Mặt
trận Văn hóa
Hiện nay thủ đọan thâm độc nhất của Tàu Cộng là mưu đồ thực hiện sách
lược đồng hóa dân tộc Việt Nam vào dân tộc Tàu qua mặt trận văn hóa như
họ đă Hoa hóa các tộc Bách Việt ở miền Nam sông Dương Tử.
Mă Viện: Ông tướng Tàu (70 tuổi) nham hiểm thủ đoạn phá hủy trống đồng
và xóa bỏ luật lệ Việt, áp dụng luật Tàu trên đất Việt.
Sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng bị thất bại năm 43 sau Tây lịch,
hàng trăm thủ lănh, hàng ngh́n nghĩa quân đă bị Mă Viện tàn sát. Hơn 300
thủ lĩnh bị bắt đài sang Kim Lăng (Hồ Nam). Mă Viện tâu với vua Hán Luật
Việt và Luật Hán khác nhau hơn 10 điểm và xin áp dụng luật Hán trên đất
Việt. Cùng với việc thủ tiêu chế độ Lạc tướng, việc băi bỏ pháp luật của
người Việt và phá hủy trống đồng (biểu tượng cho uy quyền của Lạc tướng)
nằm trong âm mưu của các nhà lănh đạo phương Bắc muốn biến Việt Nam hoàn
toàn trở thành châu, quận, huyện do Trung Quốc trực tiếp cai trị.
Thực dân Văn hóa: Nhâm Diên- Tích Quang- Sĩ Nhiếp
Nhâm diên, Tích Quang xóa bỏ truyền thống, phong tục tập quán, lễ nghĩa
Việt và cưỡng ép người Việt sống theo khuôn mẫu lễ nghĩa của Tàu. Sĩ
Nhiếp tích cực truyền bá Hán học ở Việt Nam với ư đồ xóa sạch văn hóa
Việt, mà văn hóa là nếp sống, cách ăn-mặc-ở, lối ứng xử, cách suy nghĩ
v.v..., tâm Việt Hồn Việt.
Minh Thành Tổ: Ông vua Tàu chủ trương xóa bỏ tận gốc tộc Bách Việt – đốt
sách- bắt nhân tài Việt đem về Tàu.
Gần đây trong một đạo sắc chỉ của Minh Thành Tổ ( vua nhà Minh) gởi cho
Chu Năng, tướng chỉ huy đoàn quân xâm lăng đă minh chứng ư đồ xóa sạch
văn hóa Việt của giới lănh đạo phương Bắc. Đạo sác chỉ đề ngày 21 tháng
8 năm 1406 (theo Kiều thư của Lư Văn Phượng năm 1540) đă ra lệnh cho
toàn thể binh lính Tàu vào đất Việt là đốt sạch mọi sách vỡ, văn tự do
người Việt Nam viết, kể cả sách dạy trẻ em, một mảnh một chữ cũng không
được để lại. Những đống lửa khổng lồ cháy suốt trong hai năm với mưu đồ
xóa bỏ tận gốc rễ văn hóa Việt . Điều đó cho thấy cuộc Nam xâm lần này
với hơn 800 ngàn người Tàu (binh lính và phu binh) không phải chỉ là một
cuộc xâm lăng thuần túy quân sự mà nhà Minh đă phát động cuộc chiến
tranh xâm lăng để đồng hóa. Cuộc xâm lăng với mục đích chính là xóa sạch
ṇi giống Bách Việt trên bản đồ thế giới. Nhưng người Tàu hoàn toàn thất
bại. Lê Lợi và Nguyễn Trăi đă lănh đạo toàn dân đứng dậy đánh đuổi quân
Minh ra khỏi đất nước.
Là Người Việt Nam, chúng ta phải tự hào về ḍng Lạc Việt – tiền thân của
dân tộc Việt Nam, ṇi giống Bách Việt duy nhất c̣n tồn tại trên thế
giới.
Người Việt Óc Tàu
Cuối đời Trần nhất là từ đời hậu Lê về sau, trí thức khoa bảng Việt Nam
quá đề cao Nho giáo. Đó là thời kỳ Nho giáo độc tôn ở nước ta. Cho nên
giới sĩ phu Việt Nam đă chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Tàu. Một khi đầu
óc của giới trí thức khoa bảng đă thấm nhuần văn hóa Tàu th́ họ quên
ḿnh đang sống trong môi trường thiên nhiên Việt Nam. Những câu thơ tả
cảnh mùa thu chẳng hạn, từ đời Lê về sau chịu ảnh hưởng rất nhiều của
văn hóa Tàu. Mùa thu trong truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự là mùa thu
của Đỗ Phũ trên đất Tàu: “Lác đác rừng phong hạt móc sa”, “ngàn lau hiu
hắt khi thu mờ”. Mùa thu của Nguyễn Du cũng thế: “Rừng phong khi lá rũ
vàng”. Ngoại trừ Nguyễn Khuyến sống trong ḷng nông thôn mới có thể tái
tạo một mùa thu với một tâm hồn Việt, thuần túy Việt Nam (xem Thu Vịnh,
Thu Điếu). Hồ Quư Ly, người có cái nh́n độc đáo về văn hóa Việt và đă
phê b́nh nhiều nhà Nho, từ Khổng Tử đến Chu-Tŕnh mà đầu óc cũng bị điều
kiện hóa bởi văn hóa Tàu: Lễ nhạc nhu tiền Hán, y quan giống thịnh Đường
được coi là tiêu chuẩn của một nước văn hiến.
Hầu hết trí thức khoa bảng và các quan trong triều từ cuối đời Trần về
sau đều có khuynh hướng muốn cải biến văn hóa Việt theo văn hóa Tàu. Họ
luôn luôn làm áp lực nhà vua tổ chức xă hội theo khuôn mẫu Tàu. Vua Trần
Minh Tông phải phản đối: Nước ta đă có phép tắc nhất định; vả lại Nam
Bắc phong tục khác nhau (Đại Việt Sử kư Toàn thư, bản kỷ quyểnVII. Sự
việc chép vào năm 1357). Vua Nghệ Tông cũng đă phát biểu: Triều đ́nh
dựng nước, tự có phép độâ riêng, không theo chế độ nhà Tống là v́ Nam
Bắc đều làm chủ nước ḿnh, không cần phải bắt chước nhau (như trên sự
việc chếp vào năm 1370).
Đến nhà Nguyễn th́ hoàn toàn nô lệ Tống Nho thanh nho từ h́nh thức (cách
ăn mặc, luật pháp, tổ chức hậu v.v...) đến tư tưởng. Tất cả đêu lấy
Trung quốc làm tiêu chuẩn.
Lủy tre làng bảo vệ Văn hóa Việt
Rất may sau lủy tre làng, với truyền thống “đất của vua, chùa của làng”,
“phép vua thua lệ làng”, nên nông dân Việt vẫn giữ được truyền thống dân
tộc, tức vẫn giữ lối sống, phong tục tập quán, tâm Việt hồn Việt. Bản
sắc văn hóa Việt là văn hóa xóm làng tức tức văn hóa dân gian, văn hóa
truyền miệng nếu không muốn nói là văn hóa vô ngôn, chứ không phải là
văn hóa trọng h́nh thức, văn hóa chữ nghĩa như văn hóa Tàu hay Tây
phương.
Chính v́ thế, mặc dù CSVN đă và đang phá “lủy tre làng” ở một vài phương
diện về h́nh thức nào đó, nhưng cái gốc của văn hóa Việt vẫn không bị
trốc rẽ. Tuy sự thật cây văn hóa Việt Nam đă bị trụi cành khá nhiều, bị
và được lắp ghép nhiều cành nhánh mới, nhưng ở nông thôn văn hóa Việt,
tức nếp sống, cách ăn-mặc-ở, lối ứng xử, cách xưng hô theo truyền thống
Việt Nam v.v.. vẫn được duy tŕ. Người Việt vẫn là người Việt chất phác
hiền lương, chứ không bị Nga hóa hay Tây hóa hoặc Hoa hóa như cán bộ
CSVN và trí thức ở thành thị.
Việt Cộng tiếp tay Tàu Cộng: “cỗng rắn cắn gà nhà”
CSTQ và các quan thái thú, thứ sử gốc Việt đang nặn óc t́m cách thực
hiện chánh sách đồng hóa dân tộc Việt vào dân Tàu. Kế hoạch thành công
th́ bất chiến tự nhiên thành: Việt Nam sẽ vĩnh viễn trở thành quận huyện
của Tàu. Hồ Cẩm Đào và tập đoàn của ông ta đang phục hoạt tư tưởng của
Khổng Tử với mục đích “b́nh thiên hạ”, tức thực hiện chủ nghĩa bành
trướng để dẹp yên thiên hạ trên toàn thế giới như đă dẹp yên những tộc
Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử, với ư đồ thay thế vai tṛ của Mỹ
trong chủ trương toàn cầu hóa hiện nay.
Đi t́m Văn hóa dân tộc Việt Nam ở đâu đó bên Tàu
Đầu năm 2005, Hà Nội họp sơ bộ về triết học để chuẩn bị tổ chức hội nghị
triết học Đông phương với chủ đề chính là triết thuyết của Khổng Tử.
Giáo sư Trần văn Đoàn sẽ là một trong những cột trụ của hội nghị triết
học Đông phương nói trên tại Hà Nội. Giáo sư là một linh mục cởi áo
ḍng, lấy vợ Tàu, hiện là chính giáo của môn lịch sử triết học Tây
phương tại Đại học quốc gia Đài Loan và kiêm nhiệm LOKUNG Chair of
Phylosophy tại Đại học Phụ Nhân Trung quốc. Ông từng là thỉnh giảng tại
nhiều đại học Âu, Mỹ và châu Á như Louvain, Vienna, Oxford, Kyoto,
London, Phụ Nhân và Bắc Kinh. Giáo sư là một trong những trí thức Việt
Nam chủ trương t́m nguồn gốc văn hóa Việt tận bên Tàu, trong sách của
Khổng Tử và Mạnh Tử, tức đạo Việt nằm trong TỬ VIẾT, trong Ngũ Kinh và
Tứ Thư của Tàu. Giáo sư tŕnh bày quá tŕnh biến hóa từ Việt nho sang
Việt triết trong Luận tập 2 trong bộ Việt Triết Luận của ông ta.
Khuynh hướng này xác định rằng muốn t́m hiểu văn hóa Việt, nếu bỏ Nho
th́ ta chỉ thấy ngọn chứ chưa đến gốc văn hóa Việt v́ Nho giáo chứa đựng
những hằng số của văn minh nước ta.
Nếu Khổng Tử nói: Ngộ thuật nhi bất trước (ta chỉ ghi lại mà không sáng
tác) là thật ḷng (?!) Nghĩa là ông ta đem tư tưởng của thánh hiền hoặc
văn hóa của tộc Bách Việt ở phía Nam sông Hoàng Hà cho đời sau, chứ ông
ta chẳng hề sáng tác.
Nếu đúng như vậy th́ đặc tính của nền văn hóa mà ông ta thuật lại trong
sách chỉ là nếp sống, cách suy nghĩ, phông tục tập quán, lối ứng xử
v.v... của các tộc Bách Việt sinh sống ở phía Nam sông Hoàng Hà và cùng
lắm gồm cả các tộc Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử đến tận Quảng Đông
và Quảng Tây chứ không phải là văn hóa của cư dân Ḥa B́nh (tiền thân
của dân tộc Việt Nam) và cư dân sống ở châu thổ sông Hồng.
Xuyên qua lịch sử, chúng ta nhận thấy Khổng Tử và Mạnh Tử chưa bao giờ
đến bờ Nam sông Dương Tử. Như vậy hai ông thánh của Trung Hoa gốc du mục
chỉ ghi lại nếp sống, cách nghĩ, cung cách ứng xử của các tộc Bách Việt
sống trên đất Tàu. Đó là những điều hai ông nghe kẻ lại chứ không phải
mắt thấy tai nghe tại chỗ. Xét cho cùng cái văn hóa chỉ là cái tự nhiên,
được thích ứng và biến đổi bởi con người để thoả măn nhu cầu về mọi mặt
của con người (Trần Quốc Vượng –Văn Hóa việt Nam tr. 71). Nói cách khác,
nếp sống, cách nghĩ, lối ứng xử v.v... thay đổi theo môi trường sống.
Cho nên ngay trên cùng một đất nước đặc tính của văn minh sông Hồng và
đặc tính của văn minh sông Cửu Long cũng có những điểm khác nhau: Chén
nước mắm của miền Bắc khác với chén nước mắm của người miền Nam. Các món
ăn (bún thang, bún mộc, mắm ruột, mắm đầu cá lóc, hến xúc bánh tráng,
canh chua rau nhúc v.v...) của người miền Bắc và người miền Nam Việt Nam
c̣n có những điểm khác nhau th́ sao lại có thể đi t́m nguồn gốc văn hóa
của dân tộc Việt Nam tận bên Tàu trong Tứ thư Ngũ kinh (sẽ tŕnh bày chi
tiết trong dịp khác).
Nói cách khác, hai ông thánh nói trên –Khổng Tử và Mạnh Tử- không biết
ǵ về cách sống, cách ăn-mặc-ở, cách suy nghĩ, lối ứng xử v.v... của
những những người nông dân trồng lúa nước ở Hoà B́nh (Việt Nam). Người
dân Ḥa B́nh đă thực hiện cuộc cách mạng nông nghiệp trồng lúa nước, từ
sáu đến bảy ngàn năm trước đây. Như vậy, văn hóa Việt Nam bắt nguồn từ
văn hóa trồng lúa nước ổn định lâu đời ở đồng bằng sông Hồng và sông Mă.
Tóm lại có thể nói đi t́m nguồn gốc văn hóa của dân tộc Việt Nam trong
Tứ Thư Ngũ Kinh, ở văn minh Hoàng Hà hay ngay cả văn minh Dương Tử giang
th́ sẽ chỉ thấy được TU-TỀ-TRỊ-B̀NH ¾thích hợp cho giới thống trị du
mục phương Bắc, không thích hợp cho người nông dân Việt¾ chứ không thể
bắt gặp được tinh hoa của văn minh sông Hồng (học ăn, học nói, học gói,
học mở) bắt nguồn từ văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước.
Là người Việt Nam chúng ta cần thận trọng trong mặt trận văn hóa hiện
nay giữa Trung Quốc và dân tộc Việt Nam. Cuộc chiến đang diễn ra vô cùng
khốc liệt v́ gián điệp văn hóa Tàu có mặt khắp nơi và khó phân biệt địch
và bạn. Hơn nữa CSVN lại tạo môi trường thuận lợi cho Tàu Cộng thực hiện
mọi kế hoạch trong trận chiến này.
Ảnh hưởng Văn hóa Trung Quốc
Aûnh hưởng của văn hóa Trung Quốc có mặt khắp nơi qua mọi sinh hoạt: Du
lịch, thương mại, băng nhạc kịch, phim ảnh, dưỡng sinh, báo chí sách vở
v.v...
T́nh báo và gián điệp Trung Cộng dưới dạng du khách và thương gia
Theo ước lượng của một giới chức Bộ Công an Hà Nội th́ trong năm 2003,
ít nhất có vào khoảng từ 100 đến 150 ngàn người Tàu vượt biên giới qua
Việt Nam làm ăn và du lịch. Họ vào tận Sàig̣n. Một số lấy vợ Việt. Theo
nguồn tin nói trên từ năm 1999 đến nay chính quyền Hà Nội không c̣n có
thể kiểm soát được biên giới Việt Trung.
Người Hoa thường trực ở Việt Nam dưới dạng du khách và thương gia. Họ
tiếp tục vào Việt Nam, không ồ ạt mà vào lẻ tẻ từ từ, nhưng liên tục,
tích lủy lại người Hoa có mặt tại Việt Nam từ 1 triệu đến 1,5 triệu. Di
dân người Tàu đang là một đe doạ khủng khiếp cho Việt Nam nói riêng và
Đông Nam Á nói chung. Đó là đạo quân thừ năm vô cùng nguy hiểm, phát
triển đồng bộ với cuộc Nam tiến lấn đất ở biên giới Việt Trung, giành
dầu ở Biển Đông và bao vây ở biên giới Việt Lào. Chính phủ Lào đă để cho
người Tàu khai khẩn đất đai ở vùng biên giới Lào Việt.
Điều vô cùng nguy hiểm là nhiều người Việt phục vụ cho đoàn quân thứ năm
của Trung Cộng: một số v́ củng cố quyền lực và quyền lợi; một số trí
thức thức khoa bảng v́ thiếu cảnh giác đă vô t́nh tiếp tay phục vụ đắc
lực (phổ biến sâu rộng văn hóa Trung Quốc) trong mặt trận văn hóa đang
diễn ra vô cùng ác liệt giữa dân tộc Việt Nam và Trung Quốc
Băng nhạc kịch
Người Việt Nam nào có khứu giác nhạy bén sẽ cảm nhận được mùi “x́ dầu,
mùi Tàu” bay khắp pḥng trong lúc xem các băng nhạc kịch. như vậy mùi
Tàu ảnh hưởng đến hàng triệu bộ óc của người Việt trong nước cũng như
hải ngoại. Phải chăng những người điều khiển chương tŕnh băng nhạc kịch
đă bị Tàu Công mua chuộc rồi sao? Có cần thiết phảiû miệt thị tổ tiên,
bóp mép lịch sử, làm mất hào khí của dân tộc để kiếm ăn hay không?
Dưỡng sinh
Một số trí thức người Mỹ, người Pháp gốc Việt v.v... phổ biến khí công,
hương công, thái cực quyền mà cho rằng phát huy văn hóa dân tộc. Có lẽ
nói phát huy văn hóa Trung Hoa hay tinh hoa văn hóa phương Đông hoặc ǵ
đó th́ ổn hơn. Một số khác tích cực phát triển Pháp Luân Công. Người chủ
trương cho rằng đây là một pháp tu luyện tối cao các đặc tính của vũ
trụ: Chân thiện nhẫn. Pháp luân đại pháp là một phương pháp tu luyện
tầng cao của Phật pháp.
Theo ông Lư Hồng Chí th́ pháp do Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng cách nay
2500 năm chỉ nhằm cho người ở tŕnh độ rất thấp; những người vừa mới ra
khỏi t́nh trạng xă hội phôi thai và có một tâm ư rất đơn sơ. Người ngày
nay không c̣n có thể tu luyện bằng pháp đó. Vào thời mạt pháp cả những
vị sư trong chùa c̣n có nhiều khó khăn để tự cứu độ làm sao họ có thể
cứu độ người khác? (Lư Hồng Chí –Chuyển Pháp Luân tr. 12) Đó là cái tập
quán lấy của người (Ấn Độ) làm của ḿnh (Tàu) với cái tính tự cao tự đại
và óc độc tôn độc hữu gốc du mục.
Phong trào học tiếng Tàu
Hiện nay phong trào học tiếng Tàu với giọng Bắc Kinh đang lên cao độ và
hiện tượng dịch sách Tàu để phổ biến văn hóa Trung Quốc khắp hang cùng
ngơ hẻm. Trên kệ sách đa số là sản phẩm của Trung Quốc được chuyển ngữ,
từ 10 đại hoàng đế Trung Quốc, 10 mưu lược gia Trung Quốc, hệ thống phạm
trù lư học... đến triết học Trung Quốc (đạo-tâm-nhẫn).
“Ḥa” theo kiểu Tàu
Một số sách ca ngợi dân tộc Trung Hoa là dân tộc thượng ḥa. Giáo sư
Tiến sĩ Triết học Trần Chí Lương, người Trung Quốc đă viết: “Dân tộc
Trung Hoa là dân tộc thượng ḥa (coi trọng ḥa). Năng lực thượng ḥa sẽ
kết nhiều quả ngọt trong thế kỷ 21... Đó là điều không c̣n nghi ngờ ǵ
nữa”. Có thật dân tộc Trung Hoa là dân tộc coi trọng ḥa không?
Ngày xưa người Trung Quốc đă “ḥa” hết đất đai của các tộc Bách Việt từ
phía Nam sông Hoàng Hà đến Quảng Đông Quảng Tây. Ngày nay họ đang “ḥa”
ở Tây Tạng, Tân Cương và vùng biên giới Việt-Trung. Họ đă và đang “ḥa”
với dân tộc Việt Nam ở Biển Đông (Trường Sa và Hoàng Sa). Ngày 8 tháng 1
năm 2005 Trung Quốc đă cho thế giới thấy dân tộc Tàu là dân tộc coi
trọng “ḥa” bằng cách nổ súng tấn công bắn chết 9 ngư dân Việt vô tội
một cách trắng trợn, tàn bạo, dă man của kẻ mạnh. Rồi lại chụp mũ những
ngư dân vô tội đó là hải tặc.
Thực tế đă dạy cho dân tộc Việt Nam đừng tin những ǵ các ông thánh
Trung Quốc nói –đức nhân, đức trung và thứ, chính danh định phận, đạo
trung, nhân trị, ḥa v.v...- hăy nh́n cách hành xử của người Trung Hoa
từ ngàn xưa đến nay.
Vinh Nhu