|
|
Ngừoi Quốc Gia là những người đặt tổ quốc lên bản vị tối cao Tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v.. Trích VN Tự Điển của Đào Duy Anh |
|
Nationalist Vietnamese Forum |
Ư Niệm Thế Hệ:
Hy Vọng Của Quốc Gia Và Toàn Thế Giới.
Ba tuần trước khi phát biểu trên làn sóng này về mục "Thế Hệ", chúng tôi có nói: Sẽ phát biểu nhiều kỳ và chúng tôi có nói ngay đến vai tṛ của thế hệ 40 với thế hệ 80 mà không nói ǵ nhiều về thế hệ 50, 60 và 70. Nhiều thính giả sẽ thắc mắc và tự hỏi: Phải chăng chúng tôi đă không nh́n thấy vai tṛ quan trọng của các thế hệ sau 40 trong việc dẫn dắt thế hệ 80 và sau 80 chăng ?
Xin trả lời là: Sự cố t́nh quên đi các thế hệ sau 40 là có chủ đích rơ rệt v́: "Chúng tôi muốn đánh thức tất cả các thế hệ Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước, về vai tṛ của ḿnh đối với vận mệnh của đất nước trong hiện tại cũng như trong tương lai tới đây”.
Đă nhiều lần trên làn sóng này chúng tôi liên tục nhắc đi nhắc lại nhận định có tính cách rất căn bản đối với lịch sử của bất cứ dân tộc nào, đất nước nào. Đó là: Nếu muốn xây dựng đất nước đến nơi đến chốn, mọi dân tộc phải biết hướng tiến tới của nhân loại và rằng không một dân tộc nào có thể phát triển thật sự nếu dân tộc ấy không biết hoặc chưa dám tiến hành một cuộc thẩm định lịch sử một cách rốt ráo và trọn vẹn về quá tŕnh phát triển của nhân loại cũng như của chính dân tộc ḿnh. Như thế, để biết thẩm định lịch sử, anh phải có trí tuệ siêu quần, ḷng cam đảm rất cao độ với tất cả ư thức trách nhiệm và thiện ư muốn đem lại no ấm cho nhân dân đất nước anh, để từ đó đóng góp vào việc đem lại an b́nh cho toàn nhân loại nói chung.
Lịch sử nh́n theo nghĩa rộng là cả một quá tŕnh phát triển không bao giờ ngưng nghỉ theo rất nhiều hướng khác nhau và nhiều khi đối nghịch nhau; như thế, sự thẩm định lịch sử phải liên tục, khách quan và toàn diện để bảo đảm rằng các biểu hiện tiêu cực của một xă hội, một cộng đồng cần được giảm thiểu đến mức tối đa để tạo điều kiện thuận lợi cho các biểu hiện tốt có cơ hội không ngừng phát triển. Trong một xă hội phát triển chậm (nói theo Alvin Toffler) th́ các biển hiện xấu, tiêu cực cũng chậm lây lan và chậm nh́n thấy để mà sửa chữa (thế mới coi là xă hội chậm), nhưng trong một xă hội phát triển nhanh (Phương Tây ngày nay) th́ biển hiện xấu có khả năng lây lan rất nhanh trên quy mô toàn cầu. Cho nên việc sửa chữa không phải dễ dàng trong khi "lực tiến nhanh tới phiá trước" phải đối diện với “lực cản trở ở phiá sau” do lịch sử để lại, luôn dựa vào một số biểu hiệu tiêu cực để cổ vũ cho một số hành động bảo thủ của ḿnh, mà các hành động ấy thực chất chỉ là nhằm bảo đảm cho quyền lợi của phe phái ḿnh hay các đặc quyền, đặc lợi mà họ hoặc phe phái của họ đang được hưởng do áp bức hoặc bóc lột kẻ khác, dân tộc khác mà họ có được.
Cuộc chiến đấu giữa cái mới và cái cũ c̣n nhiều cam go và nhân loại c̣n phải hy sinh nhiều trước khi có được một tương lai tươi sáng. Bây giờ là lúc mà thế giới nói chung, phải đổi mới thật sự về cách suy tư, cũng như hành động, cho dù với nhiều đau thương (nhưng nhân loại không c̣n một chọn lựa nào khác) để đặt nền tảng cho thế kỷ 21 này và các thế kỷ sau, khi toàn địa cầu này thực sự trở thành một xă hội Nhân Chủ Pháp Trị.
Nhiều người, ngay cả Âu châu vẫn c̣n nghĩ rằng: Hoa Kỳ đă đẩy thế giới tiến quá mau về phía trước mà không có các chuẩn bị thích ứng. Suy nghĩ như vậy là hoàn toàn sai! Ta hăy thử nh́n lại xem, trong lănh vực kỹ thuật điện tử: Từ kỹ thuật Analog sang kỹ thuật Digital th́ cuộc cách mạng này xảy ra chỉ vỏn vẹn chưa đầy 20 năm nếu không nói là chỉ vỏn vẹn có 10 năm cách tân này mà đă làm đảo lộn thế giới, hoàn toàn có khả năng biến con voi thành con chuột. Kỹ thuật tân tiến ngày nay với trí tuệ thông minh đặc biệt, có khả năng làm được nhiều việc mà trước đây 50 năm, cả ngàn con voi cũng không làm được (so sánh máy điện toán IBM thế hệ I với cell phone ngày nay th́ ta thấy sự khác biệt là rất rơ rệt). Như thế, luận điểm trách cứ Hoa Kỳ đă đẩy thế giới đi quá nhanh về phiá trước chỉ biểu hiện thực trạng không nh́n xa trông rộng mà thôi. Trớ trêu thay, luận điểm sai lầm này lại được nhiều nhóm bảo thủ thuộc thế giới phát triển chậm chia xẻ và được chủ nghĩa bành trướng Hán tộc Bắc kinh hoan nghênh.
Nhiều người, ngay cả Âu châu, nghĩ rằng: Khi làm như vậy, Hoa Kỳ đang muốn bành trướng "chủ nghĩa đế quốc kiểu Mỹ, văn hoá kiểu Mỹ” trên quy mô toàn cầu. Nghĩ như vậy cũng sai! V́ lịch sử nhân loại là lịch sử của sự hợp nhất và là quá tŕnh của sự tự giải phóng ḿnh khỏi các ràng buộc do chính con người trong quá tŕnh phát triển của ḿnh đă đặt định ra cho các thế hệ mai sau. Như thế, các thế hệ sau, nhất định phải biết dựa vào đà tiến hóa (ngày nay) để mà canh tân cải cách cái cũ, chứ có đâu lại cứ phải vin vào các khái niệm cũ từ cả ngàn năm trước (mà đến nay đă không c̣n hợp thời nữa) để cố t́nh kéo lùi thế giới lại, hoặc dựa vào đó để thực hiện các ư đồ đen tối của ḿnh. Nói cho cùng ra, nếu anh có trí tuệ thật sự để dẫn dắt thế giới th́ thế giới sẽ theo anh ít ra cho tới khi anh tự trở thành lỗi thời, lạc hậu. Lịch sử đă từng xảy ra và tiếp tục xảy ra như vậy. Cho nên, nếu muốn dẫn dắt thế giới, anh phải tự ḿnh đổi mới liên tục cho phù hợp với đà tiến hóa mới. Để làm được việc ấy, anh phải có trí tuệ siêu quần, một ḷng cam đảm đích thực và một thiện ư bao la là vậy. Cho nên, "Hoa Kỳ chẳng bành trướng đế quốc mà chỉ đề xuất Dân Chủ-Tự Do, và cuối con đường dân chủ tự do là con đường Nhân Chủ Pháp Trị được áp dụng trên quy mô toàn cầu, đây là hướng đi đúng nhất mà nhân loại này phải đi không một thế lực nào có thể cản trở hay có thể kéo lại được, v́ vậy chúng ta nên ḥa ḿnh vào gịng tiến hóa mới của nhân loại để khỏi bị đào thải bởi lịch sử". Nói cho rơ ra để giới lănh đạo của Bắc Kinh và các thế lực chậm tiến khác khỏi phải suy tư; rằng: Ví dụ: Trước đây khi đế quốc đỏ Nga Sô phát động phong trào "giải phóng" để bành trướng Cộng sản trên toàn cầu, th́ Hoa Kỳ lại đề cao Dân chủ và cuối cùng Hoa Kỳ đă chiến thắng cả "bạn" lẫn thù. Hiện nay Trung Cộng đang mang mộng Hán hóa nhân loại th́ Hoa Kỳ lại xiển dương học thuyết Nhân Chủ chỉ có vậy, đó cũng là ư nghĩa của cuộc chiến đấu giữa Thiện và Ác, giữa thế lực nhanh với các thế lực chậm, để rồi cuối cùng th́ các thế lực chậm tiến cũng phải bị bỏ lại phía sau như một quy luật tất yếu của lịch sử vậy. Thế giới rồi đây chỉ c̣n lại một nền kinh tế chung, một quy luật chung, một luật pháp chung. v..v… Sự tích Hằng Nga Hậu Nghệ sẽ trở thành sự thật mà chúng ta sẽ chứng kiến.
* - Sông Hằng, nước Hán đều quy lại,
* - Đảo Úc tầng A cũng phục quanh,
(trích Đạo Trường Ngâm – Tiên Long Châu Hành. 4822 T.V)
Nhiều người, ngay cả Âu châu, nghĩ rằng: Hoa Kỳ luôn lạm dụng bạo lực và không có t́nh nghĩa trước sau đối với đồng minh. Ta tự hỏi: Thế nào là lạm dụng bạo lực ? Thế nào là t́nh nghĩa trong chính trị ? Nếu xử dụng bạo lực để phục vụ cho ước vọng điên cuồng của cá nhân được bao che bởi tinh thần quốc gia dân tộc mù quáng để thực hiện ư đồ thống trị quyền lực tuyệt đối, độc tôn th́ đó là lạm dụng bạo lực đích thực. Staline, Mao Trạch Đông, Fidel Castro, Hồ Chí Minh, Hitler, Saddam Hussein, Kim Jong-Ill, các giáo sỹ điên rồ ở Iran là các kẻ lạm dụng bạo lực đích thực. Cho nên các chính quyền, chính phủ do các kẻ xấu ấy dựng lên cần phải đập tan. Nh́n vào lịch sử Hoa Kỳ trong hơn 200 năm qua, th́ ta thấy Hoa Kỳ luôn luôn đi diệt các kẻ lạm dụng bạo lực để cứu nguy cho nhân loại. Hoa Kỳ chưa bao giờ đem quân chiếm thuộc địa và bóc lột công sức của các dân tộc chung quanh. Đấy là chưa kể các chủng tộc nhỏ, các nền văn hóa lâu đời đă bị hoang phế do chiến tranh gây ra bởi các kẻ lạm dụng bạo lực, hoặc bị tàn phá do thời kỳ thực dân để lại, đă và đang được Hoa Kỳ giúp đỡ để bảo tồn hoặc khai quật để khôi phục lại các nền văn minh đă bị mai một ấy. T́nh nghĩa trong đời thường là một khái niệm mơ hồ và chẳng có tiêu chuẩn khách quan thống nhất để so chiếu. T́nh nghĩa đối với người Hồi giáo Trung đông là giữa những người cùng hệ phái hay bộ tộc với nhau chứ không phải là giữa loài người với loài người theo đúng ư niệm chân chính của từ ngữ này. T́nh nghĩa trong chính trị phải chăng là một thể hiện giữa đồng minh với nhau đặt căn bản trên sự tương nhượng về quyền lợi mà không có bạn thù. Xét theo nghĩa này th́: Trong chính trị, vấn đề t́nh nghĩa không nên đặt ra v́ tương quan giữa các phía thay đổi từng ngày, từng giờ. Nên nếu hiểu đúng nghĩa theo chính trị th́ ta là chính , "bạn", "thù" chỉ là tùy phụ.
Như thế, t́nh nghĩa chỉ là và luôn là thể hiện một mối quan hệ chân t́nh giữa cá nhân cụ thể này với một cá nhân cụ thể khác mà thôi. C̣n mối quan hệ t́nh nghĩa chính trị th́ thực tế cho thấy là rất hiếm hoi và ít bền vững. Nếu có chăng chỉ khi nào họ đồng đẳng trong trí tuệ ("Quần Long Vô Thủ"). Chúng ta nên nhớ đồng đẳng trong trí tuệ khác với sự b́nh đẳng giữa cá nhân và cá nhân trong xă hội. Một số người cho là Hoa Kỳ thiếu t́nh nghĩa dựa vào cách thức mà Hoa Kỳ đối xử với một số nhà cầm quyền các nước trong thời kỳ chiến tranh lạnh mà tiêu biểu nhất là miền Nam Việt Nam trước 1975. Khi quan sát vấn đề này, ta phải b́nh tâm quan sát các sinh hoạt chính trị trên quy mô toàn cầu từ cổ đại đến nay và so chiếu với cách thức mà Hoa Kỳ đả xử sự thực sự với các nhóm thiểu số như thế nào khi họ đến định cư tại nước Mỹ. Nói một cách khác t́nh nghĩa trong chính trị của Hoa Kỳ là: "Quyền lợi giữa anh và tôi phải đặt trên căn bản là Người". Nhưng một điều mà chúng ta nên ghi nhớ là: Lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ là cả một chuỗi dài bị đè nén đau thương, hơn 200 năm trước họ đến đây lập nghiệp bằng hai bàn tay trắng, 200 năm sau họ đă tạo dựng một quốc gia Hoà Kỳ hùng mạnh vào bậc nhất của thế giới, v́ hiểu như vậy cho nên lúc nào Hoa Kỳ cũng sẳn sàng "Thề cứu loài người yếu", tấm ḷng hào hiệp của Hoa Kỳ không ai có thể phủ nhận hay chối bỏ được. Cho nên hiện nay giới lănh đạo các quốc gia dù nhỏ, khi đă nhận trách nhiệm th́ anh phải lo cho sự b́nh an ổn định cho chính dân anh. Tôi lo cho dân tôi no ấm th́ anh cũng phải lo cho dân anh hạnh phúc, v́ tất cả chúng ta đều là con người nên sự tự do hạnh phúc phải được chia đều, không ai có quyền đè nén và bóc lột con người. Có như vậy th́ đời sống con người mỗi ngày mỗi được thăng hoa lên và tiến lên tiến lên măi để xây dựng một thế giới đại đồng hạnh phúc. Hạt giống Nhân Chủ phải được nẩy mầm, hoa Nhân Chủ phải được nở trong mọi nhà, đó cũng là ước mơ ngàn đời của con người vậy.
Chính trị là một sự ứng dụng của mưu thuật, mỗi mưu kế thích ứng với một thời điểm đặc biệt nào đó, phù hợp với một t́nh huống nào đó. Trong chiến tranh lạnh, các Kingmakers hay là các kẻ dàn dựng các chính phủ (CIA) đă ủng hộ nhiều chính phủ dân chủ sơ khai trong một số vùng tranh chấp nào đó (Đặc biệt, khi mà Trung cộng và Liên Xô đang "xuất khẩu" cuộc chiến tranh nhân dân đến các vùng đó), mặc dù các vùng đó chưa sẵn sàng cho hạt giống dân chủ nảy mầm. V́ thế mới gọi là "Chiến Tranh Lạnh". Nhưng chiến tranh lạnh thật ra cũng không lạnh lắm cho những ai tham gia vô cuộc chiến tranh lạnh ấy (nhất là các nhà lănh đạo các quốc gia nhược tiểu) mà vẫn cứ nghĩ về độc lập thực sự trong một một thế giới đầy chiến tranh, th́ suy nghĩ của họ rất sai v́ vai tṛ của một số quốc gia nhỏ chưa thực sự được nh́n nhận (đặc biệt trong các vùng nhạy bén) như các quốc gia độc lập thực sự, mà chỉ được xử dụng như một thành lũy nhằm ngăn chặn, be bờ làn sóng đỏ để làm sụp đổ Liên Xô mà thôi. Ngày nay, mọi chuyện đă và đang thay đổi tận gốc rễ, nên chính trị cũng phải thay đổi theo cho hợp với hoàn cảnh hiện tại. Các h́nh thức xử dụng các công cụ chính trị bản xứ đă không c̣n được chấp nhận nữa. Thay vào đó là cả một kế hoạch sâu rộng nhằm đưa tự do, dân chủ đến cho mọi người, mọi quốc gia, mọi dân tộc nhỏ yếu chưa bao giờ hiểu được tự do dân chủ. Do đó: Cơ hội độc lập thực sự, dân chủ tư do thật sự đang thật sự mở ra cho cả nhân loại. Chúc cho các dân tộc, nhất là các dân tộc yếu kém, nghèo khổ biết nắm lấy cơ hội ngàn vàng này.
* Với Việt Nam:
Trong buổi tiếp xúc với các cơ quan truyền thông Việt ngữ mới đây, ông Michael Marine đă nói một câu vừa đủ ư nghĩa để nhắc lại với người Việt hải ngoại và trong nước: "Con đường đi đến dân chủ cho Việt Nam cũng hàm chứa nhiều khó khăn”. Thực ư của ông Marine muốn nói thế này: Lật đổ chế độ Cộng sản Việt Nam là chuyện nhỏ (đón tiếp ông Khải là chuyện nhỏ). Việc đem lại tự do dân chủ cho Việt Nam nếu không khéo th́ có thể dẫn đến việc can thiệp, phá hoại toàn diện của Bắc Kinh vào Việt Nam. Dĩ nhiên trong vai tṛ đại sứ, ông Marine chẳng được phép nói thêm, nhưng những điều ông Marine nói tới cũng một phần nào đă xác định nhiều vấn đề đă từng được chúng tôi nói tới nhiều lần trên làn sóng này trong 6 năm qua.
Chiến lược của Bắc Kinh thật rơ rằng. Đó là: Tŕ hoăn và hết sức tránh né một cuộc đụng độ trực tiếp với Mỹ trên quy mô lớn cho đến khi nào Trung cộng đủ mạnh để đối đầu tay đôi với Mỹ hay chẳng đặng đừng lắm th́ mới đụng độ với Mỹ. Trong khi đó, Trung cộng vẫn ráo riết chuẩn bị các h́nh thức chiến tranh du kích, khủng bố toàn diện qua các kẻ trung gian như nhóm Al Queda hay các tổ chức tội phạm quốc tế, đồng thời âm thầm, ráo riết thôn tính các nước láng giềng nhỏ yếu chung quanh bằng mọi h́nh thức khác nhau để buộc Hoa Kỳ phải tương nhượng các quyền lợi ở Á châu cho Tàu.
Ư đồ “chính trị lộ tuyến” của Bắc Kinh chẳng qua mặt được ai, nhất là với Cụ Lư Đông A, là người đă nói về ư đồ này của Tàu cách đây 60 năm. Với Hoa Kỳ th́ họ đă hiểu rơ Tàu hơn ai hết. Hoa Kỳ đă tương kế tựu kế để đẩy Tàu đi tới chỗ phải làm càn và trở thành căm địch của cả thế giới, nhất là căm địch của các nước Á châu. Cho nên, dù Bắc Kinh có hành động thế nào th́ Hoa Kỳ cũng đă sẵn sàng giáng trả để từng bước dẫn Bắc Kinh đi tới chỗ bị phân ră toàn diện.
Đối với Việt Nam, chúng ta đă ở trên tuyến đầu của cuộc chiến tranh lạnh và hiện nay đang ở trên tuyến đầu của cuộc chiến tranh toàn diện chống chủ nghĩa bành trướng Hán tộc Bắc Kinh. Như chúng tôi đă tŕnh bày cùng quư thính giả, "đánh Tàu bằng đường dài là việc của Hoa Kỳ và hiện nay là của cả Nhật Bản nữa. Đánh Tàu bằng đường ngắn là việc của dân tộc Việt Nam". Chúng ta đánh Tàu và bọn tay sai của chúng bằng cách của chúng ta v́ hiện nay chế độ Cộng sản Việt Nam về thực chất chỉ c̣n là công cụ cho Bắc Kinh sai bảo và xử dụng. Đó là lư do tại sao trên làn sóng này, chúng tôi đă liên tục mở ra một cuộc chiến tranh Văn Hoá- Tư Tưởng. Đây là một h́nh thức chiến tranh chưa hề xảy ra trong lịch sử nhân loại nhằm tấn công trực diện vào đầu năo của ban lănh đạo Bắc Kinh, đạp đổ huyền thoại về nền văn minh Trung Hoa để sau cùng khôi phục lại vị trí xứng đáng, đích thực của nền văn minh Bách Việt.
Nhiều người không thấy tầm quan trọng và tính chất toàn diện của cuộc chiến tranh Văn Hoá- Tư Tưởng này mà Cụ Lư Đông A đang lănh đạo. Một công cuộc cách mạng đầy gian khổ, lắm khó khăn nhưng cũng vô cùng vinh quang. Nó chẳng phải đem lại mọi sự tốt đẹp cho Việt Nam không thôi mà c̣n cho cả cộng đồng Bách Việt từ vùng Trung Nguyên nước Tàu đến vùng Đại Đông Nam Á (Grand South East Asia), cho cả loài người yếu và các dân tộc linh lạc trên thế giới này nữa.
Cho nên, trước các lời phát biểu rất rơ ràng trên làn sóng này trong thời gian qua, mỗi bước tiến tới của t́nh h́nh th́ Bắc Kinh mau chóng đáp ứng lại bằng những hành động cụ thể (thí dụ về đập Tam Khẩu, thành Bắc Kinh, v.v..). Nhưng đặc biệt hơn hết là theo tin chúng tôi mới nhận được th́ Bắc Kinh đang tiến hành một dự án rộng lớn nhằm cố chứng minh rằng: "Việt Nam ta không có văn hoá. Theo sự đánh giá riêng, th́ quy mô của chiến dịch văn hóa này rất sâu rộng, đều khắp trên toàn nước Tàu và trong các cộng đồng Hoa kiều ở hải ngoại. Sau đó Bắc Kinh sẽ mua một số chương tŕnh truyền thông quốc tế nhằm xuyên tạc và bóp méo lịch sử của nhân loại nói chung và của Bách Việt nói riêng".
Hôm nay đây, qua làn sóng này, chúng tôi chính thức trả lời cho giới lănh đạo Bắc Kinh bằng cách đưa ra một loạt các nghiên cứu của nhiều học giả phương Tây về Văn Minh Bách Việt. Các vị này có đủ các kỹ thuật, khoa học và khách quan để quan sát cụ thể và đánh giá chính xác về nguồn gốc của cái mà ta gọi là "văn minh Trung Hoa”, về cách thức mà Hán tộc đă đánh cắp văn minh các lân bang (đặc biệt văn minh Bách Việt) ra sao, hủy diệt các dân tộc là sở hữu chủ các nền văn minh này để h́nh thành cái họ gọi là văn minh Trung Hoa như thế nào:
1) Giáo sư Jared Diamond thuộc viện đại học UCLA mới đây đă viết cuốn Guns Germs and Steel (vơ khí vi trùng và sắt thép) đă chứng minh rất rơ ràng là: "Về mọi mặt th́ văn minh Bách Việt đă tiến trước văn minh Trung Hoa nhiều ngàn năm”.
2) Giáo sư Wolfram Eberhard là một học giả Mỹ từng dạy ở đại học Bắc Kinh đă nghiên cứu về văn minh Trung Hoa hơn 40 năm, trong cuốn sách A History of China của ḿnh, ông đă nói thế này: "Người ta biết xưa kia chẳng có chủng tộc Tàu, người Tàu cũng chẳng có. Điều mà ta gọi là Tàu thực ra một tiến tŕnh pha trộn phiền toái lâu dài của nhiều chủng tộc khác nhau, v́ thế ta không thấy một nước Tàu văn minh với xung quanh toàn là những dân tộc man di mọi rợ". (Vậy Bắc Kinh hăy chứng minh những cái đang có trên nước Tàu ngày nay cái nào là văn hóa hay văn minh của Trung Hoa ? Câu trả lời là: Chẳng có cái nào cả, những cái được coi là văn hóa, văn minh của Trung Hoa ngày nay là những cái vay mượn và đánh cắp qua nhiều ngàn năm).
3) Giáo sư Edward Schaffer trong cuốn Ancient China (Trung Hoa Cổ Đại) phát hành năm 1967 bởi viện đại học Stanford th́ phát biểu như thế này: "Ta không c̣n nghi ngờ ǵ nữa về kỹ thuật trồng lúa nước và thuần hoá gia súc là của phương Nam (ư nói Bách Việt). Kỹ thuật đúc đồng đỏ th́ người Thương, người Ân không có trong khi thời Hùng Vương đă có hiểu biết rất rơ ràng về kỹ thuật luyện kim, đúc đồng”.
4) Giáo sư Charles Hucker cùng với giáo sư Will Durant thuộc viện đại học Michigan đă viết hơn 10000 trang về lịch sử Trung Hoa và mối liên hệ sâu sắc của lịch sử Trung Hoa cổ đại với lịch sử Bách Việt. Một phần của 10000 trang này đă được phát hành nhưng các phần chủ yếu vẫn c̣n được giữ kín như là tài sản trí tuệ của viện đại học Michigan. Trong cuốn China’s Imperial Past phát hành năm 1975, Giáo sư Charles Hucker, học giả về Trung Hoa này đă nói: "Nước Tàu không hề có truyền thuyết nào đề cập đến vị anh hùng nào đưa nước Tàu đến văn minh ngày nay. Trung Hoa là dân tộc duy nhất không đề cập đến sử thi, thiên di, huyền thoại của dân tộc ḿnh. Không ai biết dân tộc Tàu từ đâu đến, thuộc giống người nào, đă có văn minh từ bao lâu rồi”.
Giáo sư Will Durant th́ nói: "Văn minh Bách Việt cổ hơn văn minh Trung Hoa v́ nó đă có trước, góp phần vào việc h́nh thành nền văn minh Hoa Hạ (văn minh Hoa Hạ khoảng đời nhà Thương 1783 – 1134 ttl) từ thủa sơ khai, đặt căn bản trên văn minh trồng lúa nước”.
5) Một vị giáo sư khác học giả Needham, chuyên nghiên cứu về Trung Hoa thuộc viện đại học Oxford trong cuốn sách China th́ viết như sau: "Ngay cả người Tàu th́ đă có được bao nhiêu người có được ư niệm về Trung quốc xưa kia thực sự ra sao ? Đấy là nền văn minh cổ xưa nhất thế giới c̣n tồn tại nếu xét theo sự liên tục về văn hóa, ấy thế mà quá khứ của nó đă bị tái hiệu đính liên miên thay v́ được bảo tồn (Tàu sửa văn hóa cưỡng đoạt được của Bách Việt để biến thành của Tàu). Chẳng những vậy, ngày nay chẳng c̣n bao nhiêu tài liệu nguyên bản nói về Trung Hoa, hầu hết chỉ là các bản sao và những họa phẩm".
6) Giáo sư Nhân Chủng Học Paul K. Benedict đă phát biểu rằng: "Nhiều từ ngữ trước đây người ta cứ tưởng là người Đông Nam Á (Bách Việt) vay mượn của người Tàu, thực ra th́ trái ngược lại. Chính người Tàu đă vay mượn các từ ngữ ấy từ cộng đồng Bách Việt (Đông Nam Á) và rằng: Tàu chỉ thừa hưởng, không có ban phát ǵ hết!"
Đây cũng là nhận định chung của nhiều học giả khác chuyên nghiên cứu về mối liên hệ giữa ngôn ngữ Tàu và Bách Việt. Đó cũng là mối liên hệ về văn hóa và văn minh giữa ḍng tộc Đại Bách Việt ở phương Nam với Hán tộc ở phương Bắc. Ta cần kể ra ở đây rất nhiều vị như: Sử gia Lea E. Williams thuộc viện đại học Oxford, học giả Keith Weller Taylor trong cuốn The Birth Of Vietnam (1983, University of California Press), học giả Edward G. Pulleyblank trong phần The Chinese and their Neighbor in Prehistoric and Early Historic Times của cuốn The Origins of the Chinese Civilization do David N. Keightley hiệu đính, hai học giả Pierre Huard và Maurice Durand thuộc trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội trong cuốn Connaissance du Vietnam (Hanoi 1954) và nhiều học giả khác, tất cả đều đi đến một nhận định là: "Văn minh Bách Việt là nền văn minh tối cổ trên thế giới đă tạo ảnh hưởng sâu rộng đối với quá tŕnh phát triển của văn minh nhân loại ngày nay". Đặc biệt là: Nhiều người đă tưởng lầm là văn minh Trung Hoa có trước văn minh Bách Việt nhưng trong thực tế th́ mọi thứ, mọi mặt của văn minh Trung Hoa chỉ là vay mượn của văn minh Bách Việt mà thôi. Văn minh Trung Hoa chỉ là bản sao chép bất toàn của văn minh Bách Việt về nhiều khía cạnh như từ ngừ, chữ viết đến phong tục tập quán, kiến trúc và nhiều khám phá khác nữa.
Nhiều sự khai quật các cổ vật vùng Lương Châu (Liangzhu) và các nơi khác tại nước Tàu bây giờ, đưa các chuyên gia về lịch sử Tàu tới một kết luận: "Trung tâm văn minh nước Tàu không nằm tại vùng Hoa Bắc (nơi phát nguồn của Hán Tộc) mà tại vùng Hoa Nam nước Tàu" (nơi cội nguồn của văn minh Bách Việt).
Về quá tŕnh chuyển dịch của con người và văn minh thuộc ḍng tộc Đại Bách Việt nhằm tạo ra các ảnh hưởng nhất định của Bách Việt đối với nhiều trung tâm văn minh sau này th́ ta phải kể ra đây các công tŕnh nghiên cứu của nhiều học giả khác nữa như:
* - Lawrence J. Ma thuộc University of Akron nghĩ rằng giống người Homo-Sapien (người thông minh) xuất hiện rất sớm tại Đông Nam Á, sau này là tiền nhân của chủng loại Austroloid. Lawrence J. Ma ước lượng thổ dân vùng này khởi đầu sự gia súc hóa loài vật và trồng trọt từ 15000 năm trước đây, tức là sớm hơn vùng Tây Nam Á Châu (vùng Lưỡng Hà-Cận Đông) tới 5000 năm (Cultural Diversity, Lawrence J. Ma, sách “Southeast Asia, Ream of Contrast”, hiệu đính bởi Ashok K. Dutt, Westview press, Colorado, 1985 trang 54).
* - Học giả Meacham đă ước tính rằng: "Ít nhất là 10,000 năm trước Tây lịch, người Bách Việt đă biết dùng bè để di chuyển trên biển Đông" (giáo sư William Meacham trong cuốn sách The Origins Of The Chinese Civilization, Berkeley 1983). Theo giáo sư Nicholas Tarling th́: "Trước đó 40,000 năm, người Đông Nam Á (Bách Việt) đă biết xử dụng một h́nh thức bè thô sơ nào đó để đến Úc châu” (trong cuốn History Of Southeast Asia, Cambridge University Press 1992). Theo học giả Wilheim G. Solheim th́: "4,000 năm trước Tây lịch, Bách Việt (các vị này chỉ dùng từ ngữ người Đông Nam Á thay v́ gọi đích danh là Bách Việt) đă mang đến Đài Loan và Nhật Bản nghề trồng khoai sọ và hoa màu". Giáo sư Wilheim G. Solheim II (con) th́ nói: "Thuyền độc mộc đă được Đông Nam Á (Bách Việt) xử dụng từ 5,000 trước Tây lịch". Giáo sư Peter Bellwood trong cuốn sách Man’s Conquest Of The Pacific, New York, 1979) cho rằng: "Công tŕnh chinh phục Ấn Độ Dương và Thái B́nh Dương xuất phát từ Đông Nam Á, đặc biệt là từ nền văn minh hàng hải Hoà B́nh và Đông Sơn". Giáo sư Edwin Doran cũng đưa ra nhận định là: "Các di dân từ vùng Cổ Việt đă di chuyển đến khắp các hải đảo ở Đông Nam Á kể cả Úc và Tân Tây Lan, một phần Ấn Độ Dương bằng thuyền bè". Điều này được chứng minh rất rơ khi quan sát tục ăn trầu, nhuộm răng của dân cư nhiều hải đảo ở Thái B́nh Dương và nhiều sinh hoạt khác đến tận Nam Mỹ, mà rơ nét nhất là tại Đông Timor.
Theo ông Vũ Hữu San trong bài viết "Hàng Hải Gốc Rễ Việt Nam" th́ ngày nay, Việt-Nam là nơi lôi-cuốn nhiều nhà khoa-học đến nghiên-cứu về tiến-tŕnh nhân chủng và sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng về Việt Nam và vùng Đông Nam Á, các học giả ngọai quốc đă đưa ra các nhận định sau:
1) Nhà Nhân-chủng-học Russell Ciochon (tác-giả bài "The Ape That Was", Natural History, November 1991) và nhà Khảo-cổ-học John Olsen đă khám-phá ra nhiều chứng-tích ở Việt-Nam cho thấy giống người vượn khổng-lồ Gigantopithecus cao 10 bộ Anh đă từng sinh sống đồng-thời với giống người Homo-Erectus trong khoảng thời-gian dài tới 500,000 năm. (Southeast Asia: A Past Regained, Time-Life Books, Virginia, 1995, trang 16-17)
2) Brian M. Fagan cho biết tại những hang của Làng Trang, Việt-Nam, người ta t́m thấy di-cốt của người Homo-Erectus cổ tới 500,000 năm. Chứng-tích này thuộc loại cổ nhất Đông-Nam-Á (People of the Earth, An introduction to World Prehistory; 1992, trang 129)
3) Ronald Provencher c̣n phỏng-đoán loài người đă xuất-hiện sinh sống tại Đông-Nam-Á từ 2 triệu năm trước đây. (Mainland Southeast Asia: A Anthropological Perspective, viết tắt: Mainland Southeast Asia, Nhà xuất-bản Goodyear Publishing Company, California 4/ 1975, trang 17)
4) Học-giả Thái-Lan Sumet Jumsai t́m ra rằng chỉ có 3 vùng trên trái đất thuộc ṿng đai nhiệt-đới là thuận-hảo cho sự sinh-tồn của loài người trong thời Băng Đá. Đó là vùng b́nh-nguyên sông Amazone Nam-Mỹ, vùng Trung Phi-Châu và vùng Đông-Nam-Á. Ông so sánh t́nh-trạng như sau: Mỹ-Châu thời đó chưa có người, Phi-Châu có nhiều giống thú dữ và khu duyên hà, duyên-hải không có dấu tích sinh-hoạt loài người. Chỉ c̣n vùng Đông-Nam-Á mới thực-sự là nơi hội-tụ những điều-kiện tiện-lợi để cho loài người sống sót (Naga, trang 3)
- 5) Tại Mandalay, Miến-Điện năm 1979, người ta t́m ra nhiều xương hoá-thạch của loài Primate lâu tới 40 triệu năm. V́ chứng-tích này cổ hơn bất cứ nơi đâu trên trái đất nên đă có kết-luận rằng: loài Primate thoạt tiên sinh sống trong vùng Đông-Nam-Á trước, sau mới di-chuyển ngang qua khu-vực Tây Á-Châu rồi sang Phi-Châu (Naga: Cultural Origins in Siam and the West Pacific, viết tắt Naga, Sumet Jumsai, xuất-bản tại Singapore, Oxford University Press, 1988, trang 2.)
6) Trong giai-đoạn tiến hoá của loài người, giống Homo-Erectus (người đứng thẳng) có lẽ tồn-tại lâu nhất tại vùng đất liền Đông-Nam-Á, lâu hơn tại tất cả các nơi khác trên địa-cầu, kể cả Phi-Châu và Âu-Châu (People of the Earth, An introduction World Prehistory, Brian M. Fagan, Harper Collin Publishers, New York, 1992, trang 15
7) Hầu hết các phát-minh thuyền bè, buồm, chèo, lái ... của nhân-loại ngày nay đều có gốc rễ từ bán-đảo Đông-Dương. Chừng 60,000 năm trước, khi những nhóm cư-dân Đông-Nam-Á đầu tiên dùng bè vượt biển tới Úc-Châu, tiền-nhân Việt-tộc chắc chắn cũng đă dùng phương-cách di-chuyển như vậy. Nhiều tiến-bộ về kiến-trúc thuyền bè đă đạt được và thành-quả đáng kể nhất có lẽ là cách sử-dụng phối-hợp tài-t́nh hai hệ-thống buồm và xiếm. Nhờ vậy, một số loại ghe thuyền ở Việt-Nam có thể tự nó lái lấy và giữ hướng đi trong nhiều ngày dài, không cần phải sửa đổi tay lái. (Connaissance du Việt-Nam, Pierre Huard và Maurice Durand, Hanoi 1954, trang 232)
8) "Nguồn gốc chung của tổ tiên những người Đông Nam Á (Bách Việt) là một sự kiện có thể giải thích được một phần nào do sự tương đồng ngôn ngữ của các sắc dân trong vùng" (Southeast Asia in The Age of Commerce 1540-1680, Volume One: The Lands Below the Winds, Yale University Press, 1988, trang .)
C̣n rất nhiều các dữ kiện cụ thể khác của các học giả ngoại quốc nữa đă minh chứng là "văn minh Tàu ngày nay chỉ là sự sao chép, lấy cắp không toàn vẹn của văn minh Bách Việt” (nền văn minh khai phá cho nhiều nền văn minh khác của nhân loại). Tuy nhiên, các dữ kiện vừa nêu cũng đă quá đầy đủ để phản bác lại các nhận định rất hồ đồ của Hán tộc khi xưa và Trung cộng ngày nay về nguồn gốc đích thực của nền văn minh Bách Việt và các cách thức mà Hán tộc đă cưỡng chiếm nhiều phần trong các tinh hoa của văn hóa Đại Bách Việt để từng bước hủy diệt dân tộc Đại Bách Việt (100 con th́ 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha xuống biển, sự tích Tiên Rồng là một chứng minh hùng hồn nhất về bộ tộc Bách Việt đă chia nhau 50 con ở lại chiến đấu “lên rừng", 50 con dẫn nhau đi t́m nơi hiểm địa “xuống biển” để tồn tại và để hổ trợ cho cuộc trường kỳ chiến đấu với Bắc phương trải dài qua nhiều ngàn năm. Trong một bài khác chúng tôi sẽ giải thích rơ ràng hơn về sự tích Tiên Rồng), rồi Hán tộc tự nhận là chủ nhân của nền văn minh Phương Đông rực rỡ, và trở thành thế lực chi phối các lân bang như thế nào.
Truyện xưa đă vậy, truyện nay cũng thế. Giờ đây sau biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử cận đại, đảng Cộng sản Việt Nam đă trở thành công cụ tay sai của Bắc Kinh, lệ thuộc vào Bắc Kinh về đủ mọi mặt. Bắc Kinh đang lấy cớ là Việt Nam cần trùng tu các đ́nh chùa miếu mạo của Việt Nam, đặc biệt là ở phía Bắc và Bắc Trung phần (nơi mà Tàu nghi ngờ là c̣n chứa nhiều bí kiếp quan trọng trong kho tàng văn minh Bách Việt) nên chúng đă và đang tiến hành những cuộc trộm cắp quy mô bằng cách làm các tượng mới (dĩ nhiên là đẹp hơn các tượng cũ) để thay thế các tượng cũ. V́ suy nghĩ hẹp ḥi, đầu óc tham lam, những người Cộng sản Việt Nam đâu có thấy ư đồ thâm độc của Tàu là chúng sẽ bỏ tiền giả (kể cả đô la giả) mua các tượng cổ ấy đem về Tàu để tiếp tục tiến tŕnh (như các vua chúa Tàu làm ngày xưa) ăn cắp và hủy diệt các chứng liệu vô cùng giá trị của tổ tiên ta.
Việc này được minh chứng rơ ràng khi mà các vụ trộm cắp văn hoá phẩm, cổ vật của Việt Nam đang ngày càng trở nên quy mô hơn, có hệ thống hơn. Ta cần lưu ư là: Trong hệ thống chùa chiền ở Việt Nam, đặc biệt ở miền Bắc, những ngôi chùa tối cổ thường chỉ có mang một chữ luôn thuộc họ mễ. Thí dụ: Chùa Gạo, chùa Đậu, chùa Trần, chùa Tiêu, v.v… Các chùa khác được xây dựng dưới thời Hậu Lê hoặc nhà Nguyễn thường mang tên gọi dựa vào tên làng để đặt tên cho ngôi chùa ấy. Trong kế hoạch ăn cắp văn hóa phẩm và cổ vật đại quy mô này, bọn Tàu c̣n nhắm vào việc tiếp tục trấn yểm miền Bắc Việt Nam, nơi mà chúng coi là linh địa, có thể trấn áp cả địa thế nước Tàu. Ví dụ như lăng Hồ Chí Minh là một cách trấn yểm địa thế miền Bắc Việt Nam.
Chúng ta cần nh́n rơ dă tâm nham hiểm này của lănh đạo Bắc Kinh không chỉ đối với Việt Nam chúng ta không thôi mà c̣n đối với tất cả các lân bang của Tàu như: Miến Điện, Tây Tạng, Mông Cổ, Lào, Campuchia, v.v… Chúng ta cần phải cảnh tỉnh đồng bào trong nước về hiểm họa thâm độc của Bắc phương, cực lực tố cáo trước dư luận thế giới, đặc biệt với cơ quan di tích văn hóa lịch sử của Liên Hiệp Quốc về âm mưu đánh cắp đại quy mô, hủy diệt có hệ thống các tài sản về văn hóa, lịch sử, trí tuệ của nhân loại c̣n sót lại ở Việt Nam. Qua đây, chúng tôi bầy tỏ ước mong là: Viện Đại Học Michigan sớm bạch hóa các tài liệu mà các giáo sư Charlie Heckler và Will Durant đă dày công nghiên cứu về văn minh Bách Việt.
I) Bàn Về Lịch Sử Việt Tộc Hay Quá Tŕnh Tiến Tới Nhân Chủ:
Trong Chu Tri Lục, Cụ Lư đă viết một câu để đời như thế này: "Không đọc sử, không đủ tư cách nói việc quốc gia. Đọc sử không giải được nghĩa, không nắm được thể dụng, không thể có được bản lănh về chính trị. Phải đem một tri thức suốt mặt thống nhất vào một nhăn quan, mới phân tích được một sự tượng trên lịch sử cho đích đáng”.
Như thế lịch sử của ṇi Việt đối với lịch sử Hán tộc ra sao? Và lịch sử của ṇi Việt đối với lịch sử của toàn nhân loại này như thế nào? Đó là các câu hỏi c̣n làm đau đầu nhiều sử gia trong tương lai dài tới đây, và hẳn nhiên sẽ là các chủ đề chính yếu để các sử gia Việt Nam đích thực dồn hết mọi nỗ lực nhằm t́m ra các mối liên hệ đích thực và sâu thẳm trong các đống tro tàn, đổ nát mà Hán tộc đă cố t́nh bóp méo sự thật lịch sử khách quan của ṇi giống Việt trong thời gian ít ra là 3000 năm qua, mà người đầu tiên khơi màu cho việc chiếm đoạt và tiêu diệt văn minh cũng như văn hóa Bách Việt một cách có hệ thống không ai khác hơn là Khổng Tử. Như thế, cuộc chiến tranh văn hóa - văn minh này không thể kết thúc mau chóng nhằm dành quyền xác định chủ quyền của Bách Việt ta đối với các yếu tố nền tảng của văn minh Đông Phương.
Nếu con người đi bằng hai chân và vĩnh viễn vẫn đi bằng hai chân th́ văn minh nhân loại cũng sẽ phải tiến bước bằng hai chân theo quá tŕnh chuyển dịch giao tiếp giữa con người với nhau. Điều này xác định quá tŕnh h́nh thành các trung tâm văn minh mới vậy. Các trung tâm văn minh mới (so với cái cũ) luôn là một cải tiến so với văn minh cũ về đủ mọi mặt, từ vật chất đến tinh thần. Đây là một tiến tŕnh không bao giờ ngưng nghỉ và sự chuyển dịch ngày càng trở nên nhanh hơn, quy mô hơn nhằm h́nh thành quá tŕnh hợp nhất nhân loại trên một nền tảng mới.
Càng ngày chúng ta càng phát hiện thêm các dữ kiện khoa học để minh chứng cho nhận định mà tôi đă nêu lên trước đây (tôi đă đề cập đến vấn đề này trong cuốn sách phát hành năm 1993) về ṿng quay của các trung tâm văn minh thế giới, theo đó văn minh Bách Việt đă mở đầu cho tiến tŕnh dài trong việc h́nh thành các trung tâm văn minh của nhân loại. Các trung tâm này chuyển dịch từ Bách Việt đến Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập, Hy Lạp, La Mă, Âu châu và nay là Hoa Kỳ. Khi chuyển dịch đến Bắc Mỹ, văn minh nhân loại đă có đủ sức (trí tuệ và vật chất) để cất cánh và từng bước h́nh thành nền văn minh Liên Hành Tinh trong khi một bộ phận khác là bộ phận chủ lực tiếp tục quay theo hướng Đông để mở rộng hơn nữa nền văn minh địa cầu và càng ngày nền văn minh nhân loại càng tiến sâu vào vũ trụ để từng bước củng cố và phát triển hơn nữa nền văn minh Liên Hành Tinh.
Nhận định nêu trên có thể c̣n quá mới mẻ đối với nhiều người. Nhiều vị sẽ cho là chúng tôi quá chủ quan khi đưa ra các nhận định kiểu ấy. Thực ra th́ hoàn toàn không phải như vậy. Nếu ta tổng hợp các đánh giá mà các học giả phương Tây (kể trên đưa ra về nền văn minh Bách Việt) th́ ta sẽ thấy: Chủng tộc Bách việt là thổ dân đă định cư ở vùng Thái Sơn (tức là vùng Hoàng Hà cũng là trung tâm nước Tàu ngày nay) trong nhiều ngàn năm cộng với một nhóm khác từ vùng Pamir tràn xuống vùng Trung Nguyên cũng đă hơn một muôn năm trước (Cụ Lư dùng chữ "Muôn" ở đây có ư nghĩa là hơn vạn năm v́ người Việt miền Bắc nói về con số th́ theo thứ tự lớn dần ngàn [1000], vạn [10000], muôn [100000]). Chủng tộc Bách Việt đă định cư ở vùng Thái Sơn trước loài Hán tộc, ṇi Di rất lâu (bao nhiêu ngàn năm th́ ta chưa được rơ lắm), sau đó cuộc chiến đấu giữa ba ṇi Việt-Hán-Di đă từng xảy ra rất lâu trong thời tiền sử của nhân loại. Khi ṇi Hán diệt ṇi Di th́ cuộc chiến đấu tay ba trở thành tay đôi giữa Việt và Hán, rồi mở đầu cho cuộc thiên di về phương Nam nắng ấm của ṇi Bách Việt.
* - Công cha như núi Thái Sơn.
* - Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Ca Dao.
Hai câu ca dao trên được lưu truyền trong dân gian qua nhiều ngàn năm cho nên, nếu nói lịch sử Việt Nam là 4000 nay 5000 th́ đây là một nhận định sai lầm. V́ cả một thời gian dài hàng chục ngàn năm ấy, các tài liệu cổ ấy đă bị người Tàu đánh cắp và hủy diệt qua nhiều triều đại (điển h́nh là đời nhà Minh) như chúng ta đă biết, đến nay không c̣n tài liệu cổ nào c̣n tồn tại để nói lên tŕnh độ phát triển của ṇi Bách Việt ra sao. Nhưng mới đây, một ngôi mộ cổ vừa được khai quật ở Hoà B́nh (Phú Thọ), đă được các học giả phương Tây dùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất và xác định là ngôi mộ này có niên đại 12000 năm. Dụng cụ đồ đá t́m thấy trong ngôi mộ ấy rất là tinh xảo, có khả năng tạo ra các dụng cụ đồ đá khác. Cho nên, nhận định của học giả Mecham về văn minh Bách Việt hoàn toàn có cơ sở khoa học khi ông ta kết luận là: "10000 năm trước, Bách Việt đă biết dùng bè đi trên biển Đông. C̣n học giả Nicholas Tarling th́ ước lượng khoảng 40000 năm trước, Bách Việt đă biết dùng một h́nh thức bè thô sơ nào đó để đi đến Úc châu”.
Nếu ta so chiếu ngôn ngữ hàng hải th́ ta lại thấy ảnh hưởng của Bách Việt c̣n tràn tới Nam Mỹ, vùng Sumerien, Lưỡng Hà, Ấn Độ Dương nữa. Cho nên nói rằng "lịch sử văn minh Việt tộc (Bách Việt) tiến trước văn minh Hán tộc nhiều ngàn năm” là hoàn toàn có cơ sở khoa học vững chắc. Ấy là ta chỉ nói đến lịch sử Việt tộc trong ṿng 10000 năm trở lại đây mà thôi.
Ta cần ghi nhớ là: 14000 năm trước th́ người Aryan từ vùng Afghanistan mới lần ṃ đi dọc theo vùng Trung Á để từng bước đến lập nghiệp ở vùng Địa Trung Hải rồi từ từ lan sang Âu châu. Khi Hán tộc đang sống trong t́nh trạng du mục bán khai th́ Việt tộc (Bách Việt) đă định canh định cư mà khi có định canh định cư th́ kinh nghiệm, kiến thức mới tích lũy và làm thành một hệ thống được, để từng bước tạo ra trật tự xă hội, h́nh thành văn minh, triết lư, có thái độ sống là "thuận thiên". Xét theo ư niệm cao cả của chữ "Thuận Thiên" th́ xă hội của Việt tộc từ thuở xa xưa đă là một xă hội sống có quy củ, trật tự hài hoà giữa con người với con người và con người với thiên nhiên, lấy việc thờ cúng ông bà tổ tiên làm gốc.
Xă hội Bách Việt tự ngàn xưa đă có một nền triết lư hài ḥa khởi đầu cho việc vợ chồng “phu thê thiên địa chi đại đạo” (trong trời đất đạo vợ chồng là cái đạo lớn nhất), mà đạo vợ chồng là nền tảng để tạo dựng một xă hội vững chắc. Cho nên, những ai nói là Phương Đông (Việt tộc là chính yếu) không có tôn giáo th́ đây là lối nói sai lạc và đầy ác ư! Các tôn giáo sau này phát sinh ở vùng Cận Đông- Lưỡng Hà và ở Ấn Độ cũng chỉ là sự biến thái của lẽ sống Thuận Thiên của Bách Việt, rồi được biến cải thêm nữa để từng bước đặt nền tảng cho chủ nghĩa cá nhân (điều này đă từng được chúng tôi nói đến).
Dân du mục bao giờ cũng hiếu chiến, dă man, tàn ác hơn so với dân nông nghiệp, định canh định cư, nên Hán tộc đă từng bước chiến thắng Việt tộc bằng bạo lực và đẩy Việt tộc ra khỏi Trung Nguyên. Cho nên Việt tộc phải thiên di về phương Nam là vậy. Từ đó, ta có kết luận rơ ràng là:
1) Dân chúng trong vùng Đại Nam Hải (Biển Đông hay vùng Đông Nam Á) rộng lớn đều là người có cùng nguồn gốc Việt tộc (Bách Việt) cả, mặc dù dân chúng có lai một chút ít với các sắc dân khác như: Ấn Độ, châu Phi.
2) Văn minh Hán tộc chẳng có ǵ cả v́ hầu như tất cả đều là của cướp đoạt được từ văn minh Bách Việt mà ra.
3) Kẻ ăn cướp th́ luôn luôn muốn chiếm đoạt để biến các thứ chiếm đoạt ấy thành tài sản riêng của ḿnh, cho nên giới lănh đạo Hán tộc từ xưa tới nay luôn chủ trương tiêu diệt hay đồng hóa các lân bang, đặc biệt là Việt Nam là vậy. V́ Bách Việt c̣n th́ Hán chẳng yên thân.
II) Con Đường Tiến Tới Dân Chủ:
Chúng tôi xin nêu ra mục đầu tiên mà Cụ Lư đă viết trong cuốn Huyết Hoa:
"H́nh thức của văn hóa là sự phản ảnh của đời sống hiện thực xă hội. Nội dung và kết cấu của văn hóa, tự thân nó là tổng nghiệp của toàn thể loài người trong ḍng sống xă hội, lịch sử và thời đại. Lịch sử loài người được chép bằng ng̣i bút của máu diễn tiến, mỗi sử kư lộ ra mỗi đặc chứng văn hóa. Mỗi sử kư kết tạo bằng một kiến trúc sử của xă hội và quan niệm về kinh tế riêng biệt; cái dây nối suốt mỗi diễn tiến của thời đại, đồng thời c̣n là những quy luật dẫn dắt cho sự diễn tiến của thời đại kia là xă hội biện chứng. Xă hội diễn tiến theo một biện chứng có khoa học tính, phát triển, phát triển măi; trong hoài băo của mỗi xă hội thời đại từng dựng dục cái lư tưởng của xă hội và thời đại sau, tức là cái kết cấu hiện thực của xă hội và thời đại sau.
Cách mạng là công cuộc xoay đổi thời đại trên một giai đoạn diễn tiến xoáy trôn ốc có nút đă đến ngày thành thục của một lẽ sống hàm dưỡng trong nút bế tắc, cần yếu có một bạo đột thủ đoạn cởi mở cho dây diễn tiến đi lên; ư nghĩa và tác dụng của cách mạng là tu chỉnh và cải tiến xă hội cho sang được một xă hội hợp lư hơn, hy vọng hơn, được đi vào một con đường hợp quy luật, hợp với nguyên tắc tiến hóa, hợp với tương lai có dự biết trước có một trông ngóng của lư tưởng hàm dưỡng tự sâu xa. Mỗi công cuộc cách mạng sản sinh ra một xuất lộ cho dân tộc, quốc gia và xă hội. Khởi điểm của cách mạng đă dựng dục từ trong bào thai của thời đại cũ, đó là lư tưởng trong một quá tŕnh tự nó tiến triển để cho thành thục, thể hiện thực hoàn toàn và y cứ vào hiện thực mà phát triển tinh thần và nguyên tắc với tự do và sản sinh ra một lực lượng đều hoàn toàn là kết quả của hiện thực, tức là cái xuất lộ của quốc gia dân tộc và xă hội đương nhiên là sự kết hợp của nội tại và ngoại tại mà thành một đường lối với một hiệu quả dự cầu.”
Trên đây chỉ qua một trang ngắn ngủi, những ai muốn nghiên cứu về lịch sử văn minh nhân loại, về lịch sử của giống ṇi chỉ cần mở rộng cái tâm ra, khách quan mà xem xét các diễn tiến (tức là biện chứng) và đặt chúng trong cái toàn cảnh khách quan và chủ quan (tức là đại biện chứng) cũng có thể h́nh thành được một nhăn quan về hiện tại và hướng tiến tới trong tương lai. Nếu ta đặt diễn tiến trong phạm vi một quốc gia th́ đó là tiểu biện chứng, trong phạm vi khu vực là trung biện chứng và toàn cầu là đại biện chứng.
Nhiều người trong chúng ta hay nói rằng: Kết hợp tinh hoa của phương Tây với tinh hoa của dân tộc làm nền tảng cho việc xây dựng lại con người Việt Nam, đất nước và xă hội Việt Nam trong tương lai. Câu nói này hoàn toàn đúng về tổng thể nhưng ứng dụng vào thực tế th́ mọi việc chẳng dễ dàng chút nào v́ thử hỏi tinh hoa phương Tây là ǵ? Phải chăng là La Mă, là Đức quốc, Pháp quốc, Anh quốc hay Hoa kỳ hay Nga? Nếu ta cứ lấy từng cái hay nhất của từng quốc gia ấy kết hợp lại, th́ thực tế là chưa chắc các cái hay ấy tạo thành cái một hay mới mang tính tổng hợp toàn diện. Thực tế đă cho thấy là "các cái hay ấy khi tổng hợp lại (ở đây ta nói về toàn diện cả vật chất lẫn tinh thần) lại thường tạo ra một cái mà h́nh hài chẳng giống cái ǵ cả, v́ cái hay của mỗi dân tộc là sản phẩm tất yếu của một quá tŕnh h́nh thành, đấu tranh, đào thải liên tục và lâu dài để h́nh thành cái đặc trưng của mỗi dân tộc”.
Nếu nói về tinh hoa của dân tộc ta th́ trong chúng ta (các trí thức Việt Nam) đây, liệu có ai hiểu cái hay thực sự của chúng ta là ǵ? Các thế hệ trẻ th́ khi chúng nh́n thấy sự hoành tráng của Rome, sự uy nghi của Kim Tự Tháp, của nhà chọc trời, của Vạn Lư Trường Thành, của Angkor Wat so với hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn của ta th́ chúng sẽ vội vă lên tiếng phản bác ngay là: Ta chẳng có ǵ để mà đáng hănh diện cả. Chúng sẽ nói là cha ông đă lừa phỉnh chúng hay cha ông đă quá lỗi thời, không biết nh́n ra thế giới bên ngoài. Khi tuổi trẻ Việt Nam không tin vào tổ tiên ḿnh mà chỉ biết tôn thờ cái vĩ đại vật chất của người khác th́ sự mất độc lập, tự chủ đă nằm ngay trong tiềm thức của giới trẻ vậy. Khi nh́n vào văn hóa nước nhà trong khoảng 100 trở lại đây th́: Nếu không "Hồn bướm mơ tiên" th́ cũng thơ yêu t́nh tự, không văn chương ngoại quốc th́ cũng cổ học Tây Âu, không dịch những tiểu thuyết lăng mạng hay "Triết Học Trưởng Giả" Tây phương, th́ cũng tướng tán bàn về những vấn đề xa lạ. Nói như thế không có nghĩa là hạ giá văn chương hay cổ học Tây âu, mà chỉ muốn nói rằng: Trước họa diệt chủng của Bắc phương như hiện nay th́ bấy nhiêu đó có làm nên mặt trận văn hóa và tư tưởng chăng? Nếu nền văn hóa của Việt nam chỉ có bấy nhiêu th́ những người không c̣n tin theo Cộng sản nay biết bám víu vào cái ǵ? Đó là lư do để giải thích sự thất bại của chúng ta khi chúng ta chỉ biết đấu tranh bằng chính trị, văn chương, xă hội mà không hề hiểu thế nào là "Triết Lư Chính Trị". Chúng ta không được nhầm lẫn giữa học vấn với văn hóa, văn hóa đích thực phải có lư tưởng và định hướng mới cảm hóa được con người. Nếu bỏ con người để lo cho thể chế và luật lệ th́ đó là duy vật, chứ không phải đi theo Cộng sản mới gọi là duy vật, nên chính trị là một sự ứng dụng, nhưng ứng dụng không có nghĩa là áp dụng nguyên bản từ bên ngoài vào. Cho nên kết hợp cái hay của người với cái hay của ḿnh dễ trở thành lời hô hào suông. Để lời hô hào ấy không phải là lời hô hào suông, ta nhất thiết phải biết:
Đạo học Phương Đông Bách Việt là ǵ ?
Văn minh Tây Phương là ǵ (các mặt chính yếu của văn minh Tây Phương)?
Tại sao thế giới đang bế tắc nên cần có một cuộc cách mạng mới ? Nói đúng hơn là cần một "Chủ Thuyết Mới"
Nhiều học giả Tây Phương khi nghiên cứu về Đông Phương th́ rất lấy làm lạ lùng là: "Tại sao một dân tộc nhỏ bé như Việt Nam lại luôn luôn chiến thắng kẻ thù phương Bắc. Ngay cả khi Việt Nam hùng mạnh, người Việt Nam vẫn không chủ trương đánh chiếm lại Hoa Nam vốn được coi là đất tổ của ḿnh. Trong lănh vực văn hóa, Việt Nam là nước duy nhất biết du nhập chữ Quốc Ngữ dựa trên mẫu tự La Tinh để thay thế cho chữ cổ (nhưng không mất ư và nghĩa) đă tồn tại từ rất lâu đời có xuất xứ từ nền văn hoá Môn - Khmer cổ đại để truyền bá trong dân gian một cách cực kỳ hữu hiệu như vậy”?. V́ thế, họ nghĩ "như vậy cái dân tộc này phải có một cái ǵ đó rất thâm hậu”? Điều này khiến các học giả Phương Tây phải để tâm xem xét ngọn nguồn mới được.
Nhưng hào quang của nền văn minh Tàu mà đường dây buôn bán tơ lụa và hương liệu đă làm chóa mắt các học giả Phương Tây khi họ tiếp xúc với Phương Đông, nên họ chỉ để tâm t́m hiểu về Tàu mà thôi. Đương nhiên họ coi các dân tộc nhỏ chung quanh nước Tàu chỉ là phụ thuộc của trung tâm văn minh Tàu. Vào nửa cuối thế kỷ 19, khi các chế độ thuộc địa hoặc đô hộ hoặc nhượng địa đă được củng cố và đi vào ổn định thông qua các tương nhượng giữa các quốc gia Tây Phương (chủ yếu là Anh và Pháp) với nhau th́ lúc đó giới trí thức Âu châu mới bắt đầu t́m hiểu về nền văn minh Đông Phương có bài bản hơn. Nhưng một lần nữa, ta lại chứng kiến sự đột phá của trường phái triết học Đức (nói chung) trong việc t́m hiểu về Đông Phương chứ không phải là các học giả Anh hay Pháp, trong khi Anh và Pháp vốn được coi là hai nước thực dân chính yếu. Điều này hoàn toàn phù hợp với vị trí của người Đức khi họ bị gạt ra ngoài vũ đài chính trị của Âu châu trong suốt thế kỷ 19 và nửa đầu của thế kỷ 20.
Khi xem xét các luận điểm của Nietzsche, Kierkegaard, Hegel, Marx, ta thấy: Dù cho họ có luận bàn ǵ đi nữa th́ ảnh hưởng của tư tưởng Phương Đông vẫn bàng bạc xuyên suốt trong các suy nghĩ của các vị ấy. Dĩ nhiên các suy nghĩ ấy vẫn lấy tinh thần học thuật Phương Tây làm nền tảng và tŕnh bày theo cách rất Phương Tây, cho nên thật khó có thể thấy được là trong các luận điểm phức tạp ấy, vẫn để lộ ra t́nh trạng tiêu hóa không trọn vẹn về tri thức. Điều này báo hiệu một cuộc khủng hoảng tri thức thực sự đối với Âu châu và báo hiệu một trung tâm văn minh mới sẽ thay thế Âu châu để làm đại diện tiêu biểu cho nền văn minh Phương Tây cách trọn vẹn – đó là Hoa Kỳ. Hoa Kỳ với chủ nghĩa thực dụng, có khả năng tổng hợp các cái hay của nền văn minh Hy-La, thông qua các phát triển mà các quốc gia Âu châu đă từng bước đạt được để Hoa Kỳ làm phong phú thêm các nền tảng của học thuật Phương Tây.
Nhưng sang nửa sau của thế kỷ 20 th́ vấn đề của cội nguồn nền văn minh Phương Đông đă được đặt lại có hệ thống hơn. Vị trí của nền văn minh Bách Việt trong quá tŕnh phát triển của nền văn minh Hán tộc đang được nh́n nhận một cách rơ ràng hơn để qua thế kỷ 21, vị trí của nền văn minh Bách Việt sẽ được từng bước soi rọi, củng cố vững chắc như là nền văn minh trụ cột của quá tŕnh phát triển nhiều nền văn minh khác nhau trên trái đất này, chứ không phải là chỉ với nền văn minh Tàu không thôi. Như thế, chúng ta cần phải dồn nhiều nỗ lực vào việc t́m hiểu tận gốc rễ các giá trị tinh thần mà tổ tiên ta đă khám phá ra trong thời kỳ sâu thẳm của quá khứ khi mà tuyệt đại đa số nhân loại này vẫn c̣n sống dưới dạng du mục hoặc bán du mục.
Loài người từ Đông sang Tây vẫn luôn cố gắng t́m cách giải thích điều không bao giờ giải thích tường tận được đó là: Loài người sinh ra thế nào và rồi sẽ đi về đâu?
Tự ngàn xưa, khi trí tuệ loài người c̣n hạn hẹp th́ điều không thể giải thích được ấy cứ gán cho một đấng sáng tạo siêu nhiên nào đó là đủ (như Chúa Trời, Avatar, .v.v..). Nhưng khi con người đă đạt được một số tiến bộ nào đó liên quan đến khoa học vật chất th́ loài người hiểu rằng: Vũ trụ này quá bao la nên sự giải thích đơn điệu như vừa nêu là không thể chấp nhận được. Nhưng càng tiến bộ, con người càng cảm nhận được rằng: Điều không thể giải thích tường tận ấy vĩnh viễn là điều không thể giải thích tường tận được. Cho nên, trong quá tŕnh phát triển của ḿnh - tức là trong quá tŕnh tiến hóa đầy phức tạp và khó khăn ấy, loài người hiểu được đến đâu về khách quan th́ biết đến đó mà thôi.
Nhưng lẽ sống là lẽ thật. Nếu không có vũ trụ bao la hoạt động liên tục không bao giờ ngưng nghỉ này th́ không có nắng - mưa, nóng - lạnh th́ không có trái đất này. Nếu không có cây cỏ thảo mộc th́ không có muông thú. Nếu không có muông thú th́ không có con người. Cho nên, ít ra đến thời điểm này của lịch sử loài người trên trái đất này th́ con người là cứu cánh và mục tiêu tối hậu mà chính con người phải tự t́m cách phục vụ sao cho lẽ sống thật ấy không ngừng được thăng tiến lên để loài người ngày càng trở nên có tính cách người hơn.
Thực ra, trong điều kiện của khoa học hiện nay, nền văn minh Liên Hành Tinh mới đang trong giai đoạn bước đầu chập chững mà thôi. Nếu trong vài ba trăm năm tới, con người t́m được các nền văn minh khác với loài người (ta tạm gọi là như vậy) ở trên các hành tinh khác th́ sao ? Khi đó nhiều nhận định ngày nay sẽ bị đảo lộn hoàn toàn để loài người trên trái đấy này biết cách thích nghi với loài người trên các hành tinh khác. Như thế, trong cái cơi uyên nguyên của vũ trụ sự hiểu biết của con người hiện nay vô cùng hạn hẹp. Cho nên, các sự giải thích về khách quan (cái vô cùng lớn và cái vô cùng nhỏ) đều chỉ đánh dấu từng bước phát triển của loài người về mặt tri thức mà thôi, không có ǵ là măi măi đúng mà cũng chẳng có ǵ là măi măi sai. Cho nên, loài người phải biết chấp nhận tiến hóa, chấp nhận những cuộc cách mạng liên tục về mặt nhận thức là vậy.
Một con người cụ thể, một cộng đồng cụ thể, khi giải quyết một vấn nạn nào đó thường chủ quan, cho rằng đó là quyết định hoàn toàn đúng (ở đây ta nói về tôn giáo là chính), nhưng ta nào đâu biết rằng: Ngoài các dữ kiện cụ thể mà ta dựa vào đó để đi đến quyết định và hành động th́ con người vẫn bị chi phối bởi luật vô thường của vũ trụ. Ta không thể đi ngược cái luật vô thường của vũ trụ được. Để tồn tại và tiến hóa, ta phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt cái luật vô thường này, không có một biệt lệ nào cả.
Nhưng trớ trêu thay, cái luật vô thường này lại không thể chỉ giải thích bằng quy luật của khoa học khách quan được (khoa học vật lư) mà cũng chẳng thể giải thích được bằng cách xé lẻ cái quá tŕnh suy tư của trí tuệ được. Nếu tách chúng ra (vật chất và tinh thần) hoặc xé lẻ ra để xem xét một đoạn ngắn ngủi nào đó trong quá tŕnh suy tư của ḿnh th́ luật vô thường mà ta vừa nói, sẽ không c̣n trong một thể thống nhất nữa. Khi đó, ta sẽ dễ dàng đi vào lầm lạc. V́ các lầm lạc này mà loài người đă phải trả bằng biết bao máu xương và khổ ải. Quá tŕnh sống của loài người quả là một quá tŕnh dài trong việc tự hoàn thiện lấy ḿnh là vậy. Như thế, việc tách rời vật chất với tinh thần ra để nghiên cứu cho mục đích tiến hóa chỉ có tác dụng tích cực đối với loài người khi loài người ư thức được luật vô thường mà thôi. Thiên về mặt này hoặc mặt kia th́ luật vô thường không c̣n được tôn trọng nữa, lúc đó mất quân b́nh xảy ra và xă hội sẽ loạn lạc.
Cho nên, vũ trụ là thống nhất, hoạt động theo một quy luật mà loài người không thể can thiệp hoàn toàn vào được và măi măi nó cứ hoạt động như vậy và tác động sâu rộng trong quá tŕnh tiến hóa của loài người. Nói ǵ đi chăng nữa th́ cũng chỉ có một vũ trụ này mà thôi (c̣n vũ trụ lớn ra sao, tự thân vũ trụ tiến hóa như thế nào là một vấn đề khác, loài người hiểu đến đâu th́ biết đến đó là vậy). Cho nên, Cụ Lư Đông A khi phát biểu về vũ trụ quan, th́ Cụ mới nói đến Duy Nhiên là vậy (cần so sánh Nhất Nguyên với Duy Nhiên trong phần về triết học Tây Phương).
Thế con người th́ sao? Ngày nay, ta thấy con người có khác nhau về màu da, ngôn ngữ, tập quán, v.v..Nhưng từ ngàn xưa th́ con người ra sao? Xin thưa: Ta chưa hiểu được! Sọ của con người Homo Erectus mà các nhà khảo cổ t́m thấy ở Châu Phi chưa quá 2 triệu năm. Khám phá này không giải thích được tại sao lại có người da trắng, da vàng, da đen. Con người ngày nay có các tiến bộ vượt bực so với 100 năm năm trước nhưng hiện nay loài người vẫn chưa thể t́m hiểu thấu suốt xem các dăy DNA trong các gene di truyền đă thay đổi thế nào trong việc thích nghi với môi trường khách quan chung quanh để từng bước biến đổi thành da đen, da vàng, da trắng. Khi không thể giải thích tường tận được, chúng ta đă vội vă đi đến kết luận (dựa vào một số tiến bộ mà quốc gia nào đó đă đạt được) là "kẻ này không phải là người văn minh, kẻ khác chưa phải là người "thượng đẳng” mà chỉ dân tộc ta mới đích thực có văn minh mà thôi". Kết luận vậy là hoàn toàn sai! Thế rồi tôn giáo cũng làm cho con người chia rẽ sâu xa thêm nữa về những niềm tin do con người đặt ra, về cách thức thờ phượng đối với các sản phẩm tinh thần liên quan các vấn đề siêu linh ở một "cơi khác", trớ trêu thay con người đang sống ở xă hội loài người (cơi người), nhưng không nghĩ cách phục vụ cho cơi người, mà lại phục vụ cho cái cơi không phải ở cơi người (cơi siêu h́nh khác cơi người?. Nhưng chính các tôn giáo lại không thể giải thích được cơi khác đó ra sao và ở đâu?)
Ít ra cho đến thời điểm này
của lịch sử nhân loại, cho đến khi “giả định” là
con người sẽ có dịp tiếp xúc với loài người khác ở các hành tinh khác, th́ trên
trái