 |
DIỄN ĐÀN
NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA
Ngừoi Quốc Gia là những người
đặt tổ quốc lên bản vị tối cao
Tối cao có nghĩa là trên tất
cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v..
Trích VN Tự Điển của Đào Duy
Anh |
|
Nationalist Vietnamese Forum |
Home
Cuộc Xâm Lăng Không Tiếng Súng
(Bài 4)
Vĩnh Như
Hỏa mù trong mặt trận Văn hóa giữa dân tộc Việt Nam và dân tộc Trung Quốc
Điều làm nhiều người vô cùng ngạc nhiên là vào thời điểm này –duới ánh sáng
mới của khoa học- mà c̣n một số trí thức khoa bảng Việt Nam tung ra hai hỏa
mù trong mặt trận văn hóa giữa Ta và Tàu:
1- Khuynh hướng xem văn hóa Việt Nam là bản sao của văn hóa Tàu: Việt Nam
cùng lắm cũng chỉ là một cành Nam của gốc Hán.
2- Khuynh hướng đi t́m nguồn gốc văn hóa Việt Nam ở tận bên Tàu: Khổng Tử đă
công thức hóa, chữ nghĩa hóa văn hóa của đại tộc Bách Việt sống trên đất Tàu
thành Ngũ Kinh và Tứ Thư. Khuynh hướng này cho rằng nếu bỏ Nho th́ chúng ta
chỉ t́m thấy ngọn chứ chưa đến tận gốc của văn hóa Việt. Khuynh hướng này đă
“sáng tạo” ra quan niệm Nho giáo có bốn giai đoạn:
a) Hoàng Nho, thuộc Tam Hoàng từ 4450-3080 trước Tây lịch.
b) Di Nho, thuộc thời vua Thuấn (2255 trước Tây lịch), vua Vũ (2205 trước
Tây lịch).
c) Việt Nho, hay Nguyên Nho (nội dung Việt Nho được Khổng Tử công thức hóa
thành kinh điển của Nho giáo thời Xuân Thu 821 trước Tây lịch.
d) Hán Nho cũng là Nho giáo từ thời nhà Chu (1122 trước Tây lịch), nhưng bị
sa đọa với sự xuyên tạc của nhà Hán (Đông Lan Yêu Mến An Vi, nxb Văn Hiến
năm 2004, tr. 194).
Nói Nho giáo là của Trung Hoa th́ quá chung chung, và do vậy, không có sức
giải thích. C̣n nói rằng chữ Nho cũng như đạo Nho thoạt kỳ thủy do người
Bách Việt sống trên đất Tàu khởi sáng, rồi sau đó người Tàu hoàn bị th́ có
lẽ quá cực đoan và không có sức thuyết phục 95% người dân Việt sống trong
xóm làng, cái nôi của văn hóa Việt Nam.
Phải chăng văn hóa Việt Nam là bản sao của văn hóa Trung Quốc?
Những quan niệm, ư tưởng sau đây phần lớn là dựa vào những điều mà tác giả
Trần Quốc Vượng ghi trong cuốn Văn hóa Việt Nam, t́m ṭi và suy ngẫm, cộng
thêm những gợi ư, ư kiến của tác giả Trần Ngọc Thêm ghi trong T́m về bản sắc
văn hóa Việt Nam, tác giả Cung Đ́nh Thanh trong t́m về nguồn gốc văn minh
Việt Nam dưới ánh sáng mới của khoa học, tác giả Đào Văn Dương và tác giả
Thường Nhược Thủy trong Đạo Sống Việt.
Duới ánh sáng mới của khoa học (khảo cổ học, nhân chủng học, dân tộc học,
ngôn ngữ học, di truyền học, hải dương học v.v...), với những tài liệu vật
chất lấy lên từ ḷng đất Việt Nam, người ta đă chiếu rọi vào quá khứ hàng
mấy vạn năm.
Các nền văn hóa trên đất Việt.
Chỉ cần đi sâu nghiên cứu văn hóa Ḥa B́nh thôi (trước 15.000 năm đến 10.000
năm trước ngày nay) chúng ta biết được cư dân ḥa b́nh (tiền thân của dân
tộc Việt Nam) đă thuần hóa cây lúa hoang thành cây lúa nước (Oryza Sativa),
thực hiện cuộc cách mạng nông nghiệp trồng lúa nước từ 6.000 năm đến 7.000
năm trước đây, trong bối cảnh Đông Nam Á, có thiên nhiên phong phú và đa
dạng. Trước đó cả ngàn năm cư dân Ḥa B́nh đă biết trồng cây có củ, cây ăn
quả (bầu bí, rau dưa) v.v... Các nhà nghiên cứu đều đồng thuận nông nghiệp,
nông nghiệp trồng lúa nước là khởi đầu văn minh nhân loại. Cuộc cách mạng
nông nghiệp trồng lúa nước đánh dấu một bước tiến bộ vĩ đại trong đồi sống
của cư dân Ḥa B́nh đă để lại cho chúng ta một niềm tự hào lớn.
1. Văn hóa Hoà B́nh là nền văn hóa tiếp nối nền văn hóa Sơn Vi (huyện Phong
Châu, tỉnh Vĩnh Phú) thuộc hậu kỳ đá cũ, có tuổi từ 25.000 năm đến 15.000
năm trước ngày nay. Văn hóa Ḥa B́nh được quốc tế công nhận vào ngày 30
tháng giêng năm 1932, do Đại hội các nhà tiền sử Viễn Đông họp tại Hà Nội
thông qua. Nền văn minh trồng lúa nước vốn là nền văn minh của cư dân Ḥa
B́nh đă tạo được thế quân b́nh bền vững của nền văn hóa xóm làng (văn hóa
truyền miệng, văn hóa ch́m hay văn hóa vô ngôn), giữa con người và thiên
nhiên Việt Nam trong khủng cảnh Đông Nam Á từ ngàn xưa (chứ không phải thiên
nhiên Tàu, thiên nhiên Hoàng Hà)
2. Tiếp theo văn Ḥa B́nh là văn hóa Bắc Sơn (huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn),
với những chiếc ŕu mài lưỡi nổi tiếng, cả thế giới đều biết.
3. Tiếp theo vân hóa Bắc Sơn (từ trước 10.000 năm đến 6.000 năm trước ngày
nay) là văn hóa Phùng Nguyên (Phú Thọ) cách ngày nay khoảng 4.500 năm, cội
nguồn của văn minh sông Hồng. Đó là thời đại các vua Hùng dựng nước. Di tích
văn hóa Phùng Nguyên được t́m thấy ở nhiều tỉnh Phú Thọ, Bắc Ninh, Hà Tây,
Hà Nội, Hải Pḥng.
4. Tiếp theo văn hóa Phùng Nguyên là văn hóa Đông Sơn, có niên đại sớm là
2820 năm cách ngày nay, với trống đồng, trong đó có trống đồng Ngọc Lũ nổi
tiếng trên thế giới.
Trong lúc người Việt cổ xây dựng nền văn hóa Phùng Nguyên và Đông Sơn th́
cái nước mà ngày nay chúng ta gọi là Trung quốc mới được tạo dựng lên ở mạn
trung lưu Hoàng Hà, và nền văn minh Trung quốc ban đầu là nền văn minh Hoàng
Hà với ranh giới ba tỉnh bây giờ: Sơn Tây (Quê hương của Đế Nghiêu), Hà Nam
(quê Hạ Vũ, kinh đô của nhà Ân), Thiễm Tây (Núi Kỳ sông Vị, quê hương của
nhà Chu từ 1122 đến 225 trước Tây lịch.
Nếu đầu óc không bị điều kiện hóa bởi văn hóa Trung Hoa th́ đứng ở góc độ
nào –văn hóa bác học hay văn dân gian- cũng nhận thấy sự khác biệt giữ văn
hóa Việt và văn hóa Tàu. V́ văn hóa theo nghĩa rộng là thiên nhiên –môi
trường sống- được thích ứng, biến đổi bởi con người để thoả măn nhu cầu về
mọi mặt của con người. Nói cách khác, văn hóa là toàn thể các h́nh thái sinh
hoạt về vật chất và tinh thần của con người trong cách thích ứng, tiếp xử
với thiên nhiên và xă hội, lịch sử. Từ đó h́nh thành cách làm ăn (chăn nuôi
theo bầy, sống đồi sống du mục hay trồng trọt đời sống định cư với xóm
làng), cách ăn, mặc, ở, cách ứng xư, thái độ của con người đối với thiên
nhiên, vũ trụ, xă hội và lịch sử. Như vậy, nói một cách đơn giản thiên nhiên
–môi trường sống- và lịch sử là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng sâu rộng đối
với con người trong việc h́nh thành văn hóa.
Sự khác biệt giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc
Trong những điều kiện đó, văn hóa Việt Nam (văn minh sông Hồng) và văn hóa
Trung Quốc (văn minh Hoàng Hà) khác nhau từ căn bản: Từ tiếng nói, lối sống,
cách ăn, mặc, ở, lối suy nghĩ, cung cách ứng xử đến cội nguồn.
Phải chăng giới trí thức khoa bảng Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong khi t́m
về bản sắc văn hóa Việt Nam, tức nh́n lại chính ḿnh để biết ḿnh là ai? Đầu
óc đă bị điều kiện hóa, chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hóa Trung Hoa: Nào thơ
Đường, điển tích Tàu, tam cương ngũ thường v.v..., đôi khi quên đi cả thiên
nhiên Việt mà họ đang sống như đă tŕnh bày ở phần trên. Trái lại, người dân
Việt nhận thấy sự khác biệt giữa Ta và Tàu dễ dàng.
Tiếng nói khác. Ngày xưa Tàu mặc quần, Việt mặc váy: cái thúng mà thủng hai
đầu, bên Ta th́ có bên Tàu th́ không. Ngày nay, Ta mặc áo dào, Tàu mặc áo
Xườn Xám của Măn Thanh. Nón lá của ta khác hẳn nón vành ngang của Tàu.
Tàu ăn cháo kê, bánh bao, dùng x́ dầu. Ta ăn cơm, ăn xôi, ăn bánh chưng bánh
dày, bát tương, chén nước mắm và đặc biệt đôi đũa là một sáng tạo của văn
minh trồng lúa nuớc của Việt Nam. Từ địa hạt vật chất đôi đũa đă đi vào lĩnh
vực tinh thần, triết lư Việt Nam: Vợ chồng như đôi đũa có đôi, chồng thấp vợ
cao như đôi đũa lệch so sao cho đều; vơ đũa cả nắm, thủ tục ly hôn ngày xưa
là bẽ đũa. Thời trước Khổng Tử (Xuân Thu Chiến Quốc) cho đến nhà Tần (221
trước Tây lịch) Tàu ăn bốc (ăn bánh bột luộc, bánh bao). Khi Tần Thủy Hoàng
chiếm miền Nam sông Dương Tử và từ đời Hán trở đi người Tàu bắt đầu tiếp thu
đôi đũa của dân trồng lúa nước ở phía Nam.
Tàu ăn nhiều mỡ (xứ lạnh) ít rau. Ta ăn mỡ ít (xứ nóng) nhiều rau, đủ loại
đủ màu, thường ăn rau sống nhiều hơn Tàu. Có thể nói là ǵ và hoa ǵ ăn được
đều có mặt trong nồi canh của nông dân Việt: đói ăn rau, đau uống thuốc.
Nghệ thuật nấu ăn của Trung Quốc là đổ mỡ vào thức ăn để chiên, xào. Trái
lại nghệ thuật nấu ăn của người Việt là nấu, nướng và luộc nghĩa là rút mỡ
từ thức ăn ra: điều này phù hợp với nghệ thuật ăn uống dùng ít mỡ trong bữa
ăn theo tiêu chuẩn dinh dưỡng hiện đại.
Càng ngược ḍng lịch sử sự khác biệt càng sâu sắc. Lưu vực Hoàng Hà là khu
vực khí hậu đại lục, lạnh lẽo, khô hạn, lượng mưa ít, lượng bốc hơi cao, có
nhiều đồng cỏ mênh mông thích hợp cho nghề chăn nuôi theo bầy, kéo theo đời
sống du mục nay đây mai đó lang thang trên cánh đồng cỏ. Lưu vực sông Hồng
là khu vực khí hậu nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, nước dư thừa,
nhiệt đầy đủ với những đồng bằng thích hợp cho việc trồng trọt sống định
canh định cư trong xóm làng.
Đất trồng trọt của người Trung quốc ban đầu ở cao nguyên và b́nh nguyên
Hoàng Hà là hoàng thổ, do gió Tây mang lại. Đất trồng trọt của người Việt ở
lưu vực các ḍng sông là phù sa nâu, do sông cái sông con bồi đắp. Nông
nghiệp Trung Quốc, khi người Hoa Hạ chiếm lưu vực sông Hoàng Hà, từ khởi
thủy là nền nông nghiệp trồng khô. Nông nghiệp Việt Nam, từ ban đầu, là một
nền nông nghiệp trồng nước, trồng lúa nước, sử dụng hệ thống ngập nước,
ruộng Lạc theo nước thủy triều lên xuống, với hệ thống tuới nước đa dạng
(gàu dai, gàu ṣng, kênh ng̣i).
Người Trung Hoa trồng túc –tiểu mễ hay kê- sau đó trồng cao lương, rồi trồng
lúa mạch kiểu trồng khô. Người Việt trồng cây có củ (khoai các loại) và đặc
biệt từ 6000 đến 7000 năm trước đây đă trồng lúa nước.
Kỹ thuật trị thủy sông Hoàng Hà, người Trung Hoa khơi sâu và khơi nhiều ḍng
chảy. Trái lại, kỹ thuật trị thủy của người Việt là đắp đê.
Ít nước trên mặt, người Trung Hoa phải đào giếng để t́m nguồn nước. Người
Việt sống ở vùng sông ng̣i chằng chịt, đầm đ́a, hồ ao khắp nơi, quen sử dụng
nước trên mặt. Ở Việt Nam ao rất đa dạng: Ao nuôi cá, ao rau muống v.v... Ao
đă đi vào cuộc sống tinh thần: Đêm qua ra đứng bờ ao; trúc sinh trúc mọc bờ
ao; ao thu lạnh lẽo nước trong veo.
Người Trung Hoa ở nhà hầm, người Việt Cổ sáng tạo cái nhà sàn với mái cong
độc đáo h́nh thuyền. Luật pháp của Tàu và Ta hoàn toàn khác nhau. Sau cuộc
khởi nghĩa của Hai bà Trưng thất bại Mă Viện tâu với vua Hán rằng luật Việt
và luật Hán khác nhau đến mười điểm, và xin áp dụng luật Hán trên đất Việt
(Luật Hồng Đức đời Lê hoàn toan khác hẳn luật Tàu). Sẽ tŕnh bày vào một dịp
khác.
Tâm Việt Hồn Việt c̣n th́ văn hóa Việt c̣n
Người c̣n tâm Việt, hồn Việt nh́n vào đời sống hàng ngày nhận ra ngay sự
khác biệt giữa Tàu và Ta: Tiếng nói khác, cách chào hỏi khác (Tàu: Ăn chưa?
Việt: Mạnh khỏe không?), cách mặc khác, thức ăn khác, kỹ thuật nấu ăn khác,
lối xưng hô khác (Tàu: nị ngô như Tây phuơng toi, moi, you me; Ta: chú bác,
cô, d́, cậu, mợ, anh, chị, em v.v...)
Đi lại ở miền khô, trên vùng cao nguyên, gần thảo nguyên, thuận lợi cho việc
chăn nuôi ngựa, người Trung Hoa thường dùng ngựa, xe cộ trong kỹ thuật giao
thông. Quân đội lấy ưu thế là kỵ binh. Lúc đầu người Trung Hoa lấy Ngựa làm
biểu tượng cho dân tộc Tàu, sau đổi thành con vật ḿnh ngựa đầu rồng, rồi
đến Cọp và sau cùng là Rồng. Dân tộc Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng, miền
sông nước chằng chịt với hồ ao khắp nơi, gắn trồng trọt với chài lưới,
thuyền bè các loại trở thành phương tiện giao thông chính. Thế cho nên,
người Việt từ thượng cổ đă nổi tiếng lặn giỏi, bơi tài, giỏi cùng thuyền.Yếu
tố sông nước trong môi trường sống đă ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa Việt
Nam. Từ cái làm (trồng lúa nước) đến cái ăn (gạo, đạm thủy sản), chốn ở (nhà
sàn, sống trên thuyền bè, chợ thuyền, nhà sàn trên nước) giao thông (thuyền
bè, cầu phao) giải trí (múa rối nước) (quân sự thạo thủy chiến) cho đến cái
chết (thuyền táng) đều liên hệ đến nước. Tổ tiên chúng ta lấy Tiên và Rồng
làm biểu tượng của cội nguồn dân tộc Việt Nam.
Người Việt mà có nhăn quan Tàu
Người mang cặp mắt kiến Tàu –không c̣n tâm Việt, hồn Việt- nh́n vào đời sống
của người Việt Nam thấy cái ǵ cũng là Tàu hoặc chịu ảnh hưởng Tàu hay từ
Tàu mà ra. Chẳng hạn, đến như học giả Nguyễn Hiến Lê, một khi đă đeo cặp mắt
kiến Tàu cũng không giữ đuợc thái độ khách quan trong nhận định: Đối với dân
tộc Di, Địch, Khổng Tử không có tinh thần phân biệt chủng tộc, mà chỉ phân
biệt văn hóa như khi ông bảo không nhờ công của Quản Trọng th́ người Hoa Hạ
đă bị gióc tóc mặc áo có vạt bên trái rồi (Nguyễn Hiến Lê), Khổng Tử, nxb
Văn Nghệ năm 1992, tr. 188, ḍng 11 đến 15). Văn hóa là linh hồn của một dân
tộc. Vậy, kỳ thị phân biệt văn hóa mà không kỳ thị dân tộc, kỳ thị chủng tộc
th́ sao được?
Hơn nữa, Khổng Tử xem dân tộc Di tức Bách Việt là dân mọi rợ trong lời phát
biểu của ngài: Cho đến nay dân chúng c̣n được hưởng ân đức của ông ấy. Không
có Quản Trọng th́ chúng ta phải gióc tóc và cài áo bên tả như người mọi rợ
rồi (Nguyễn Hiến Lê, lịch sử văn minh trung Quốc, nxb Văn Nghệ năm 1993,
trang 26, ḍng 17 đến 19). Xem dân tộc Di là dân tộc mọi rợ mà cho rằng
Khổng Tử không có tinh thần kỳ thị chủng tộc được sao?
Điều đó cho thấy trí thức khoa bảng Việt Nam, một khi đă có nhăn quan Tàu
th́ các ông thánh Tàu có miệt thị tổ tiên ḿnh cũng cố t́m cách đổi chữ,
hoặc bóp méo đi hay thay đổi lối suy nghĩ để nuốt cho trôi liều thuốc đắng
ngơ hầu bảo vệ những thần tượng mà ḿnh đă trót tôn thờ từ lâu.
Đối với 95% người dân Việt chất phác, hiền lương, thiện lành th́ không có
vấn đề. C̣n giới trí thức khoa bảng trẻ Việt Nam, không đọc được chữ Tàu,
hăy thận trọng trong khi nghiên cứu, t́m hiểu về Trung Quốc, phải đề cao
cảnh giác những trí thức khoa bảng Việt Nam rành chữ Hán có thể họ bóp mép
sự thật –v́ vô t́nh bởi đầu óc bị điều kiện hóa bởi văn hóa Tàu hay có mưu
đồ- sẽ đưa chúng ta vào con đường nô lệ tư tưởng Tàu với cách học nhập nô
xuất nô. Như trên đă tŕnh bày nô lệ tư tưởng là nô lệ từ trong tim óc, tức
không c̣n tâm Việt hồn Việt. Từ đó phát sinh ra tinh thần vọng ngoại, sợ
ngoại, trọng ngoại và ỷ ngoại để rồi giao sinh mệnh của dân tộc và đất nước
ḿnh cho ngoại bang.
Là người Việt Nam, nếu không sáng suốt trong suy nghĩ,
trong hành động, trong cách học về Trung Quốc học vô t́nh chúng ta sẽ trở
thành đoàn quân gián điệp văn hóa cho Trung Quốc.
Đă đến lúc chúng ta cần trở về với
chính ḿnh để hiểu rơ chân xác chính chính ḿnh về mặt tri thức và tâm thức.
Khi nhận rơ đích thực ḿnh là lúc mở rộng tâm thức đi sâu vào ngôi nhà tâm
linh Việt, ngơ hầu duy tŕ đồng thời phát huy dân tộc tính, hồn nước tức TÂM
VIỆT HỒN VIỆT trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.