Nô lệ tư tưởng là nô lệ từ trong tim óc
Là người Việt Nam chúng ta phải ư thức dù Trung quốc ở trong chế độ quân
chủ chuyên chế, cộng sản độc tài hay tư bản dân chủ đa nguyên, mưu đồ
xâm lăng tràn xuống phía Nam –đă trở thành quốc sách từ ngàn xưa- vẫn
được liên tục duy tŕ. Tuy chiến lược chiến htuật có thay đổi mỗi thời
mỗi khác.
Chúng ta không chủ trưong bài ngoại, bài Hoa, không theo chủ nghĩa yêu
nước cực đoan. Nhưng dứt khoát khẳng định về quyền tự chủ trong đó có
chủ quyền về lănh thổ, lănh hải, từ Ngô Quyền với chiến thắng Bạch Đằng
năm 938. Sau đó Lư Thường Kiệt đă khẳng định: Sông núi nước Nam vua Nam
ở. Rành rành định phận ở sách trời (thế kỷ thứ 11) và nhất là chủ quyền
về văn hóa mà Nguyễn Trăi đă minh định rơ ràng trong B́nh Ngô Đại Cáo từ
thế kỷ thứ 15.
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đă lâu.
Cơi bờ sông núi đă riêng,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Một trăm năm trước Vua Trần Minh Tông (1314-1329) đă xác định: Nước ta
đă có phép tắc nhất định; vả lại Nam Bắc phong tục khác nhau Đại Việt Sử
Kư Toàn Thư, Bản kỷ Q.7. Sự việc chép vào năm 1357).
Năm mươi năm sau, trước áp lực của khuynh hướng giới trí thức khoa bảng
chịu ảnh hưởng sâu đậm Nho giáo lấy văn hóa Trung Quốc làm trung tâm,
làm hệ thống qui chiếu, vua Trần Nghệ Tông (1370-1372) cũng đă xác định
lập trường: Triều đ́nh dựng nước, tự có phép độ riêng, không theo chế độ
nhà Tống, là v́ Nam Bắc đều làm chủ nước ḿnh, không cần phải bắt chước
nhau (Sđd, sự việc chép vào năm 1370).
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, độc lập chính trị, kinh tế không
thôi vẫn chưa đủ. Chúng ta cần phải liên tục đấu tranh bảo vệ độc lập về
văn hóa, trong tinh thần khai phóng và dung hóa. Chúng ta vẫn có thể yêu
mến vẻ đẹp bài thơ Đường của Đỗ Phủ hay Lư Bạch hoặc thưởng thức nết
thanh thoát thủy mạc của những bức tranh Hạ Khuê (Hsia Kuei) đời Tống.
Học hỏi, thưởng thức cái hay cái đẹp của văn minh Trung Quốc trong tinh
thần tự chủ, học hỏi tiếp thu có chọn lựa. Học để biết người biết ta,
học để phong phú hóa văn hóa Việt như Nguyễn Trăi. Học để biết người
biết ta để đánh đuổi quân xâm lược như Trần Quốc Tuấn.
Cái học đó, nhà cách mạng Việt Nam ông Lư Đông A gọi là cái học nhập nô
xuất chủ, chứ không phải cái học nhập nô xuất nô như Trần Ích Tắc, Lê
Chiêu Thống. Hoặc như đa số trí thức khoa bảng từ cuối đồi Trần về sau.
Họ đọc sách của các ông thánh Tàu ( Khổng Tử, Mạnh Tử, Chu-Tŕnh v.v...)
và để đầu óc nhiễm Tàu sâu nặng đến độ trọng Tàu, sợ Tàu; rồi lấy văn
hóa –văn minh Tàu làm trung tâm. Họ t́m cách biến cải văn hóa Việt theo
văn hóa Tàu. Họ cưỡng ép nhà vua tổ chức xă hội Việt Nam theo khuôn mẫu
của Tàu như đă tŕnh bày ở phần trên.
Nô lệ tư tuởng là nô lệ từ trong tim óc. Từ đó phát sinh ra tinh thần
vọng ngoại, trọng ngoại, sợ ngoại và ỷ ngoại để rồi giao phó sinh mạng
của dân tộc và đất nước ḿnh cho ngoại bang.
Cách học nhập nô xuất nô –nhập nô xuất chủ
Thưởng thức cái hay, cái đẹp trong thơ của Bạch Cự Dị – theo chủ nghĩa
hiện thực, đồng t́nh với nỗi đau khổ hoạn nạn của những người ở tầng lớp
dưới (bài thơ ông bán than, người tóc bạc Thượng Dương...) th́ đồng thời
phải thấy đó chỉ là những lời ở đầu môi chót luỡi. Đời sống tư của ông
ta đă thể hiện rơ cái bản chất tàn nhẫn gốc du mục và tính hoang dâm của
người Tàu có quyền thế, giàu có. “Đâu phải chỉ năm thê bảy thiếp mà c̣n
nuôi gái tơ. Oâng ta mua những cô bé 14, 15 tuổi c̣n trinh nguyên về
nuôi và “ăn nằm” (để có lợi cho tuổi thọ). Đến 18, 19, 20 tuổi, cảm thấy
đă già (không c̣n có lợi cho tuổi thọ) cũng đă chán chê, liền đem những
cô gái này ra chợ cùng bán một thể với ḅ ngựa, súc vật cần bán của nhà
ḿnh. Ông ta đối xử như thế với thiếu nữ, những người đàn bà trẻ trạc 20
tuổi, già rồi đem bán cùng lừa ngựa như thế là quan tâm đến con người
hay sao? (Vương Sóc –Người Đẹp Tặng ta thuốc bùa mê- nxb Văn Hóa Dân tộc
năm 2000, tr. 226.
Chúng ta cần đọc, học hỏi lời hay ư đẹp như nhân trị, chính danh v.v...
trong Ngũ Kinh của Khổng Tử, nhưng đồng thời phải nhận thức được mặt
thực của vấn đề. “Trên thực tế không chỉ có những nhà tung hoành mà ngay
Khổng Tử cũng đi chu du một loạt nước để bán rao lư lẽ, giống như những
“quan chạy” thời bây giờ... Ông ta đi chu du một loạt nước chẳng qua là
để chạy vại, kiếm một chút tước. Ông ta nói nhân nghĩa nhưng được làm
quan rồi th́ cũng độc ác, tàn nhẫn như thường, làm được mấy ngày Đại Tư
Khấu th́ giết luôn Thiếu chính Măo (Vương Sóc sđd, trang 320) và sau đó
xử tử 2 tội nhân.
Ông Bá Dương trong quyển Người TQ Xấu Xí đă nhận định: Có một nhân vật
cổ quái đă nói một câu “Dân vi quy,ù quân vi khinh” (Dân là quư, vua là
thường). Đây chỉ là một thứ lư tưởng mà Trung quốc chưa bao giờ thực
hiện (trang 72).
Mặt thật của Khổng Tử
Khổng Tử là ông thánh của Trung Quốc và có thể là vĩ nhân của nhân loại,
nhưng các tộc Bách Việt ở phía Nam sông Hoàng Hà phải nhận thức được chủ
trương của ông thánh đó là hưng Hoa diệt Di. Theo nữ triết gia Việt Nam
Đông Lan –môn sinh chân truyền của cố triết gia Kim Định (chữ của học
giả Lê Việt Thường) th́ Tứ Di là Bách Việt (Đông Lan –Yêu Mến An Vi- nxb
Văn Hiến năm 2004, trang 188, ḍng 15). Cũng theo nữ triết gia Đông Lan
nhà Chu là dân phía Tây Bắc thuộc về dân du mục hoặc bán du mục, hiếu
chiến, phụ hệ trọng vơ (sđd, trang 199) mà chủ trương của Khổng Tử là
hưng Hoa diệt Di.
Khổng Tử suốt đồi ấp ủ hoài bảo phục hoạt chế độ nhà Chu do Chu Công
thiết lập “dựa trên ư niệm thiên tử, luật h́nh, hoạn quan, đàn áp đàn
bà, khinh miệt dân chúng (gọi lê dân = dân đầu đen), chuyển tài sản từ
làng xă sang tay nhà vua, Chu Nho là văn hóa du mục (sđd, trang 199).
Thế mà Khổng Tử tự nhận đêm ngủ thường vẫn mộng tưởng Chu Công. Sau thời
gian chu du các nước, biết giấc mộng không thành, ông trở về nước Lỗ dạy
học. Suốt đời Khổng Tử chỉ mong nối được sự nghiệp của Chu Công. Ông ước
ao điều đó lắm, đến nỗi nó ám ảnh ông, khiến ông nằm mộng thấy Chu Công.
Ta theo Chu (Ngô ṭng Chu – thiên Bách dật, bài 14). Một hôm tự than
rằng quá lắm vậy! Ta suy nhược rồi! Từ lâu, ta chẳng mộng thấy Chu Công
(Luận Ngữ –thiên thuật nhi).
Một trong những trí giả gốc du mục sớm nhận thức được hiểm họa văn hóa
du mục bị thuần hóa bởi văn hóa Bách Việt có lẽ là Khổng Tử. Ông ta t́m
mọi cách phục sinh trật tự thế chế nhà Chu, một thể chế mang tính du mục
cho nên ông ta hoàn toàn thất bại v́ chủ truơng của ông ta phục hoạt thể
chế nhà Chu: Không nước nào chấp nhận để cho nhà Chu thống trị, nhất là
các nước thuộc Bách Việt.
Nhưng trước đó Quản Trọng phối hợp vănhóa và quân sự đă thành công trong
việc đàn áp, dẹp yên dân Bách Việt (b́nh thiên hạ) xây dựng nghiệp bá
cho Tề Hoàng Công. Chính v́ thế mà Khổng Tử đă khen Quản Trọng hết lời:
Cho đến nay dân chúng c̣n được hưởng ân đức của ông ấy. Không có quản
Trọng th́ chúng ta phải giốc tóc (bện) và cài áo bên trái (tả nhậm) như
người người mọi rợ (Luận Ngữ –chương hiến vấn). Nói khác đi là đă bị
Bách Việt hóa.
Như vậy, thuật nhi bất tác, tính nhi hiếu cổ (không sáng tác kinh điển
mà chỉ sang định, chỉ thuật lại đạo cổ xưa) chỉ là cố uốn nắn khéo léo
cái ưu điểm của văn hóa Bách Việt để che giấu hoài bảo phục sinh thể chế
nhà Chu, trong sách lược hưng Hoa diệt Di. Cho nên Khổng Tử chủ trương
b́nh thiên hạ tức dẹp yên Tứ Di (Bách Việt).
Tham vọng bành trướng và tư tưởng bá quyền là những biểu hiện của tinh
thần phi dân chủ. Ngoài (nước ngoài) th́ coi thường nước khác dân tộc
khác, đối lập Hoa Hạ với Tứ Di, trong (trong nước) th́ coi thường dân
chúng, coi thường phụ nữ, đối lập người quân tử (cai trị) với kẻ tiểu
nhân (dân chúng). Khổng tử nói tới dân chúng ở nhiều chỗ với một gịọng
rất miệt thị, coi thường: dân chúng có thể khiến họ theo, chứ không thể
giảng cho họ hiểu được (Luận Ngữ, Thái Bá 9). Ông nhiều lần tỏ ra khinh
bỉ dân chúng một cách rơ rệt: Sở dĩ người quân tử không muốn ở chung với
đám hạ lưu v́ bao tội ác trong thiên hạ dồn cả về đó (Luân Ngữ, Tửø
Trương 20). Nói đến phụ nữ ông bảo: chỉ hạng đàn bà và tiểu nhân là khó
dạy. Gần th́ họ nhờn, xa th́ họ oán (Luận Ngữ Duơng Hóa 25) –Trần Ngọc
Thêm- T́m về bản sắc văn minh Việt Nam, nxb tpHCM năm 2001, trang
482-483.
Tóm lại, Khổng Tử chủ trương ṭng Chu, hưng Hoa diệt Di (Bách Việt) kỳ
thị chủng tộc (qua lời khen Quản Trọng, coi Bách Việt là mọi rợ), miệt
thị dân chúng, khinh bỉ đàn bà... Như vậy thuật nhi bất tác chỉ là lối
nhân nghĩa và đạo đức giả của Khổng Tử với mưu đồ đồng hóa và diệt chủng
các giống dân Tứ Di, tức Bách Việt mà theo triết gia Đông Lan, “sắc dân
Bách Việt đă vào và cư ngụ trên đất Tàu ngày nay trước khi có một dân
tộc thực sự là Tàu xuất hiện” (sđd, trang 186, ḍng 6-8).
Với chủ trương dùng nhân nghĩa –thuật nhi bất tác- ở đầu môi chót lưỡi,
tức lời nói khác với hoài bảo của ḿnh để thay cho việc binh đao.
Cái đạo đức chuyên lấy của người –thuật nhi bất tác- khéo léo uốn nắn
theo nhu cầu của ḿnh (Tu, Tề, Trị, B́nh) đánh lừa thiên hạ với dă tâm
đồng hoá các giống dân khác thành người Tàu. Đó là sách lược lùi không
đánh, giả bộ lấy đạo đức của người và đồng hoá họ làm dân ḿnh. Hoà nhi
bất đồng của văn minh Hoàng Hà là cái màn che giấu mưu đồ thầm kín, ḥa
để mà hóa của người thành cuả ḿnh. Cho nên “ḥa” gốc du mục khác hẳn
với “ḥa cả làng” của văn minh sông Hồng, phát xuất từ nền văn hóa nông
nghiệp trồng lúa nước (Văn hóa Ḥa B́nh).
Đây là sách lược vô cùng thâm độc của họ Khổng. Do đó Mặc Tử đề xướng
thuyết Kiêm Ái (thương mọi người) để chống lại lối giả nhân giả nghĩa
của Khổng Tử. C̣n Lăo Tử chủ trưong b́nh đẳng, tự do, sống hài ḥa với
thiên nhiên, trở về với sự chất phác, thuần lương là những giá trị đi
ngược lại với chế độ phong kiến nhà Chu, kiến dựng trên quân quyền, phụ
quyền và nam quyền.
Chủ nghĩa bành trướng là nét đặc thù độc đáo nhất trong sự h́nh thành
nước Trung Quốc với bệnh HỘI CHỨNG ĐẠI HÁN, từ triều đại này qua triều
đại khác, quyết tâm xóa sạch văn hóa Bách Việt một cách có hệ thống, từ
Quản Trọng, Khổng Tử cho đến Tôn Dật Tiên, Tưởng giới Thạch, Mao Trạch
Đông và kéo dài đến ngày nay.
Thế hệ của Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào bây giờ cũng không đi ra ngoài
sự chỉ giáo của Khổng Tử: Phải hành động như Quản Trọng –phối hợp quân
sự và văn hóa- để đồng hóa đến người Bách Việt cuối cùng (tộc Lạc Việt
tiền thân của dân tộc Việt Nam) thành người Tàu.
(Bài 4 sẽ tŕnh bày hỏa mù trong mặt trận văn hóa giữa ta với Tàu)