|
|
Ngừoi Quốc Gia là những người đặt tổ quốc lên bản vị tối cao Tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v.. Trích VN Tự Điển của Đào Duy Anh |
|
Nationalist Vietnamese Forum |
0 - Dẫn nhập | 1 - Đảng cộng sản là ǵ? | 2 - ĐCSTQ xuất sinh như thế nào? | 3 - ĐCSTQ, một chính thể bạo ngược. | 4 - ĐCSTQ, một thế lực phản vũ trụ. | 5 - Giang Trạch Dân và ĐCSTQ câu kết với nhau đàn áp Pháp Luân Công. | 6 - ĐCSTQ phá hoại văn hoá dân tộc. | 7 - ĐCSTQ, một lịch sử đầy giết chóc. | 8 - ĐCSTQ, một tà giáo về bản chất. | 9 - ĐCSTQ với bản tính lưu manh.
|
|
Người Trung Quốc rất trọng Đạo. Thời xưa một hoàng đế hung bạo sẽ bị gọi là tên hôn quân vô đạo. Một hành vi không phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức th́ sẽ bị xem là không c̣n đạo lư. Cả khi các nông dân nổi dậy, họ cũng giương cao khẩu hiệu là họ thế thiên hành Đạo. Lăo Tử [1] nói, “Có một cái ǵ đó huyền bí và nguyên vẹn tồn tại trước lúc khai thiên lập địa. Tĩnh mịch, vô h́nh, trọn vẹn và bất biến. Nó sống măi ở khắp mọi nơi trong hoàn thiện, và từ nó mọi vật được sinh ra. Tôi không biết tên nó là ǵ. Tôi gọi nó là Đạo.” Điều đó gợi ư rằng thế giới được h́nh thành từ “Đạo”.
Trong một trăm năm vừa qua, sự xâm lăng bất ngờ của bóng ma tà linh cộng sản đă tạo nên một thế lực đi ngược lại tự nhiên và nhân loại, gây ra những nỗi thống khổ và bi kịch vô bờ bến. Nó cũng đă đẩy nền văn minh nhân loại đến bên bờ hủy diệt. Sau khi đă làm đủ mọi thứ bạo tàn vô Đạo, và phản thiên nghịch địa, nó đă trở thành một thế lực cực kỳ tà ác phản lại tự nhiên.
“Người thuận Đất, Đất thuận Trời, Trời thuận Đạo, và Đạo thuận theo tự nhiên.” [2] Ở Trung Quốc thời xưa, người ta tin vào việc tuân theo, ḥa hợp và đồng tồn tại với trời. Nhân loại sống ḥa hợp với trời đất và tồn tại trong sự phụ thuộc tương hỗ với trời đất. Đạo lư của vũ trụ là bất biến. Vũ trụ xoay chuyển thuận theo Đạo một cách có trật tự. Đất thuận theo những biến đổi của trời, v́ vậy nó có bốn mùa khác nhau. Sống thuận theo trời đất, nhân loại sẽ được hưởng một cuộc sống hài ḥa trong ân phúc. Điều này được phản ánh trong câu nói thiên thời, địa lợi, nhân ḥa [3]. Người Trung Quốc nghĩ rằng, tất cả mọi thứ từ thiên văn, địa lư, hệ thống lịch theo dơi ngày tháng, y học, văn học, và cả những cấu trúc xă hội đều tuân theo quy luật này.
Nhưng Đảng Cộng sản tuyên truyền “nhân định thắng thiên” và “triết lư đấu tranh” ngang nhiên thách thức trời đất và tự nhiên. Mao Trạch Đông nói, “đấu trời là niềm vui vô tận, đấu đất là niềm vui vô tận, và đấu người là niềm vui vô tận”. Có lẽ Đảng Cộng sản đă có được những niềm vui thật sự từ những cuộc đấu tranh này, nhưng nhân dân đă phải trả những cái giá cực kỳ đau đớn.
******************
Một con người trước hết là một thực thể của tự nhiên, và sau đó là một thực thể của xă hội. “Nhân tri sơ tính bản thiện” [4] và “Ai cũng có ḷng từ thiện” [5] là những đường lối chỉ đạo mà con người ta sẵn có khi sinh ra, những đường lối chỉ đạo cho phép con người ta phân biệt đúng sai, và tốt xấu. Tuy nhiên, đối với Trung Cộng (Đảng cộng sản Trung Quốc), con người giống như con thú hoặc thậm chí như máy móc. Theo Trung Cộng, giai cấp tư sản và giai cấp vô sản chỉ là những lực lượng vật chất.
Mục đích của Trung Cộng là kiểm soát nhân dân và dần dần biến đổi họ thành tên côn đồ bạo loạn cách mạng. Mác nói, “Chỉ có lực lượng vật chất mới có thể lật đổ các lực lượng vật chất”; “Lư luận cũng có thể trở thành một lực lượng vật chất sau khi nó thu hút được quần chúng” [6]. Ông ta tin rằng toàn bộ lịch sử nhân loại không là ǵ khác hơn là sự phát triển liên tục của nhân tính và rằng nhân tính trên thực tế là tính giai cấp, và thừa nhận là không có ǵ là bẩm sinh vốn có mà tất cả đều là sản phẩm của môi trường. Ông ta lư luận rằng con người là một “tổng hoà các quan hệ xă hội”, bất đồng với khái niệm “con người tự nhiên” mà Phơ-bách thừa nhận. Lê-nin tin rằng chủ nghĩa Mác-xít không thể được phát sinh một cách tự nhiên trong giai cấp vô sản, mà phải được đưa vào từ bên ngoài. Lê-nin đă cố gắng hết sức nhưng vẫn không thể làm cho công nhân chuyển từ đấu tranh kinh tế sang đấu tranh chính trị để giành quyền lực. Do đó ông ta đặt hy vọng của ḿnh vào thuyết phản xạ có điều kiện của I-van Pê-tơ-rô-vích Páp-lốp, người đă từng đoạt giải Nô-ben. Lê-nin nói rằng lư thuyết này “có ư nghĩa quan trọng đối với giai cấp vô sản trên toàn thế giới.” Tơ-roi-xky [7] c̣n hy vọng hăo huyền rằng thuyết phản xạ có điều kiện sẽ không chỉ thay đổi con người về mặt tâm lư, mà c̣n thay đổi con người cả về mặt vật chất. Cũng như cách một con chó chảy nước miếng mỗi khi nghe tiếng chuông gọi bữa ăn trưa reo lên, ông ta hy vọng rằng người lính khi nghe tiếng súng nổ sẽ dũng cảm xông lên và hiến dâng cuộc sống của ḿnh cho Đảng Cộng sản.
Từ thời cổ, con người ta tin rằng thành quả có được là do nỗ lực và lao động. Bằng cách lao động chăm chỉ người ta có được một cuộc sống sung túc. Mọi người coi khinh sự lười biếng và cho rằng thu lợi không bằng con đường lao động là vô đạo đức. Vậy mà sau khi Cộng sản lan đến Trung Quốc như một bệnh dịch, nó khuyến khích những kẻ cặn bă và lười nhác của xă hội đi chia đất, cướp tài sản riêng, và áp bức mọi người: tất cả đều được thực hiện công khai dưới danh nghĩa pháp luật.
Mọi người đều biết kính trọng người già và chăm sóc trẻ em là điều tốt; không kính trọng người già và thầy giáo là xấu. Nền giáo dục cổ xưa theo Khổng Tử có hai phần: tiểu học và đại học. Tiểu học được dạy cho trẻ dưới 15 tuổi và chủ yếu tập trung vào quy tắc ứng xử về vệ sinh, giao tiếp xă hội, và nghi thức (có nghĩa là giáo dục vệ sinh, ứng xử xă hội, cách ăn nói v.v…). Giáo dục đại học nhấn mạnh về đức và Đạo [8]. Bằng những chiến dịch chỉ trích Lâm Bưu [9], phê phán Khổng Tử và phỉ nhổ ḷng kính trọng đối với các giáo viên, ĐCSTQ (Đảng Cộng sản Trung Quốc) đă xóa bỏ tất cả các chuẩn mực đạo đức khỏi tâm trí của thế hệ trẻ.
Người xưa nói rằng, ‘Một ngày là thầy, trọn đời là cha’.
Ngày 5 tháng 8 năm 1966, Biện Trọng Vân, một cô giáo của Trường Trung học Nữ thuộc Đại học Sư phạm Bắc Kinh, bị các nữ sinh của ḿnh bắt diễu đi trên phố, đội một chiếc mũ lừa cao (chuyên dành để đội vào đầu những học sinh học dốt – người dịch), mặc quần áo dây đầy mực đen, quàng một chiếc bảng đen sỉ nhục qua cổ, đi giữa đám học sinh mang những thùng rác làm trống để vỗ. Cô bị bắt phải quỳ trên mặt đất và bị đánh bằng một cái gậy gỗ có đóng đinh lởm chởm và bị đổ nước sôi lên người. Cô giáo đó đă bị tra tấn đến chết.
Một nữ hiệu trưởng trường Trung học thuộc Đại học Bắc Kinh bị học sinh bắt phải gơ lên một chiếc chậu rửa đă vỡ và kêu la “Tôi là một phần tử xấu”. Bà bị làm nhục bằng cách cắt tóc bừa băi. Bà bị đánh vào đầu cho đến khi phọt máu ra trong khi bị bắt phải quỳ xuống ḅ trên mặt đất.
Ai cũng nghĩ sạch là tốt, bẩn là xấu. Nhưng ĐCSTQ lại tuyên dương ‘phủ bùn khắp người và làm chai đầy tay’. Đảng nghĩ rằng các bạn là tốt khi “tay lem luốc và chân dính phân ḅ” [10]. Những người như vậy được coi là có tinh thần cách mạng cao nhất, và có thể học đại học, được kết nạp Đảng, được thăng chức và cuối cùng sẽ trở thành những người lănh đạo Đảng.
Nhân loại tiến bộ nhờ tích lũy kiến thức, nhưng, dưới chế độ Cộng sản, đạt được kiến thức lại bị coi là xấu. Những người trí thức bị xếp vào loại hôi thối thứ chín —tệ nhất trên bậc thang từ một đến chín. Đảng bảo trí thức phải học hỏi những người mù chữ, và cần phải bị giáo dục lại bởi những người nông dân nghèo để được cải tạo và bắt đầu một cuộc sống mới. Trong việc tái giáo dục những người trí thức, các giáo sư của Đại học Thanh Hoa, một đại học danh tiếng của Trung Quốc, bị đi đày đến Đảo Như Châu ở Nam Xương, tỉnh Giang Tây. Bệnh sán máng [11] là một bệnh rất phổ biến ở khu vực này, và thậm chí một trại lao động cải tạo trước đây ở đây cũng đă phải dời đi nơi khác. Ngay khi tiếp xúc với nước sông, những vị giáo sư này đă bị nhiễm sán và bị sơ gan, và bị mất khả năng làm việc và sống.
Dưới sự xúi giục của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai thời bấy giờ, Đảng Cộng sản Căm-pu-chia (Khơ-me Đỏ) đă tiến hành một cuộc đàn áp dă man nhất nhằm vào các nhà trí thức. Những người có tư tưởng độc lập trở thành đối tượng bị cải tạo và hủy diệt cả về tinh thần lẫn thể xác. Từ 1975 đến 1978, một phần tư dân số của Campuchia đă bị giết chết. Có một số người bị giết chết chỉ v́ trên mặt họ có dấu vết của việc đeo kính mắt.
Sau chiến thắng của Cộng sản Căm-pu-chia năm 1975, Pôn-pốt bắt đầu thành lập xă hội chủ nghĩa một cách vội vă —một thiên đường trong xă hội loài người— không có phân biệt giai cấp, không có cách biệt giữa thành thị và nông thôn, không có tiền tệ và thương mại. Cuối cùng th́, các gia đ́nh bị xé nát và thay thế bằng các đội lao động nam và các đội lao động nữ. Tất cả đều phải làm việc và ăn chung, và mặc các bộ quần áo đồng phục cách mạng màu đen hoặc quần áo quân đội. Các cặp vợ chồng chỉ được gặp nhau một tuần một lần khi được duyệt.
Đảng Cộng sản tuyên bố không sợ trời đất và ngạo mạn nỗ lực cải tạo trời đất. Đây là một thái độ hoàn toàn coi thường đối với tất cả các nhân tố và lực lượng chân chính trong vũ trụ. Mao trạch Đông viết trong khi c̣n là sinh viên ở Hồ Nam:
“Trong tất cả các thế kỷ, tất cả các quốc gia đều đă thực hiện những cuộc cách mạng vĩ đại. Những cái cũ bị rửa trôi đi và mọi thứ được nhuộm mới; những biến đổi to lớn đă diễn ra, kéo theo sự sống chết, thành bại. Sự hủy diệt của vũ trụ cũng như vậy. Sự hủy diệt rơ ràng sẽ không phải là sự hủy diệt cuối cùng, và không nghi ngờ ǵ là sự hủy diệt ở chỗ này sẽ là sự sinh thành ở chỗ khác. Tất cả chúng ta đều lường trước được sự hủy diệt đó, bởi v́ trong việc hủy diệt vũ trụ cũ chúng ta sẽ tạo ra vũ trụ mới. Chẳng phải nó sẽ tốt hơn vũ trụ cũ hay sao?!”
Yêu mến là một t́nh cảm tự nhiên của con người. T́nh cảm vợ chồng, con cái, cha mẹ, bạn bè và trong xă hội nói chung là b́nh thường. Qua những chiến dịch chính trị liên miên không ngừng nghỉ, ĐCSTQ đă biến người thành sói, hoặc thậm chí thành một con vật hung dữ hơn cả sói. Ngay cả hổ dữ cũng không ăn thịt con, nhưng dưới sự cai trị của ĐCSTQ, cha mẹ con cái vợ chồng tố cáo lẫn nhau là điều b́nh thường, các mối quan hệ gia đ́nh thường bị chối bỏ.
Trong một trường tiểu học tại Bắc kinh vào giữa những năm 1960, một cô giáo vô t́nh viết hai chữ ‘xă hội chủ nghĩa’ và ‘rớt đài’ bên cạnh nhau khi cô ta đang hướng dẫn các học sinh tập viết chữ Hán. Học sinh đă tố cáo cô. Sau đó, cô bị phê phán hàng ngày và bị các học sinh nam tát. Con gái của cô cắt đứt mối quan hệ với cô. Bất kể khi nào mà cuộc đấu tranh trở nên gay gắt hơn, con gái cô lại phê phán “phong trào mới trong các cuộc đấu tranh giai cấp” của mẹ ḿnh trong các buổi sinh hoạt chính trị. Vài năm sau sự kiện đó, công việc duy nhất của cô là hàng ngày quét dọn trường bao gồm cả các nhà vệ sinh.
Những ai đă từng trải qua cuộc Cách mạng Văn hóa sẽ không bao giờ quên cô Trương Chí Tân, người bị bỏ tù v́ đă phê phán Mao v́ sự thất bại của ông ta trong chiến dịch đại nhảy vọt. Cai ngục đă nhiều lần cởi hết quần áo của cô, c̣ng tay cô ra đằng sau lưng và quẳng cô vào xà-lim nam để cho các tù nhân nam hăm hiếp tập thể cô. Cuối cùng cô trở nên điên loạn. Khi bị tử h́nh, cai ngục sợ rằng cô sẽ hô khẩu hiệu phản đối nên đă ấn đầu cô trên một cục gạch và cắt hở cuống họng của cô mà không hề gây tê.
Trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công trong những năm gần đây, ĐCSTQ vẫn tiếp tục sử dụng những thủ đoạn cũ đó để kích động sự hằn thù và xúi giục bạo lực.
Cộng sản tiêu diệt bản chất đạo đức của con người, và quảng bá, khuyến khích và sử dụng mặt ác của con người để củng cố quyền thống trị của nó. Chiến dịch này kế tiếp chiến dịch khác, những người có lương tâm đă bị buộc phải giữ im lặng v́ sợ bạo lực. Đảng Cộng sản đă hủy diệt một cách có hệ thống các chuẩn mực đạo đức phổ biến để hoàn toàn phá hủy các khái niệm thiện ác, đạo đức, bại hoại đă được nhân loại duy tŕ hàng ngh́n năm nay.
Lăo Tử nói: “Toàn thiên hạ có thể thấy cái đẹp là đẹp là bởi v́ có sự hiện hữu của cái xấu, có thể biết cái thiện là thiện là bởi v́ có sự hiện hữu của cái ác. Do đó hữu và vô cùng phát sinh, khó và dễ bù nhau, dài và ngắn trái ngược nhau, cao và thấp dựa vào nhau, tiếng nói và âm thanh ḥa hợp cùng nhau, trước và sau đi theo nhau.” [12]
Nói một cách đơn giản, có tồn tại quy luật tương sinh tương khắc ở nhân gian. Không chỉ loài người được chia thành người tốt và người xấu, mà thiện và ác cũng đồng thời tồn tại trong cùng một con người.
Đạo Chích, một nhân vật điển h́nh của bọn cướp ở Trung Quốc thời xưa, nói với đám lâu la, “Ăn cướp cũng phải có Đạo.” Y tiếp tục diễn thuyết rằng một tên cướp cũng phải có thánh-dũng-nghĩa-trí-nhân. Đó có nghĩa là thậm chí một tên cướp cũng không thể muốn ǵ liền làm nấy mà cũng phải tuân thủ một số khuôn phép nhất định.
Nh́n lại lịch sử của ĐCSTQ, chúng ta có thể nói rằng nó đầy những thủ đoạn xảo trá và bội phản không c̣n kiêng nể ǵ nữa. Ví dụ, điều mà bọn cướp tôn trọng nhất là “nghĩa”. Cả nơi mà chúng chia nhau những ǵ cướp được cũng được gọi là “sảnh chia đồ tụ nghĩa”. Nhưng giữa các đồng chí trong ĐCSTQ, mỗi khi có một cuộc khủng hoảng xuất hiện, th́ họ tố cáo và buộc tội lẫn nhau, và thậm chí bịa đặt ra những tội danh giả để hại nhau, sát thêm muối vào vết thương.
Lấy viên tướng Bành Đức Hoài làm ví dụ. Mao Trạch Đông, xuất thân từ một gia đ́nh nông dân, tất nhiên biết thừa rằng không thể nào sản xuất ra 130.000 cân gạo trên một mẫu đất [13] và những điều mà Bành nói đều đúng. Ông ta cũng biết rơ rằng Bành không có ư định cướp quyền lực của ông ta, chưa kể đến việc Bành đă cứu mạng ông ta nhiều lần khi Bành chỉ có 20.000 quân đă khổ chiến với 200.000 lính của Hồ Tông Nam trong cuộc nội chiến giữa Đảng Cộng sản và Quốc Dân Đảng. Vậy mà khi Bành vừa phát biểu sự bất đồng ư kiến của ḿnh với Mao, Mao ngay lập tức nổi giận, ném ngay bài thơ ông ta viết để ca ngợi Bành vào thùng rác —“Ai dám cưỡi ngựa tiến lên và rút kiếm ra; Chỉ có tướng Bành của chúng ta!”— Mao kiên quyết hại chết Bành, không đếm xỉa ǵ đến sự cao thượng và t́nh đồng chí ân nhân cứu mạng của Bành đối với ḿnh.
ĐCSTQ giết chóc tàn ác thay v́ cai trị với ḷng từ tâm; nó đàn áp đảng viên của chính nó bất chấp cả t́nh đồng chí và trung thành cá nhân; nó nhượng bộ lănh thổ của Trung Quốc, hành động hèn nhát; nó tự biến ḿnh thành kẻ thù của chính tín, thiếu trí tuệ; nó phát động những phong trào quần chúng, chà đạp đường lối của các bậc thánh nhân trong việc trị đất nước. Tóm lại, ĐCSTQ đă đi quá xa khi từ bỏ cả chuẩn mực đạo đức tối thiểu là “Ăn cướp cũng phải có Đạo.” Sự tà ác của nó đă vượt quá cả quy luật tương sinh tương khắc trong vũ trụ. ĐCSTQ hoàn toàn chống lại tự nhiên và nhân loại v́ mục đích đảo lộn các tiêu chuẩn của thiện và ác và làm loạn các quy luật của vũ trụ. Sự ngạo mạn vô độ của nó đă tới đỉnh điểm, và nó sẽ phải đi đến một sự sụp đổ hoàn toàn.
******************
Kim Huấn Hoa, một học sinh tốt nghiệp trung học năm 1968 của trường Trung học Ngô Tùng số 2 của Thượng Hải và là một thành viên của Ủy ban thường trực Hồng Vệ binh Trung học ở Thượng hải, được đưa xuống vùng nông thôn của tỉnh Hắc Long Giang tháng Ba năm 1969. Ngày 15 tháng 8, 1969, những cơn lũ dữ dội đổ xuống từ trên núi và nhanh chóng làm ngập những khu vực ở xung quanh sông Song Hà. Kim nhảy vào trong ḍng nước chảy xiết mong kéo lên hai cột dây điện cho đội sản xuất của anh ta và đă bị chết đuối.
Sau đây là hai đoạn nhật kư [14] của Kim viết trước khi chết.
Ngày 4 tháng Bảy:
Tôi bắt đầu cảm thấy tính nghiêm trọng và ác liệt của đấu tranh giai cấp ở
nông thôn. Là một hồng vệ binh của Mao Chủ tịch, tôi đă hoàn toàn sẵn sàng
chiến đấu đối đầu với những thế lực phản động với Tư tưởng bất khả chiến bại
của Mao Trạch Đông làm vũ khí của ḿnh. Tôi sẵn ḷng làm điều đó thậm chí
nếu điều đó có nghĩa là tôi phải hy sinh mạng sống của ḿnh. Tôi sẽ chiến
đấu, chiến đấu, và chiến đấu với tất cả khả năng của ḿnh để củng cố chế độ
chuyên chính vô sản.
Ngày 19 tháng Bảy:
Những kẻ thù giai cấp trong đội sản xuất đó vẫn c̣n kiêu ngạo. những thanh
niên trí thức đến nông thôn chính là để tham gia vào ba phong trào cách mạng
lớn ở nông thôn. Quan trọng nhất là đấu tranh giai cấp. Chúng tôi phải nương
tựa vào giai cấp nông dân nghèo và dưới trung nông, vận động quần chúng và
tiêu diệt tính kiêu ngạo của kẻ thù. Chúng tôi những thanh niên trí thức
phải luôn luôn nâng cao khẩu hiệu vĩ đại của Tư tưởng Mao Trạch Đông, không
bao giờ quên đấu tranh giai cấp, và không bao giờ quên chuyên chính vô sản.
Kim đến nông thôn với tư tưởng đấu trời đấu đất và cải tạo nhân loại. Quyển nhật kư của anh ta cho thấy rằng đầu óc của anh ta đầy những tư tưởng “chiến đấu”. Anh mở rộng ư tưởng “đấu tranh với con người” ra đấu trời đấu đất, và sau cùng đă mất mạng v́ điều đó. Kim là một trường hợp điển h́nh của triết học đấu tranh và, đồng thời, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa là đă trở thành nạn nhân của nó.
Ăng-ghen đă từng nói rằng: “tự do là sự thừa nhận những điều tất nhiên”. Mao Trạch Đông tiếp bước và thêm vào, “và là sự cải tạo thế giới.” Phần đuôi này đă hoàn toàn đưa ra ánh sáng quan điểm của ĐCSTQ về thiên nhiên, tức là, thay đổi thiên nhiên. Đối với cộng sản, cái “tất nhiên” là điều ở ngoài tầm nh́n của họ, là những “quy luật” mà họ không cách nào hiểu nổi. Họ tin rằng thiên nhiên và nhân loại có thể bị “chinh phục” bằng cách vận động ư thức chủ quan của con người để hiểu những quy luật khách quan. Cộng sản đă làm loạn cả nước Nga và Trung Quốc, là hai nơi thực nghiệm của họ, trong những nỗ lực của họ ḥng thay đổi thiên nhiên.
Các ca khúc quần chúng trong thời đại đại nhảy vọt cho thấy sự ngạo mạn và ngu xuẩn của ĐCSTQ: “Hăy để cho núi phải cúi đầu và sông phải dẹp sang một bên”; “Không có Ngọc hoàng Thượng Đế trên trời và không có Long Vương dưới đất. Ta là Ngọc Hoàng Thượng Đế và ta là Long Vương. Ta ra lệnh cho ba núi và năm đèo phải dẹp sang một bên, ta đến đây này!” [15]
Đảng Cộng sản đă đến! Cùng đến với nó là sự phá hủy cân bằng tự nhiên và thế giới vốn hài ḥa.
Dưới chính sách nông nghiệp giữ lúa là chính, ĐCSTQ đă chủ quan duy ư chí chuyển đổi những vùng đồi núi và đồng cỏ không phù hợp cho canh tác thành những vùng đất nông nhiệp rộng lớn, và lấp các sông hồ ở Trung Quốc để làm đất trồng trọt. Kết quả là ǵ? ĐCSTQ đă tuyên bố rằng sản lượng lúa gạo năm 1952 đă vượt trên thời Quốc Dân Đảng, nhưng điều mà ĐCSTQ không tiết lộ là măi cho đến năm 1972 tổng sản lượng lúa gạo ở Trung Quốc vẫn chưa bằng thời thái b́nh thịnh trị của Vua Càn Long đời nhà Thanh. Thậm chí cho đến ngày hôm nay, sản lượng lúa gạo b́nh quân đầu người của Trung Quốc vẫn c̣n thấp hơn nhiều so với mức của thời nhà Thanh và chỉ là một phần ba của thời nhà Tống, là thời mà sản xuất nông nghiệp đạt mức cao nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Chặt cây, san lấp sông hồ bừa băi đă gây nên sự suy thoái sinh thái trầm trọng ở Trung Quốc. Ngày nay, hệ sinh thái của Trung Quốc đang ở bên bờ sụp đổ. Sự khô cạn của Hải Hà và sông Hoàng Hà và sự ô nhiễm của Sông Hoài và Sông Dương Tử (Trường Giang) đă cắt đứt đường sống mà đất nước Trung Quốc đă dựa vào để tồn tại hằng ngh́n năm qua. Với sự biến mất của đồng cỏ tại Cam Túc, Thanh Hải, Khu Nội Mông, và Tân Cương, những trận băo cát đă có đường tấn công vào những khu vực đồng bằng trung tâm.
Vào những năm 1950, dưới sự hướng dẫn của những chuyên gia Xô-viết, ĐCSTQ đă xây dựng nhà máy thủy điện Tam Môn Hạp trên sông Hoàng Hà. Cho đến ngày nay, nhà máy điện này chỉ đem lại một công suất phát điện ở mức độ một con sông trung b́nh, mặc dù Hoàng Hà là con sông lớn thứ hai ở Trung Quốc. Để khiến cho sự việc càng thêm tệ hại, dự án này đă gây ra sự tích tụ bùn cát ở thượng nguồn sông và đă làm đáy sông cao lên. V́ lư do đó, thậm chí một trận lũ nhẹ cũng đủ gây thiệt hại to lớn về người và của cho nhân dân ở hai bờ sông. Trong trận lũ năm 2003 trên sông Vị, mực nước chảy cao nhất là 3.700 mét khối mỗi giây, là mức có thể xảy ra khoảng 3 đến 5 năm một lần, nhưng thiệt hại do nó gây nên là chưa từng thấy trong 50 năm qua.
Có nhiều hồ chứa nước cỡ lớn được xây dựng ở khu vực Trú Mă Điếm, tỉnh Hồ Nam. Năm 1975, những cái đập của các hồ chứa nước đó đă thay nhau sập đổ. Chỉ trong khoảng hai giờ đồng hồ, 60.000 người đă bị chết đuối. Tổng số người chết đă lên đến 200.000.
ĐCSTQ vẫn tiếp tục những hành động tự ư hủy hại đất đai của Trung quốc. Đập Tam Hiệp trên sông Sông Dương Tử và Dự án chuyển nước từ miền Nam lên miền Bắc đều là những cố gắng của ĐCSTQ nhằm thay đổi hệ sinh thái tự nhiên với số tiền đầu tư lên đến hằng trăm tỷ đô-la Mỹ. Đó là chưa kể đến những dự án vừa và nhỏ để “đấu đất”. Hơn nữa, trong nội bộ ĐCSTQ đă có lần đưa ra đề nghị dùng một quả bom nguyên tử để cho nổ và mở một con đường nối trên cao nguyên Thanh Hải-Tây Tạng để thay đổi môi trường tự nhiên ở miền Tây Trung Quốc. Mặc dù sự ngạo mạn và khinh thường đất của ĐCSTQ đă làm chấn động thế giới, nó không phải là điều ǵ gây ngạc nhiên bất ngờ cả.
Trong Bát Quái, tổ tiên Trung Quốc coi trời là Càn (Kiền) hay tạo hoá, và kính trọng Đạo trời. Họ coi đất là Khôn hay mẹ, và kính trọng Đức sinh thành.
Tượng trong kinh dịch viết: địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật, hiểu là đất rộng răi, kẻ quân tử nên theo gương đất, lấy đức dày chở muôn vật.
Khổng Tử ghi chú về kinh dịch: chí tai khôn nguyên, vạn vật tư sinh, cái Khôn ấy rất vẹn tṛn, vạn vật từ đó mà sinh ra.
Và bàn tiếp: “Khôn là mềm nhất, nhưng trong vận động nó rất rắn. Nó là tĩnh nhất, nhưng trong thiên nhiên, nó vững chắc. V́ thuận theo mà nó đạt được chủ của nó, nhưng vẫn giữ được bản chất của nó và do đó nó trường tồn. Nó chứa đựng vạn vật, và rạng rỡ trong sự biến đổi. Đó là cách của Khôn, ngoan ngoăn biết bao, nó mang theo trời và chuyển động với thời gian.”
Rơ ràng, trên địa cầu này, đất là mẹ, là những đức tánh của nhẹ nhàng, êm ái và nhẫn đi theo trời, mọi sự mới có thể sống c̣n và phát triển trên quả đất. Kinh dịch dạy chúng ta hành động đúng đắn đối với đạo trời và đức của đất, yêu cầu chúng ta đi theo trời, thuận theo đất và tôn trọng thiên nhiên.
Nhưng ĐCSTQ đă vi phạm Càn Khôn, muốn “đấu trời đấu đất”. Nó đă cướp phá tài nguyên của đất một cách tùy tiện. Cuối cùng, nó sẽ không tránh khỏi bị trời, đất và quy luật của tự nhiên tiêu diệt.
******************
Con trai của Anh-xtanh là Ét-uốt, có một lần hỏi Anh-xtanh ta v́ sao ông ta nổi tiếng như vậy. Anh-xtanh chỉ vào một con bọ bị mù trên một quả bóng da và trả lời là nó không biết con đường mà nó ḅ là cong, nhưng “Anh-xtanh biết”. Câu trả lời của Anh-xtanh quả thật có hàm nghĩa sâu xa. Một tục ngữ Trung Quốc cũng có một ư nghĩa tương tự, “Ta không biết cái mặt thật của núi Lô Sơn bởi v́ ta đang ở trong núi đó”. Để hiểu một hệ thống, ta cần phải bước ra khỏi hệ thống đó để quan sát nó. Tuy nhiên, dùng những quan niệm có hạn để quan sát thời không vô hạn của vũ trụ, nhân loại sẽ không bao giờ có thể hiểu được cấu trúc hoàn chỉnh của vũ trụ, và v́ vậy vũ trụ sẽ vĩnh viễn là một điều bí mật đối nhân loại.
Thế giới mà khoa học không thể vượt qua được thuộc về thế giới tinh thần hay trừu tượng, thế giới của đức “tin”.
Đức tin, một hoạt động tinh thần liên quan đến kinh nghiệm và sự hiểu biết trực tiếp về cuộc sống, thời-không và vũ trụ, là vượt quá điều mà một đảng chính trị có thể kiểm soát. “Hăy trả lại cho Xê-da những ǵ của Xê-da, và cho Chúa những ǵ của Chúa.” [17] Tuy nhiên, dựa trên sự hiểu biết nhỏ mọn và lố bịch về vũ trụ và cuộc sống của nó, Đảng cống sản đă gọi mọi điều không nằm trong hiểu biết của nó là “mê tín”, và bắt buộc những người tin vào Thần phải bị Đảng tẩy năo và cải đạo. Những ai không chịu thay đổi đức tin của ḿnh đă bị sỉ nhục hay thậm chí bị giết chết.
Những nhà khoa học chân chính đều có một cái nh́n rất rộng mở về vũ trụ, và họ sẽ không xuất phát những quan niệm có hạn của cá nhân để phủ nhận những điều “chưa biết” vô hạn. Khoa học gia nổi tiếng Niu-tơn, trong quyển sách có tính chất khai thủy của ông Các nguyên lư của Toán học phát hành năm 1678, đă giải thích rất chi tiết những nguyên lư của cơ học, sự h́nh thành thủy triều, và sự vận động của các hành tinh, và đă tính toán sự vận hành của thái dương hệ. Niu-tơn, một người toàn tài như vậy, lại luôn nhắc lại rằng quyển sách của ông chỉ là một sự mô tả về các hiện tượng bề mặt, và rằng ông tuyệt đối không dám nói ǵ về ư nghĩa chân chính của đức Chúa tối cao trong việc sáng tạo ra vũ trụ. Trong lần tái bản của quyển sách Các nguyên lư của Toán học, để bày tỏ đức tin của ông, Niu-tơn đă viết, “Hệ thống tuyệt đẹp này bao gồm mặt trời, các hành tinh, và các ngôi sao chổi chỉ có thể bắt nguồn từ ư chỉ và quyền năng của một đấng đại trí và quyền uy… Như một người mù không có khái niệm về màu sắc, cũng như vậy chúng ta không biết được cách mà đức Chúa tối toàn năng nh́n nhận và hiểu biết mọi thứ.”
Chúng ta hăy để qua một bên những vấn đề có hay không những thế giới thiên đường siêu xuất khỏi thời-không này và liệu những người tầm Đạo có thể trở về với nguồn gốc thần thánh và bản ngă của ḿnh. Một điều mà tất cả chúng ta có thể đồng ư là: Những người có chính tín đều tin vào mối quan hệ nhân quả thiện hữu thiện báo và ác hữu ác báo. Chính tín đóng một vai tṛ rất quan trọng trong việc duy tŕ đạo đức nhân loại ở một mức nào đó. Từ A-rix-tốt Anh-xtanh, nhiều người tin vào sự tồn tại của một quy luật phổ biến khắp trong vũ trụ. Nhân loại chưa bao giờ ngừng t́m kiếm chân lư của vũ trụ thông qua các phương tiện khác nhau. Ngoài khoa học ra, tại sao tôn giáo, đức tin và tu luyện không thể được chấp nhận như là những cách tiếp cận khác để khám phá chân lư của vũ trụ?
Tất cả các quốc gia trong lịch sử đều tin vào Thần linh. Chính là nhờ đức tin vào Thần linh và nhân quả của thiện và ác, mà nhân loại có thể tự kiềm chế và duy tŕ chuẩn mực đạo đức của xă hội. Trong mọi thời gian và trên khắp thế giới, các chính giáo ở phương Tây, và Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo ở phương Đông tất cả đều dạy con người ta rằng hạnh phúc thực sự đến từ đức tin vào Thần linh, thờ phụng trời, có ḷng từ tâm đối với mọi người, trân quư những ǵ ta có, và biết ơn khi được hưởng phúc lành, và đền đáp lại ḷng tốt của người khác đối với ḿnh.
Một tiền đề chỉ đạo của chủ nghĩa cộng sản là vô thần luận: cho rằng không có Phật, không có Đạo, không có đời trước, không có đời sau, và không có quả báo. V́ vậy, những người theo chủ nghĩa cộng sản ở các nước đều dạy những người nghèo và giai cấp vô sản lưu manh [18] rằng họ không cần tin vào Thần linh; họ không phải trả giá cho những ǵ họ đă làm; và họ không cần tôn trọng luật pháp trong hành động của ḿnh. Ngược lại, họ nên dùng mưu kế và bạo lực để cưỡng đoạt của cải vật chất.
Ở Trung Quốc thời xưa, các hoàng đế, là những người được coi là bậc tối cao quư, vẫn tự đặt ḿnh dưới trời, tự gọi ḿnh là thiên tử. Dưới sự điều khiển và kiểm soát của “thiên ư”, họ thỉnh thoảng lại công bố những chỉ dụ để tự khiển trách ḿnh và ăn năn hối lỗi với trời. Những người cộng sản, trái lại, tự coi ḿnh là đại diện cho thiên ư. Không tự hạn chế ḿnh bởi luật pháp và đạo trời, họ tự do muốn ǵ liền làm nấy. Kết quả là, họ đă tạo ra hết địa ngục trần gian này đến địa ngục trần gian khác.
Mác, người sáng lập chủ nghĩa cộng sản, tin rằng tôn giáo là thuốc phiện tinh thần cho nhân dân. Ông ta sợ rằng dân chúng sẽ tin vào Thần linh và từ chối không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản của ḿnh. Chương đầu tiên của quyển sách “Phép biện chứng của tự nhiên” của Ăng-ghen đă chứa đựng những chỉ trích đối với Men-đê-lê-ép và những nghiên cứu của nhóm của ông về thuyết thần bí.
Ăng-ghen tuyên bố rằng mọi thứ trong hoặc trước thời Trung Cổ phải bảo vệ cho sự tồn tại của ḿnh trước sự phán xử của lư tính của nhân loại. Khi ông ta tuyên bố như vậy, ông ta đă tự coi ḿnh và Mác như những quan ṭa trong cuộc phán xử đó. Mi-khai-in Ba-cu-nin, một người theo chủ nghĩa vô chính phủ và là bạn của Mác, b́nh luận về Mác như thế này, “Ông ta trông cứ như là Chúa trước mắt dân chúng. Ông ta không chịu được một ai khác là Chúa ngoài ḿnh ra. Ông ta muốn dân chúng tôn sùng ông ta như họ tôn sùng Chúa và thần phục ông ta như thần tượng của họ. Nếu không, ông ta sẽ tấn công họ bằng miệng lưỡi hoặc đàn áp.”
Chính tín truyền thống đă trở thành những trở ngại tự nhiên đối với sự ngạo mạn của chủ nghĩa cộng sản.
ĐCSTQ đă mất hết b́nh tĩnh trong việc điên cuồng đàn áp tôn giáo. Trong thời Cách Mạng Văn hóa, nhiều chùa chiền và nhà thờ Hồi giáo bị đập phá và các tu sĩ bị sỉ nhục và bắt đi diễu trên các đường phố. Ở Tây Tạng, 90% chùa chiền đă bị hư hại. Thậm chí đến tận ngày nay, ĐCSTQ vẫn tiếp tục đàn áp tôn giáo, bỏ tù hàng chục ngh́n người theo đạo Cơ đốc thờ Chúa tại gia. Cung Phẩm Mai, một linh mục công giáo ở Thượng Hải, bị ĐCSTQ bỏ tù trong hơn 30 năm. Ông đă đi Mỹ vào những năm 1980. Trước khi ông chết khi đă hơn 90 tuổi, ông đă để lại di chúc rằng, “Hăy chuyển mộ tôi trở lại Thượng Hải khi ĐCSTQ không c̣n thống trị Trung Quốc nữa”. Trong hơn 30 năm bị biệt giam chỉ bởi v́ tín ngưỡng của ḿnh, đă nhiều lần ĐCSTQ gây sức ép buộc ông phải từ bỏ đức tin của ḿnh và chấp nhận sự lănh đạo của “Ủy ban yêu nước tam-tự” do ĐCSTQ lập nên [19] để đổi lấy sự trả tự do cho ông.
Trong những năm gần đây, chiến dịch đàn áp của ĐCSTQ đối với những người tu luyện Pháp Luân Công, là những người tin theo nguyên lư Chân Thiện Nhẫn, là một sự mở rộng của học thuyết của họ về “đấu trời”, cũng là một kết quả không tránh được của việc bắt buộc nhân dân đi ngược lại ư muốn của họ.
Những người Cộng sản vô thần áp đặt định hướng và kiểm soát tín ngưỡng vào Thần linh của nhân dân; họ t́m niềm vui từ sự đấu tranh với trời. Sự ngu ngốc của họ không thể được diễn tả bằng lời; những từ như ngạo mạn hoặc xấc xược thậm chí không thể diễn tả được một phần nhỏ.
******************
Trên thực tế, Chủ nghĩa Cộng sản đă hoàn toàn thất bại trên toàn cầu. Giang trạch Dân, cựu lănh đạo chính yếu của chế độ cộng sản cuối cùng trên thế giới, nói với một phóng viên của tờ báo Bưu điện Oa-sinh-tơn (The Washington Post) vào tháng Ba 2002, “Khi tôi c̣n trẻ tôi nghĩ rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ đến rất nhanh, nhưng bây giờ tôi không c̣n cảm thấy như vậy nữa.” [20] Giờ đây số người thật sự tin vào chủ nghĩa cộng sản là rất ít.
Phong trào cộng sản đă được định trước là phải thất bại v́ nó vi phạm luật của vũ trụ và đi ngược lại đạo trời. Một thế lực phản vũ trụ như vậy chắc chắn sẽ bị trừng phạt bởi thiên ư và các đấng thần linh.
Mặc dù ĐCSTQ đă sống sót qua các cơn khủng hoảng bằng cách thường xuyên thay đổi bộ mặt của nó cố bám vào các thủ đoạn dối trá tuyệt vọng cuối cùng của nó, sự sụp đổ không thể tránh được của nó đă quá rơ ràng đối với tất cả mọi người trên thế giới. Những cái mặt nạ đẹp đẽ của nó dần dần bị lột ra từng chiếc một, ĐCSTQ đang lộ ra bản chất thật của nó là tham lam, tàn bạo, trơ tráo, đồi bại và phản vũ trụ. Nhưng nó vẫn tiếp tục kiểm soát tư tưởng của nhân dân, bóp méo đạo đức của nhân loại và v́ vậy phá hủy đạo đức, ḥa b́nh và tiến bộ của nhân loại.
Vũ trụ bao la mang trong nó Đạo trời không thể bác bỏ được, mà cũng có thể được gọi là ư của thần linh, hoặc là quy luật và lực lượng của thiên nhiên. Nhân loại sẽ chỉ có tương lai nếu biết tôn trọng thiên ư, thuận theo tự nhiên, tuân thủ quy luật của vũ trụ, và yêu thương tất cả chúng sinh dưới gầm trời.
Ghi chú:
[1] Lăo Tử, triết gia Trung Quốc, sống vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên. Ông ta được coi là tác giả của quyển sách Đạo Đức Kinh (Tao-Te Ching), quyển sách căn bản của Đạo giáo.
[2] Đạo Đức Kinh, chương 25.
[3] Trích từ Mạnh Tử, Quyển 2.
[4] Tam tự kinh, sách giáo khoa tiểu học cổ truyền Trung Quốc.
[5] Mạnh Tử, Quyển 6.
[6] Các Mác, “Một đóng góp cho việc phê b́nh Triết lư của Quyền của Hegel” (A Contribution to the Critique of Hegel's Philosophy of Right.”)
[7] Lê-ông Tờ-troy-xki (1879-1940), một nhà lư luận, nhà sử học, và lănh đạo quân đội của cộng sản Nga, người sáng lập Hồng quân Nga. Ông ta bị tay chân của Xta-lin ám sát ở thành phố Mê-hi-cô Xít-ty ngày 22/8/1940.
[8] Theo Zhu Xi hay Chu Hsi (1130-1200), c̣n được gọi là Zhu-zi hay Chu-tzu, một nhà Nho hiện đại dưới triều đại nhà Tống, Tiểu học dạy cách ứng xử lễ phép c̣n Đại học giảng sâu về những nguyên lư cơ bản đằng sau những phép ứng xử đó. Nguồn: Các buổi nói chuyện được phân loại của Sư Phụ Zhu (Zhu Zi Yu Lei), Quyển 7 (Học 1).
[9] Lâm Bưu(1907-1971), một trong những người lănh đạo cao cấp của ĐCSTQ, dưới thời Mao Trạch Đông là một Ủy viên Bộ Chính trị Trung Quốc, Phó Chủ tịch (1958) và Bộ trưởng Quốc pḥng (1959). Lin được coi là kiến trúc sư của Đại Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc. Lâm được chỉ định là người kế nhiệm Mao năm 1966 nhưng bị thất sủng năm 1970. Cảm nhận được sự thất sủng này, Lâm nghe nói có liên quan đến một cuộc đảo chính và cố trốn thoát sang Liên-xô sau khi âm mưu đảo chính bị bại lộ. Trong lúc chạy trốn để khỏi bị truy tố, máy bay của ông ta bị rơi ở Mông Cổ, làm ông ta bị chết.
[10] Trích từ “Buổi nói chuyện tại diễn đàn Diên An về Văn học và Nghệ thuật” của Mao (1942).
[11] Bệnh sán máng là một căn bệnh do những con sán sống kư sinh gây ra. Sự nhiễm bệnh xảy ra khi tiếp xúc với nước lă bị nhiễm sán. Các triệu chứng thông thường bao gồm sốt, ớn lạnh, ho và đau cơ. Trường hợp nặng hơn, bệnh có thể làm hại gan, ruột, phổi và bàng quang, và trong các trường hợp hiếm hoi, bị lên cơn, tê liệt, hoặc viêm tủy sống.
[12] Đạo Đức Kinh, Chương 2.
[13] “cân” là một đơn vị đo khối lượng của Trung Quốc, một cân ta bằng nửa cân tây (kg); “mẫu” là đơn vị đo diện tích đất của Trung Quốc, 1 mẫu = 0,165 mẫu Anh.
[14] Dịch bởi dịch giả
[15] Ngọc Hoàng và Long Vương là hai nhân vật thần thoại của
Trung Quốc. Ngọc Hoàng, hay Ngọc Hoàng Đại Đế (Thượng Đế) và được các con và
thần dân gọi thân mật là Ông Trời, là người trị v́ trên Thiên quốc và là một
trong những vị thần quan trọng nhất của các vị thần của Trung Quốc. Long
Vương là vị thần trị v́ bốn biển. Mỗi biển, tương ứng với một trong các
phương chính (Đông Tây Nam Bắc – dịch giả) được trị v́ bởi một Long Vương.
Các Long Vương sống trong các lâu đài pha lê, có các lính tôm và tướng cua
canh gác. Ngoài việc trị v́ các biển, các Long Vương c̣n điều khiển mây và
mưa. Long Vương của Biển Đông nghe nói có lănh thổ rộng lớn nhất.
[16] The Complete I Ching, do Alfred Huang dịch. Rochester, VT: Inner Traditions (1998).
[17] Kinh Thánh, Matthew, 22:21.
[13] Vô sản lưu manh, dịch nôm na là công nhân nghèo đói. Danh từ này dùng để chỉ giai cấp bao gồm các phần tử vô gia cư, suy đồi hoặc xă hội đen là một bộ phận dân cư ở các trung tâm công nghiệp. Nó bao gồm những người ăn xin, gái điếm, kẻ cướp, những kẻ tống tiền, những kẻ lừa đảo, những tên trộm vặt, những kẻ du thủ du thực, những người thất nghiệp thường xuyên hoặc không thể có việc làm, những người bị các ngành công nghiệp sa thải, và đủ các loại phần tử thoái hóa, suy đồi và hạ lưu. Từ này do Mác đưa ra trong “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”, 1848-1850.
[14] Ủy ban Yêu nước Tam tự (hay Nhà thờ yêu nước Tam tự) là một “sáng kiến” của ĐCSTQ. Tam tự nghĩa là “tự trị, tự cung và tự phổ biến”. Ủy ban yêu nước Tam tự đ̣i hỏi những người Công giáo Trung Quốc cắt đứt liên hệ với những người Công giáo ở ngoài Trung Quốc. Nó kiểm soát tất cả những nhà thờ chính thức ở Trung Quốc. Những nhà thờ nào không gia nhập Ủy ban này đều bị buộc phải đóng cửa. Những người lănh đạo và tín đồ của những nhà thờ độc lập bị đàn áp và thường bị xử tù.
[20] John Pomfret. “Giang cảnh báo Mỹ – Lănh đạo Trung Quốc nói việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan sẽ thúc đẩy chạy đua vũ trang.” Tờ Bưu điện Washington - Washington Post, 24/3/2001.