không có nghĩa là những bản văn trong tuyển tập này đă chứa đựng toàn bộ một lư thuyết cách mạng với một chủ trương dân tộc và thời đại được vạch ra đầy đủ. Nhưng mà qua những ḍng chữ là đă hàm súc những ư nghĩa căn bản trên thấm nhuần trong mỗi lời văn và mỗi danh từ được xử dụng.
Chúng ta càng nhận thức được sâu sắc bao nhiêu những ư nghĩa đó là đă tự ḿnh tiếp nối được chắc chắn bấy nhiêu với truyền thống của người Việt tranh đấu đời đời cho sự khơi nguồn và mở ḍng sống của dân tộc.
Bởi qua những bản văn đó dào dạt t́nh yêu nước thương ṇi và chan ḥa ḷng yêu thương nhân loại.
Bởi đây là kết tinh của đau thương và tủi nhục. Dân tộc nào chịu đựng nhiều hơn và lâu hơn dân tộc Việt những tội ác của loài người? Và người Việt nào không từng cảm thấy trong ḷng như "chết đau thương" trước những đau khổ và tủi nhục của chính ḿnh và đồng loại?
Hoa sen nở trong bùn và Chúa lên Câu Rút!
Đó là những đóa nhân ái nở trong ḷng người Việt. Hoa nhân ái là hoa lư tưởng của cách mạng Việt.
Loài người đă làm cho thép nở hoa, hoa và nấm nguyên tử! Người Việt chúng ta quyết đem lại cho loài người đóa Huyết Hoa, đóa hoa máu c̣n gọi là "Ái hoa" và "Trí Tuệ hoa".
Sao cho yêu thương được chế độ hóa và thực tiễn hóa!
Sao cho toàn thể loài người được hưởng hương thơm của hoa nhân ái!
Đó là lư tưởng hiện thực trong việc làm của chúng ta trên con đường phụng sự dân tộc và nhân loại. Mùa hạ năm Kỷ Dậu.
THÁI LĂNG NGHIÊM
X.Y. Thái Dịch Lư Đông A
Gió Đáy thuộc Duy Dân Học Xă
xuất bản lần thứ nhất tại Sài G̣n, Việt Nam
ngày 7 tháng 10 năm 1969 (Kỷ Dậu 4848 tuổi Việt)
CHÂN NGÔN
-Cuộc Duy Dân Cách Mạng của ṇi Việt muốn là một "Kultur Kampf" cho nhân loại nguyên tắc toàn thế giới.
SỨ MỆNH THANH NIÊN CÁCH MẠNG:
-Mỗi thời đại trong ḍng sống của lịch sử hoạt động như thế, phải có một tuổi ra cầm nắm lấy sức chủ và làm cán cốt cho đời sống chung hết thảy.
-Mỗi thế hệ cũ phải biết thời cơ lui về một bản vị có ích chung. Mỗi thế hệ mới phải biết nắm thời cơ tiến lên ngôi báu của thời đại mới mà chỉ huy và làm tṛn sứ mệnh mới.
-Mỗi thế hệ dự bị phải thâu tóm hết những trí tuệ và kinh nghiệm cũ; trau giồi cho ḿnh tất cả những điều kiện cần yếu cho nhiệm vụ tương lai của ḿnh, để sắp sẵn ra nối liền dây tiến hóa.
-Chỉ có thế hệ thực tiền tiến mới đủ đại biểu được tương lai.
-Chỉ có tầng cấp thực đa số mới đủ đại biểu được dân tộc.
-Tương lai tỏ lộ trong óc mới của thời đại và viễn kiến.
-Thế hệ của thanh niên và tầng cấp 98% của quốc dân Việt chính là đáy tầng của dân tộc Việt.
-Phải nắm giữ lấy sức chủ của cách mạng, điều khiển được sức phụ của cách mạng, kiến thiết và dự liêu một văn minh mới.
-Lấy vũ lực ra cứu quốc nghĩa là đem sắt, lửa với máu ḿnh ra tranh đ̣i lấy chủ quyền của tự ḿnh được tự do, dùng ư chí của ḿnh đối với đất đai, dân chúng, việc làm, đường đi và vận mệnh của tự ḿnh. Không đổ máu, tuyệt không xoay chuyển được thời đại.
CÁCH MẠNG, CHÍNH TRỊ, LĂNH ĐẠO:
-Cố nhiên hoàn cảnh và kinh tế xúc tiến cái biết nhưng mà cái biết phải lănh đạo hoàn cảnh và kinh tế. Lư luận phải lănh đạo được thực hành, mà thực hành phải xúc tiến, chứng minh và tu chỉnh lư luận.
-Lănh tụ phải có ba đức tính: Có thể là nhà lư luận đồng thời là nhà hành động và nhà tổ chức, không thể th́ không được.
-Nuôi tâm sinh thiên tài.
Nuôi óc sinh nhân tài.
Nuôi thân sinh nô tài.
-Dân tộc ta cần những thanh niên rất thuần túy và sung thực, đem ra làm trọn vẹn hai tầng chức vụ của thời đại là cách mạng và kiến thiết.
I-HUYẾT HOA
1-CÁCH MỆNH
H́nh thức của văn hóa là sự phản ảnh của đời sống hiện thực xă hội. Nội dung và kết cấu của văn hóa, tự thân nó là tổng nghiệp của toàn thể loài người trong ḍng sống xă hội, lịch sử và thời đại. Lịch sử loài người chép ng̣i bút của máu diễn tiến, mỗi sử kư lộ ra mỗi đặc chứng văn hóa. Mỗi sử kư kết tạo bằng một kiến trúc sử của xă hội và quan niệm về kinh tế riêng biệt; cái dây nối suốt mỗi diễn tiến của thời đại, đồng thời c̣n là những quy luật dẫn dắt cho sự diễn tiến của thời đại kia là xă hội biện chứng. Xă hội diễn tiến theo một biện chứng có khoa học tính, phát triển, phát triển măi; trong hoài băo của mỗi xă hội thời đại từng dựng dục cái lư tưởng của xă hội và thời đại sau, tức là cái kết cấu hiện thực của xă hội và thời đại sau.
Cách mạng là công cuộc xoay đổi thời đại trên một giai đoạn diễn tiến xoáy trôn ốc có nút đă đến ngày thành thục của một lẽ sống hàm dưỡng trong nút bế tắc, cần yếu có một bạo đột thủ đoạn cởi mở cho dây diễn tiến đi lên; ư nghĩa và tác dụng của cách mạng là tu chỉnh và cải tiến xă hội cho sang được một xă hội hợp lư hơn, hy vọng hơn, được đi vào một con đường hợp quy luật, hợp với nguyên tắc tiến hóa, hợp với tương lai có dự biết trước có một trông ngóng của lư tưởng hàm dưỡng tự sâu xa. Mỗi công cuộc cách mạng sản sinh ra một xuất lộ cho dân tộc, quốc gia và xă hội. Khởi điểm của cách mạng đă dựng dục từ trong bào thai của thời đại cũ, đó là lư tưởng trong một quá tŕnh tự nó tiến triển để cho thành thục, thể hiện thực hoàn toàn và y cứ vào hiện thực mà phát triển tinh thần và nguyên tắc với tự do và sản sinh ra một lực lượng đều hoàn toàn là kết quả của hiện thực, tức là cái xuất lộ của quốc gia dân tộc và xă hội đương nhiên là sự kết hợp của nội tại và ngoại tại mà thành một đường lối với một hiệu quả dự cầu.
2- HUYẾT THAI
Cách mạng có văn hóa cách mạng. Cần phải có một
tinh thần siêu nhiên và tiềm tàng lănh đạo
loài người cho kết hợp thành một sức lực để
đợi thời cơ thực hiện lấy lư tưởng và nguyên tắc của cách mạng. Cuộc cách
mạng 1789 há chẳng phải uyên nguyên sâu sắc măi từ thế kỷ XVI, từ Diderot,
Voltaire, Montesquieu, Rousseau mà đi? Thế cho nên
cách mạng phải có một tinh thần chuẩn bị sẵn, một nguyên tắc tiềm tàng sẵn, lại
một phong khí tẩm nhuần sẵn, nung nấu sẵn từ chủ quan
đến phối hợp với thời cơ và kích thích ở bên
ngoài và để nổ bùng ra trên một giai
đoạn đă thành thục.
Xét nét lại sử cách mạng và đặc chất với đặc chứng từng thời kỳ giúp ích cho chúng ta mang khế hợp cái truyền thống của dân tộc cách mạng với nhu yếu của ngày nay cho thành một dân tộc chủ trương thật thích hợp. Xét nét lại hết cả những hoạt động về lư trí, ư chí và t́nh cảm của cách mạng Việt trong suốt cái quá tŕnh một thế kỷ nay, tức là xét nét văn hóa của cách mạng ta giúp ích cho tự ta kiến thiết lại một văn hóa của cách mạng đi đôi với dân tộc chủ trương.
Cho nên tất cả chủ trương của Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ với dấu tích của biến pháp vận động phải lục lọi ra. Những văn tập tản mác của Sào Nam và Tây Hồ phải sưu tầm lại. Các cuốn "Việt văn minh khởi điểm sử" và "Pháp Việt đề huề" đáng cho chúng ta nghiên cứu, phân tích và b́nh giải lại. Tất cả những văn hiến cách mạng và kháng chiến, khởi nghĩa, Sát Thát, B́nh Ngô, Tây Sơn, Cần Vương vân vân... phải chỉnh lư lại cho nó một ư nghĩa và giá trị thích đáng, thu góp lại thành một hệ thống sử tranh đấu của nước ṇi.
C̣n phải phát quật lên "Anh Khóa" với tất cả cái linh hồn của xă hội cũ và nông thôn, biểu hiệu tự cường vận động trong sâu cơi dân gian, "Chiêu Hồn Nước", "Dạy Con", "Gọi Tỉnh Quốc Dân" vân vân... chan chứa những phẫn nộ ái quốc và những cái tiếc dân tộc tự sâu trong đáy ḷng của dân chúng. Những ca, vè, dân dao, sấm kư, đào dưỡng cho ḷng người một lư tưởng, một cảm giác biết bao sâu xa, ngẫm nghĩ, sáng láng, bởi đấy là những khúc hy vọng, những khúc đau thương đọng ngừng lại của cả một thế hệ của lịch sử tinh thần. Những thi ca diễn giảng trong Đông Kinh Nghĩa Thục, những chiếu Cần Vương, phát biểu tuyên ngôn, những gắng sức của những nhà văn hóa muốn tái kiến lại cái mô h́nh của toàn bộ lịch sử hùng tráng và vĩ đại của dân tộc ta trong những cuộc dân tộc tinh thần phục hưng vận động, đó là những tài liệu có giá trị mà làm phong phú cái kho báu của văn hóa chúng ta. Nó đều là Huyết Thai của văn minh Duy Dân, kết tụ sâu sắc trong đáy tầng của đời sống thuần túy quốc dân không đầu hàng và thỏa hiệp. Nó là Huyết Thai của con người Duy Dân mới.
3- HUYẾT NỤ
Một trăm năm cách mệnh Duy Dân đời nay có một tinh
thần và chủ trương nhất quán, hằng biểu hiện ra bằng những tượng trưng
nào, ta vẫn có thể t́m thấy cái dây chỉ đạo của
lịch sử ở trong. Cái tinh thần đó c̣n uyên nguyên từ cái
để uẩn 5.000 năm sóng sống của nước ṇi, từ
đầu sử đến bây giờ không dứt đấu tranh bằng dân tộc
cách mạng Duy Dân xiển dương cái tinh túy ấy ra đem tiếp hợp lại, lại cái truyền
thống Tổ Tiên với tinh thần của hiện đại, hoàn
thành một cách mạng chủ nghĩa và cách mạng văn hóa
cho dân tộc trên con đường đi lịch sử và
mức tiến.
Tất cả học thuật, văn hóa và nghệ thuật liên hợp lại thành một trận tuyến tinh thần, xiển phát những lư tưởng t́nh tự và ư chí cách mạng sáng tạo của dân tộc, bằng huyết tính và sử tính tiến hành một khúc nhịp Vạn Thắng với thời đại.
Tất cả học thuật, văn hóa và nghệ thuật gắng sức đi t́m một nội dung và h́nh thức kết hợp dung ḥa hai cái lư tưởng "hiện thực" hoàn thành một mô h́nh của văn hóa tương lai cho dân tộc.
Vài nét nguệch ngoạc đó đă vẽ xong cái Nụ Máu của văn minh mới của Duy Dân đợi khai hoa.
4- BỒ ĐỀ
Thích Ca đă giác ngộ những nỗi khổ, sống,
chết, bệnh, già của toàn thể chúng sinh và luật tàn ác vô thường thành, trụ,
hoại không (sanh, trụ, di, diệt) của vũ trụ. Thích Ca bằng một ư chí không thầy
và tự sức, tự ḷng đại từ bi, nhân ái, vô hạn
lượng, phát nguyện lớn lao cứu vớt cho toàn thể thế giới không trừ thai
sinh, thấp sinh, noăn sinh hay hóa sinh.
Thích Ca đă lịch lăm trong ngoài Bà La Môn giáo. Thích Ca đă đau thương cái truyền thống giai cấp, chia rẽ và đè nén của Aryen, say sưa cứu vớt chúng sinh bắt đầu từ làm cho Ấn Độ toàn dân được chân b́nh đẳng, chân tự do và chân thân ái.
Thích Ca đă băng ḿnh khỏi nơi cao quư: Ta không vào địa ngục, ai vào địa ngục? Không vào địa ngục sao cứu vớt được chúng sinh?
Thích Ca đă bảy năm trường tịch mịch dưới gốc Bồ Đề, nan hành khổ hạnh khôn bằng và Thích Ca trong một đêm đă triệt để giác ngộ.
Thích Ca từ đấy chân đất, hở vai, cầm bát lang thang suốt cơi, xin ăn, thuyết pháp và thu thập đồ đệ. Hoa Sen không mọc trên núi cao. Chỉ có giai cấp Paria mới kiến thiết được Phật Giáo. Những giai cấp được ưu đăi không thể bàn nghị tới được.
Cuộc Xă Hội cách mạng đó, trước đi bằng triết học và tông giáo Thích Ca đă chối bỏ hết luận sự thế tục và xiển phát Bồ Đề lớn.Ôi! Hết thảy Ma giới ví như Phật giới nhất như! Sự cởi mở hết tấm ḷng chấp trước (đắm đuối) của ḿnh là công việc phải trừ hết nhân duyên, phiền năo; quân địch chính của ba giới (sắc giới, vô sắc giới, dục giới) vạn pháp duy thức là vô minh.
Chỉ có giác ngộ Đạt Ma mới có thể mang đến cho mọi vật một sinh mệnh. Chỉ có lư tưởng niết bàn của đất tịnh, trang nghiêm thường sáng, trong đó là sinh mệnh của toàn thể được thương, được vui, được sạch và được chân chính chứng quả thấy cái tính A Di Đà (vô lượng thọ, vô lượng quang). Hết thảy chủng tử của Ba ngh́n ngh́n thế giới sẽ biến thành Ba Ngh́n Ngh́n thế giới Hoa Nghiêm cơi Tây.
Tất cả các Pháp với Tướng, Sức với Tâm không lúc nào không trong sự vận động biến đổi và chối bỏ lại tái sinh của biện chứng pháp không có, có không mà phát hiện ra chân như và như lai, không đi, không lại, không diệt, không sinh, không nóng, không lạnh.
Tổ chức của cuộc cách mạng bằng tông giáo đó là y cứ vào nguyên tắc tuyệt đối chối bỏ. Xuất gia là sự phản kháng hết, hết những đè nén, tham, si, giận, dữ, chấp trước của tại gia, của tư sản. Tất cả những người xuất gia dưới sự lănh đạo của Tam Bảo: Phật lănh tụ, Pháp chủ nghĩa, Tăng cán bộ cùng xum họp nhau bằng nguyên tắc Ḥa, hỗ trợ, hợp tác và thống nhất dưới những tu dưỡng của Độ (Lục Độ): bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, trí tuệ, thiền định và tinh tiến. Tất cả những người ấy thành chứng là những người từ Đại Bi mà Đại Giác, Đại Nguyện mà đi đến Đại Hùng, Đại Thế mà phát dương Đại Đạo. Những con người ấy có kinh, có luật và có luận chỉ đạo cho họ hết từ xử thế ra xuất thế. Ḷng nhân ái của họ đă thay đổi hết Ấn Độ tư tưởng, tu cải hết khoa học và triết học cho Ấn Độ của động và tiến hóa.
Thích Ca trên hội Pháp Hoa đă thụ kư cho muôn ngàn Phật tương lai và đă dự báo Di Lặc sắp tới đến để làm một công việc của Đại Giác trong hội Long Hoa ngày mai. Tất cả chúng sinh theo một nhịp tiến hành khúc mà cùng lên Bỉ Ngạn, hết hết đều quy về Như Lai tạng, nhưng mà Phật có độ ai không? Phật không độ ai hết, chúng sinh tự độ lấy. Phật có tịch diệt không? Phật không tịch diệt. Pháp thân của chân như là thể vận toàn vũ trụ.
Ví như thế, Phật là Tổ đă chứng tam muội, tam Bồ Đề đệ nhất Thắng Nghĩa bất diệt và ấn chứng.
5- CÂU RÚT
Dân tộc Do Thái con cháu Abraham đă giác ngộ
"NGƯỜI" là một thể, thế giới là đại
đồng. Cái tinh thần ấy không lấy ǵ mà tượng trưng
được, phải gọi là Chúa Trời. Chúa Trời là
thực thể của muôn ngàn Chúa Trời vô thượng và vô nhị. Vô thượng cho nên thắng
được hết thảy ác thế lực, vô nhị cho nên
thắng được hết chia rẽ. Chúa Trời có hỷ để mà
sinh, có nộ để mà chiến tranh. Chúa là tối
cao của lư tưởng của tự do, bác ái và b́nh đẳng.
Chúa là thực thể của lư tưởng đó và
đ̣i phải đấu
tranh, cho nên Thánh Linh là cái trí tuệ đại
giác nối liền Chúa Cha và Chúa Con. CHRIST, cứu thế chúa, kẻ vâng theo
chủ nghĩa mà thực hành tuyệt đối đạo đức.
Và dân tộc Do Thái đă được lănh đạo trong các cuộc cách mạng dân tộc, cách mạng chính trị, cách mạng Câu Rút là siêu thanh của 89 và 17. Sự thờ phụng đấng tối cao và lư trí trước bàn thờ Tổ Quốc đă cảm chiêu nên lá cờ ba sắc. Bây giờ đây không phải là lúc chúng ta chiến tranh với tâm ta hay óc ta mà là lúc chúng ta chiến tranh với hết thảy những thế lực đen tối trong xă hội. Đấy là lá cờ Búa Liềm.
Mahomet càng làm cho học thuật Cơ Đốc nhất nguyên hóa. Cơ Đốc truyền vào sa mạc Ả Rập đă đem cho dân chúng ấy cái khí vị hơn đời. Al Coran nộp công hay thanh gươm vết anh hùng ngày nay c̣n đó.
Thế nhưng giáo quyền đă bôi nhọ Câu Rút. JESUS có muốn đâu Tông Quyền chính trị? JESUS có muốn đâu?
6- MẶC ĐỊCH
Người ấy là người đầu nện gót ra cứu đời. Vũ trụ đối với người ấy chỉ là một thể hệ của thực dụng lư tắc, có ư nghĩa giá trị và hiệu dụng thực tiễn cho loài người, cho số đông nhiều nhất trong loài người, cho những người vất vả làm lụng để t́m kiếm ăn mặc cho xă hội. Những thứ ấy và chỉ những thứ ấy là hợp với quy luật tự nhiên và đúng với ư chí nhân đạo.
Nó cũng là một chế hạn của hoàn cảnh đời sống dân Tàu muốn rằng giai cấp trung dung sẽ tập đại thành lại mà làm Tông Chủ của lịch sử "vạn thế chi vương". Mặc Tử đối đầu với Dương Chu chỉ là cái tổng ḥa của những mồ hôi róc rách chảy vào những tấm ḷng nói tiếng của lao động giả. Mặc Tử là đại biểu trong đấu tranh xă hội của giai cấp ấy rất thích đáng với giai cấp của ḿnh, thời đại ḿnh.
Sự chia rẽ của Chiến Quốc là ở cái lũng đoạn của các hạng người đặc quyền. Như nếu người ta biết "thượng đồng" thế giới mới "đại đồng" được. Người ta có mang ra thực tiễn "kiêm ái" th́ loài người mới thực "thân ái" được.
Chiến tranh phải tiêu diệt bằng tiết kiệm công thế, cũng có thể ứng dụng nguyên tắc đó vào kháng chiến được để đi đối với "phi công" nghĩa là lợi thế giữ tích cực. Tất cả các giai cấp đặc quyền phải bỏ hết những phù hoa, xa xỉ và phù diễn để đem đời sống lại cho ngang với dây thủy b́nh của đại chúng. Những bất b́nh của xă hội phải phá tan bằng nhân ái hay bất đắc dĩ bằng thủ đoạn vũ lực của nhân ái. Mặc Tử để cứu sống, đă đi bộ suốt đêm ngày, mười buổi sang Sở, mang trí thức và học vấn xác thực của ḿnh về tự nhiên với máy móc ra phá tan súy đồ của Sở trước, mang tinh thần hy sinh của tự ḿnh và học tṛ ra tiêu diệt tai vạ của chiến tranh sau. Chỉ có hy sinh và chiến tranh để tiêu diệt chiến tranh, chỉ có lư tưởng tối cao, chân, thiện, mỹ, kỷ luật và hiệp nghĩa ra phá tan được bất b́nh.
I-HUYẾT HOA
7 - HOA THÁNG NĂM
Chỉ có sự vất vả bằng độc lực với tinh thần mạo hiểm biên thú và sáng tạo khi tự tỉnh lại mới thể nghiệm thấm thía được biểu hiện quyền sống c̣n, độc lập và tư cách sống c̣n, chính nghĩa thật đúng đắn. Quyền ấy và tư cách ấy mới làm nên một chế độ tự
do và dân chủ được, phồn thịnh được bằng mang sự vất vả ấy ra áp dụng vào công cuộc đấu tranh cho cái lư tưởng đă thể nghiệm được đó.
Một văn minh mới như đóa hoa tươi tốt và to tát sẽ nở bùng ra. Ví như thể đất Mỹ trải qua một thời ṇi giống xâm lược, máu và nước mắt, xấu ác hôi tanh ở trên mồ đ ống đă nở ra đóa hoa tháng Năm. Đóa Hoa Tháng Năm đó đă sum sê phủ kín cái mồ đống tội ác lịch sử kia. Đóa hoa ấy bón tưới bằng những chất tố lịch sử của mồ đống đó. Tội ác của thực dân phải đền bù bằng mọi sự hối hận thầm kín nơi đáy ḷng. Có khi người ta phải tự trừng phạt ḿnh cho khỏi lởn vởn cái h́nh bóng tối tăm của tội ác cứ lởn vởn măi trong hồn. Đó là trường hợp của 1865, Nam–Bắc chiến tranh cho cái lư tưởng cởi mở dân tộc da đen.
Cuộc chiến tranh ấy gọi là phân liệt (sécession) th́ chửi rủa lư tưởng lịch sử quá. Cuộc ấy phải là thần thánh chiến tranh, thuần v́ ḷng yêu thương và nghĩa công đạo. Cuộc ấy phải là vị tha chiến tranh, không tư lợi và không vị kỷ.
Đóa Hoa tháng Năm trong màu đỏ của nó sở dĩ đỡ hoen ố mà thêm đôi phần tươi hồng là nhờ ở 65. Người ta thấy hối hận đau thảm khi nhắm mắt lại tưởng nghĩ, tức gia ản, c̣n đau thảm hơn khi bừng mắt ra trông xét; người ta thấy phải không tiếc một cuộc chém giết ruột thịt để xóa nḥa trong hăng hái cái vết đau tội lỗi gia truyền đi, ché m giết ruột thịt để rửa sạch những bướu nhọt c̣n di độc lại trong huyết thống sinh sống dạt dào nó nối liền ṇi giống tới tương lai. Ḍng sống phải trong sạch th́ đời sống mới đ ược an ủi trong linh hồn, hết cả những lởn vởn của hối hận, đau thảm và tối tăm, đời số ng mới có hạnh phúc và ḥa b́nh thật chân chính. Loài người muốn hết chiến tranh phải nhắm mắt lại rồi bừng mắt ra bằng cuộc chiến tranh sau rốt là cuộc phán quyết sau cùng, phải đánh giết ngay tự ḿnh nếu tự ḿnh có tội lỗi. Như muốn c̣n có chiến tranh phải ca tụng những cuộc chiến tranh thần thánh vị tha như thế ấy.
X.Y. Thái Dịch Lư Đông A
Gió Đáy thuộc Duy Dân Học Xă
xuất bản lần thứ nhất tại Sài G̣n, Việt Nam
ngày 7 tháng 10 năm 1969 (Kỷ Dậu 4848 tuổi Việt)
NEXT→