|
|
Ngừoi Quốc Gia là những người đặt tổ quốc lên bản vị tối cao Tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v.. Trích VN Tự Điển của Đào Duy Anh |
|
Nationalist Vietnamese Forum |
Khái Niệm Về Nền Nhân Chủ Pháp Trị
Nhiều thủ đô trên thế giới đang bị chấn động về bản đề cương chính trị của đảng Cộng Ḥa Hoa Kỳ liên quan đến chính sách quốc tế, nhiều học giả trên thế giới về mọi lănh vực (lịch sử, bang giao quốc tế, chính trị, luật pháp, v.v.v.) sẽ phải tập trung nhiều nỗ lực vào việc t́m hiểu các hệ lụy của bản đề cương ấy, đối với thế giới không phải chỉ trong 4 năm trước mắt, mà thực tế có thể kéo dài trong suốt thế kỷ này và có thể liên hệ đến nhiều thế kỷ sau nữa.
“Do đâu một quốc gia như Hoa Kỳ vốn được coi là trọng pháp luật nhất trên thế giới hiện đại lại có thể tự ḿnh minh thị, xác định vai tṛ lănh đạo duy nhất không thể thay thế được của ḿnh đối với thế giới rằng: Đối với các định chế, các tổ chức quốc tế chỉ có thể đóng vai tṛ cổ vũ ḥa b́nh và rằng quyền lănh đạo ấy là không thể phủ quyết”
Đề cương của đảng Cộng Ḥa đặt ra ngay lập tức một loạt các câu hỏi có tính cách nền tảng được đưa ra:
1). Đề cương ấy chỉ phản ảnh các quan điểm riêng của đảng Cộng Ḥa không thôi, hay bản đề cương ấy chính là một h́nh thức nào đó của bản tuyên ngôn chính trị nước Mỹ gởi đến cho toàn thể nhân loại trên trái đấy này ? Cho dù nh́n theo cách nào đi nữa, dù dưới nhăn quan đảng Cộng Ḥa hay cả nước Mỹ, th́ các khái niệm nêu lên trong bản đề cương này cũng có thể được coi như một bước tiến mới, một sự mở rộng mang tính tổng hợp đối với bản tuyên ngôn độc lập 1776 của Hoa Kỳ.
2). Nếu bản đề cương này được dân Mỹ chấp thuận (mà trong t́nh h́nh hiện nay th́ dân Mỹ chấp thuận là chắc chắn, nghĩa là đảng Cộng Ḥa sẽ thắng phiếu trong cuộc bầu cử tới đây), th́ câu hỏi kế tiếp là:
a). Hoa Kỳ căn cứ vào đâu hay dựa vào một chủ thuyết nào làm nền tảng để tự ḿnh minh thị, xác định quyền lănh đạo của Hoa Kỳ đối với thế giới ?
b). Vai tṛ của các tổ chức quốc tế mà cao nhất là Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, cũng như vai tṛ của các chính phủ khác sẽ như thế nào trong một thế giới đơn cực như vậy ?
c). Hiển nhiên là nhiều quốc gia, nhất là những quốc gia đang nghĩ ḿnh có tầm ảnh hưởng trong những vùng nào đó của thế giới (thí dụ Tàu, Nga, Iran, Pháp, v.v.v.), họ có thể chấp nhận quyền lănh đạo ấy hay không ? Nếu không họ sẽ phản ứng quyết liệt và điều đó có thể dẫn đến một cuộc chiến toàn cầu là điều chắc chắn không thể tránh khỏi ?
Để trả lời những câu hỏi này, trước tiên chúng ta hăy bàn sơ qua vài vấn đề cốt lơi:
I). Khái Niệm Về Vũ Trụ Quan:
A. Con Người Và Vũ Trụ:
Loài người dù là Homo Sapien th́ vẫn mang tính “bầy”. Điều đó có nghĩa là cái quyền dẫn dắt cả bầy tùy thuộc vào một nhóm nhỏ được coi là có sức mạnh nhất, có khả năng dẫn dắt cả bầy đi đúng hướng nhằm đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của cả bầy. Đối với các bầy thú th́ con vật to nhất và khỏe nhất sẽ là con vật đầu đàn. Những con già yếu sẽ bị bỏ lại đằng sau theo đúng định luật đào thải tự nhiên. Nếu ta quan sát kỹ ngay trong một bầy thú hoang dă th́ sẽ thấy: Ít ra trong một bầy, các con thú đều giống nhau, nhưng chúng không bằng nhau v́ có sức mạnh khác nhau, có thứ tự trên dưới rơ rệt.
Bây giờ ta hăy mở rộng các khái niệm vừa nêu trên căn bản nhiều bầy khác nhau. Muông thú có “tính khôn” của muông thú. Cái tính khôn ấy thuộc về bản năng, tức là sự thúc đẩy của các gene từ tầng thấp lên cao. Điều này được nh́n thấy trên căn bản một bầy đặc thù hay nhiều bầy khác nhau (từ gene trẻ đến gene già), trong mối tương quan sinh tồn trong một khung cảnh thiên nhiên đặc thù nào đó (thí dụ châu Phi chăng hạn). Muốn tồn tại, chúng phải tự thích nghi với bối cảnh thiên nhiên cũng như với các loài thú mạnh hơn chúng ở chung quanh. Nếu không thích nghi được chúng sẽ bị đào thải và hủy diệt. Thí dụ rơ nhất là sự tận diệt của loài khủng long và sự biến đổi mầu sắc của loài tắc kè để tránh bị tấn công.
Loài người tự bản chất cũng không đi ra ngoài quy luật này (tức là có tính chất bầy). Nhưng loài người là một sinh vật có lư trí, có trí tuệ và đứng đầu trong mọi sinh vật (nhân linh ư vạn vật). V́ có trí tuệ, loài người biết tự thích nghi với bối cảnh khách quan bên ngoài nhưng lại biết thu thập, tích lũy và hệ thống hóa các kinh nghiệm thu thập được. Từ đó mở rộng trí tuệ để nh́n về tương lai với một tầm nh́n ngày càng chuẩn xác. Nhưng không phải tự nhiên loài người đạt được những tiến bộ ấy và không phải là tất cả mọi người đều đồng loạt nh́n thấy tương lai ấy như nhau. Cho nên giữa loài người với nhau; sự đấu tranh không ngừng giữa các khuynh hướng khác biệt là tất yếu và luôn luôn xảy ra.
Để t́m hiểu vấn đề “loài người” một cách có hệ thống hơn, ta cần làm sáng tỏ đôi điều liên quan đến quá tŕnh phát triển của nhân loại và các mối liên hệ tiềm ẩn giữa các quá tŕnh ấy với sự thay đổi của bối cảnh thiên nhiên mà loài người sinh sống.
Con người Home Sapien sống cách nay 2 triệu năm đă được t́m thấy ở Phi Châu trước đây không lâu. Trong 2 triệu năm ấy nhân loại đă tiến những bước dài về chất lượng cũng như số lượng. Đến bây giờ chưa một chứng minh khoa học nào có thể xác định được là con người được tác thành do đâu, ngoài sự giải thích mang tính chất tôn giáo liên quan đến tính toàn năng được gọi là Đức Chúa Trời theo quan niệm phương Tây (tạm gọi là như vậy) hay Ông Trời theo phương Đông. Nhưng khoa học không hề xác định được là trong 2 triệu năm ấy đă có bao nhiêu nền văn minh (giống như nền văn minh mà nhân loại đang đạt được như ngày hôm nay) đă h́nh thành và biến mất đi theo một chu kỳ lâu dài và rồi một nền văn minh khác lại được dựng lên. Nếu đă có những chu kỳ như vậy th́ các chứng tích phải tồn tại và các cuộc khai quật sẽ đem lại những câu trả lời thoả đáng. Các chứng tích cổ xưa nhất, tức là thời kỳ đồ đá cũ mà khoa học khám phá ra cũng chưa quá 20,000 năm và ngay cả các hang động đă được khám phá mới đây ở vùng miền Nam nước Pháp thuộc vùng Địa Trung Hải cũng chỉ sấp xỉ 60,000 năm mà thôi.
Như thế, ta có thể nói nền văn minh hiện nay của nhân loại là nền văn minh duy nhất trên trái đất này. Nó là kết quả của cả nhân loại chứ chẳng phải của riêng một dân tộc nào. Cái khác nhau mà ta phải thừa nhận là mỗi thời đại phát triển (thời đại ở đây có thể kéo dài hàng nhiều ngàn năm) của con người luôn có thế “Chủ” của thời đại ấy. Cái thế “Chủ” này là lực lượng tiền phong để kéo các nhóm khác cùng tiến lên (tự tiến, giúp tiến, để cùng tiến).
B. Con Người Và Trái Đất:
Khoa học không thể chứng minh rơ ràng được là: Có bao nhiêu loại người xuất hiện ở châu Phi cách nay khoảng 2 triệu năm và bằng cách nào con người nguyên thủy ấy tiến đến Á châu, Trung đông, Úc châu, Châu Đại Dương và Âu châu ? Liệu vào thời kỳ xa xưa ấy h́nh dáng trái đất như thế nào ? Lục địa Phi châu và Á châu có dính liền với nhau hay không để con người nguyên thủy tràn lan khắp Á châu mà lại không phát triển mạnh ở Phi châu ? Cho dù thuyết trôi dạt lục địa đă được đưa ra để giải thích quá tŕnh thay đổi của trái đất này. Nhưng có một điều mà ta phải nh́n nhận hoàn toàn chính xác là: “Trái đất này đang ở gần cuối chu kỳ lạnh-nóng và mỗi giai đoạn của chu kỳ này ứng với mỗi thời kỳ phát triển của xă hội loài người”.
Ở đây ta không đặt vấn đề là con người nguyên thủy được cấu tạo như thế nào. Cho tới nay, nó vẫn c̣n là một bí ẩn và có thể măi măi về sau vẫn là một bí ẩn. Nhưng ta cần quan sát và t́m hiểu trái đất này, vũ trụ này. Hàng triệu, hàng triệu năm đă qua đi và hàng triệu hàng triệu năm sắp tới trong quá tŕnh sinh-diệt của vũ trụ vẫn liên tục tiếp diễn. Quá tŕnh này tuân thủ theo một quy luật mà loài người chưa thể t́m hiểu thấu đáo nổi. “Khoa học t́m hiểu tới đâu th́ con người biết đến đó”. Không có ǵ được coi là tuyệt đối, vĩnh cửu, cho dù cái đó là vật chất hay tinh thần. Tất cả chỉ là tương đối. Minh chứng cho điều này thật dễ dàng: Cách nay 30 năm giới khoa học đưa ra lư thuyết về lỗ đen (black hole) theo đó các khối vân tinh khổng lồ (có thể lớn hơn trái đất hàng tỷ lần) bị thu hút vào lỗ đen này rồi bị ép lại và biến mất. Điều này được chấp nhận một cách dễ dàng bởi nhiều nhà khoa học gia hàng đầu trên thế giới, mặc dù nó có vẻ trái ngược với thuyết bảo tồn năng lượng, theo đó vật chất nói chung biến đổi từ dạng này sang dạng khác, nhưng chúng vẫn tồn tại trong một dạng mới và dạng mới ấy tiếp tục xúc tác với vật chất khác để h́nh thành một cái khác nữa. Quá tŕnh xúc tác ấy tuy tiềm ẩn nhưng kết quả là đóng góp vào việc làm thay đổi một cách tiệm tiến, hoặc mau chóng các cấu trúc của vũ trụ. Lư thuyết về lỗ đen nay được chính tác giả là tiến sĩ vật lư Stephen Hawking phủ nhận khi mới đây ông ta tuyên bố rằng “thực ra vật chất ấy đă không biến mất mà phát sinh ra cái mới”.
Áp dụng nhận định này vào việc quan sát mối liên hệ giữa trái đất với con người sinh sống trên trái đất, sẽ đem lại cho chúng ta nhiều nhận định bổ ích về quá tŕnh sinh-diệt của nền văn minh này “trên trái đất”. Ta nói “trên trái đấy” này bởi v́ có thể có nhiều sự sống trên các hành tinh khác trong vũ trụ này. Nhưng một khi các khoa học gia t́m ra sự sống khác trên một hành tinh khác, th́ những lập luận trước đây về Vũ Trụ Quan phải thay đổi, như vậy Chính Trị Quan, Nhân Sinh Quan cũng phải thay đổi theo. V́ cả 3 quan niệm trên tuy khác nhau, nhưng lại hổ tương với nhau, nếu một trong 3 thay đổi th́ cả hai cũng phải thay đổi để tồn tại hay đáp ứng để từ đó nhân loại có thể nh́n thấy con đường c̣n lại phải đi và phải đi như thế nào, để các thành quả mà con người đă đạt được có thể được bảo toàn và phát triển trên một quy mô rộng lớn hơn hẳn so với các vấn đề hạn hẹp của trái đất này. Chúng tôi muốn nói đến “Nền Văn Minh Liên Hành Tinh” mà loài người chỉ mới trong giai đoạn sơ khai mà thôi.
Để hiểu các đe dọa ở phía trước đối với toàn nhân loại, ta cần bàn về quá tŕnh Lạnh và Nóng đang chi phối suy nghĩ của nhiều nhà học giả, khoa học gia trên thế giới.
Khi trái đất ở vào thời đại băng hà, toàn bộ bề mặt trái đất bị bao phủ bởi băng giá th́ sự sống khó tồn tại, trừ một số vi bào (vi sinh vật) nào đó có thể thích nghi với điều kiện khí hậu khắc nghiệt ấy mà thôi. Sức nóng của mặt trời cũng chỉ hâm nóng ở các vùng đất xích đạo. Cho nên lập luận cho rằng loài người xuất hiện ở vùng châu Phi xích đạo trước tiên là có thể chấp nhận được, v́ lúc đó vùng xích đạo băng qua Đông Nam Á chỉ là các ốc đảo cô lập nhau. Trong khi đó vùng xích đạo Nam Mỹ bị hai đại dương mênh mông che khuất, nên con người nếu thực có xuất hiện ở đấy th́ cũng khó có thể tồn tại được. Cho nên sự nhận định của các nhà khoa học khảo cổ là “nền văn minh nông nghiệp xuất hiện đầu tiên ở Đông Nam Á lục địa là hoàn toàn chính xác”. Chính nền văn minh này đă lan tràn khắp thế giới để h́nh thành các làn sóng văn minh kế tiếp (nói theo học giả Alvin Toffler qua cuốn sách The Third Wave). Đó là làn sóng văn minh công nghiệp và trí tuệ như ta đang thấy.
Các tiến bộ mà con người đạt được đă đóng góp giúp vào việc làm thăng tiến loài người về phẩm cũng như lượng, với một tốc độ ngày càng nhanh hơn và cũng từng bước kết hợp loài người lại trên một quy mô lớn. Mặc dù vậy, ta cần ghi nhận là: Không phải là tất cả các cộng đồng (hiểu theo nghĩa chủng tộc trong khuôn khổ quốc gia hay tôn giáo) đều tiến bộ như nhau về mặt trí tuệ, để có thể nh́n thấy hướng đi chung và chấp nhận hướng đi ấy một cách triệt để. Thay vào đó, các thế lực chậm tiến về mặt trí tuệ luôn phản ứng, nhằm bảo toàn cái giá trị mà cộng đồng ấy tự coi là tuyệt đối đúng và không thể đổi thay.
Tiến bộ ta đang nói ở đây mang một khái niệm rất sâu rộng và luôn tương tác với nhau, để thúc đẩy xă hội tiến tới phía trước với một tầm nh́n ngày càng rộng mở hơn. Nó giống như các lớp sóng; sóng sau đè sóng trước vậy (thí dụ về tôn giáo, khoa học tự nhiên, khoa học xă hội, khoa học nhân văn, v.v.v.). Cho nên chiến tranh luôn xảy ra giữa con người với nhau. Nhưng khác với muông thú; tranh giành giữa muông thú là để sinh tồn theo bản năng, xác định chổ ở của chúng trên vùng đất mà chúng có thể kiếm mồi được; chiến tranh giữa con người là: “Để xác định cái mới trên cái cũ, xác định cái suy nghĩ của tôi cao hơn với cái tư tưởng của anh”. Như thế, nói chung đấu tranh hay chiến tranh giữa con người thuộc về Trí Tuệ, bản chất “tranh giành ” của muông thú th́ thuộc về Bản Năng sinh tồn. Chiến tranh vừa mang tính tích cực, v́ cực độ của chiến tranh là thánh thiện (theo nghĩa rộng), nhưng nó cũng để lại những tàn phá kinh khủng (theo nghĩa hẹp). Nói “Chiến tranh mang tính tích cực” th́ cũng dễ hiểu thôi v́: Nếu không có cạnh tranh, loài người không thể tiến được.
Không ai hiểu ở vườn địa đàng theo truyền thuyết trong Kinh Thánh chỉ có ông Adam và bà Eva không thôi, hay c̣n có nhiều ông Adam và bà Eva khác trong cái vườn địa đàng rộng lớn ở châu Phi ấy. Nhưng có một điều là Jean Jacque Servan Shreiber và một số nhà nghiên cứu dân số đă đưa ra một ước tính: Vào thời kỳ Chúa Giê-Su sinh ra th́ nhân loại này chỉ có vỏn vẹn chừng hơn 100 triệu người và có nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Ngày nay dân số toàn cầu đă đạt tới hơn 6 tỷ. Theo ước tính, chỉ trong ṿng 50 năm tới, nếu nhân loại không được cải tổ tận gốc rễ th́ dân số sẽ lên tới 11 tỷ. Điều ǵ sẽ xảy ra nếu vào cuối thế kỷ này nhân loại đạt tới con số 15 tỷ ? Khi đó việc mất quân b́nh về mọi phương diện như lương thực, nguồn nước, năng lượng, chỗ ở, tàn phá môi sinh, v.v.v. thật là dễ sợ! Điều này sẽ dẫn tới sự sụp đổ không thể tránh được của nền văn minh hiện nay trên trái đất.
Như thế mối lo âu của nhân loại là hoàn toàn có thực và quan trọng hơn hẳn so với các vấn đề liên quan đến chủng tộc này, tôn giáo kia. V́ một khi nền văn minh này bị hủy diệt bởi chính loài người th́ chẳng c̣n tôn giáo nào, chủng tộc nào, quốc gia nào c̣n tồn tại. Một vấn đề khác cũng đe dọa trái đất này là các khối thiên thạch khổng lồ cũng có thể va chạm vào trái đất và ngay tức khắc làm trái đất đổi trục hay tạo ra những đám mây bụi khổng lồ bao trùm bầu trời, che khuất ánh mặt trời. Việc này đưa trái đất quay về chu kỳ lạnh, băng giá sẽ lại bao phủ toàn cầu và sự sống lại biến mất. Phải chờ hàng trăm triệu năm nữa mới hy vọng có một ông Adam và bà Eva mới xuất hiện.
Phải cứu lấy trái đấy này, phải cứu lấy nhân loại này trước khi quá trễ! Đó là một đ̣i hỏi cấp bách đối với loài người hiện nay.
Vấn đề đối với loài người bây giờ không phải là “anh lănh đạo tôi hay tôi lănh đạo anh” mà là “cả anh và tôi đang đối diện với cái chết toàn diện”. Khi chu kỳ nóng của trái đất đang đi vào chu kỳ cuối. Trước các thách đố đó, các vĩ nhân cũng đành bó tay chứ đừng nói đến các giáo sĩ Hồi giáo thiển cận, chỉ luôn luôn cổ vơ cho “thánh chiến”.
Trái đất này là chung của nhân loại chứ không phải của riêng ai. Vũ trụ này th́ chưa hẳn là của loài người, v́ biết đâu trong cơi sâu thẳm của vũ trụ bao la kia c̣n có loài người khác th́ sao ? Nếu có th́ rồi ra liệu có thể phát sinh ra các cuộc đụng độ giữa loài người trên trái đất này với các loài người ở các hành tinh khác không hay đến lúc đó cả hai hay nhiều loài người sẽ “Cùng Vũ Trụ Ḥa” (Ḥa với vũ trụ) ? Câu hỏi ấy chưa thể giải đáp được ít ra trong điều kiện của khoa học hiện nay. Nhưng 500 năm tới th́ sao ? Ai có thể biết được!
Phần tŕnh bày ngắn gọn vừa nêu ra tuy không đặt ra một cách toàn diện về vũ trụ quan, nhưng ít ra nó cũng nêu ra một vấn đề có tính cách cốt lơi nhất liên quan đến vận mệnh của con người, mà trong điều kiện khoa học ngày càng tiến bộ với một tốc lực nhanh chóng về phiá trước th́ những cá nhân, những dân tộc hay quốc gia nào không theo kịp với đà thay đổi ấy sẽ bị bỏ lại đằng sau. Nhưng trớ trêu thay, thế giới không bị hủy diệt bởi “lực tiến nhanh về phía trước” mà lại dễ dàng bị hủy diệt bởi “các lực chậm tiến ở phiá sau”. Cho nên: “Cứu các lực chận tiến lạc hậu về trí tuệ ở phiá sau này là một sứ mệnh cao cả mà lực tiến nhanh về phía trước phải nhận lấy trách nhiệm”, để nếu không thể cứu được nền văn minh này một cách toàn diện, th́ ít ra cũng có thể tŕ hoăn việc tan ră tất yếu của nền văn minh này đang đến gần kề, trong khi chờ đợi một giải pháp thoả đáng mà khoa học với những tiến bộ nhanh chóng, có thể đem lại một cơ hội sống sót cho nền văn minh này vào một thời điểm nào đó trong tương lai.
II) Nhận Định Về Chính Trị Quan:
Lịch sử nhân loại phải chăng chỉ là lịch sử của chiến tranh, của các xung đột văn hóa, chủng tộc, các phát triển khoa học hay các cuộc di dân ? Tất cả các h́nh thức chiến tranh hay xung đột mà nhân loại đă từng chứng kiến, thực ra chưa nói lên cho được các mục tiêu mà nhân loại này muốn nhắm tới: Đó là sự hợp nhất. Quá tŕnh hợp nhất thực ra cũng nhiều đắng, lắm cay (từ công xă nguyên thủy tiến lên xă hội hiện đại ngày nay). Quy luật đào thải xảy ra liên tục giữa hai khuynh hướng:
1). Cái mới đối với cái cũ
2). Giữa tiến bộ với các lỗi thời lạc hậu
Cái mới tuy thắng thế nhưng cái cũ không phải chỉ trong một sớm một chiều mà biến mất ngay đi được. Về phương diện vật chất, quá tŕnh đào thải xảy ra dứt khoát hơn nhiều so với các vấn đề thuộc phạm vi tinh thần. Điều này dễ hiểu v́ vật chất là những sản phẩm cụ thể có mục đích phục vụ cuộc sống con người. Vật chất tự nó không mang trong ḿnh tính chất đấu tranh tích cực có khả năng đe dọa niềm tin tinh thần. Mặc dù vật chất cũng có những tác động nhất định đến tinh thần, nhưng các ảnh hưởng này dễ chấp nhận bởi chúng được coi như là các phản ứng phụ mà thôi.
Như thế quá tŕnh đấu tranh về phương diện tinh thần mới là vấn đề nền tảng của các mâu thuẫn trong quá tŕnh hợp nhất đầy cam go mà xă hội loài người phải đối diện. Những cuộc đấu tranh về phương diện tinh thần, giữa cái mới đối với cái cũ luôn xảy ra trên một diện rộng, về thời gian cũng như về quy mô, nên không một thế lực mới xuất hiện nào có đủ khả năng giải quyết rốt ráo. Thường th́ các thế lực mới sau khi chiến thắng (ta tạm gọi như vậy) đều t́m những phương cách khác nhau nhằm đồng hoá cái cũ với cái mới thông qua bạo lực, để h́nh thành một hỗn hợp phức tạp “Cũ-Mới”. Nhưng khi “sức chủ” của cái mới tiến về phía trước, nó tạo ra một khoảng cách nhất định giữa đà tiến tới của cái mới so với cái cũ và ngày càng mở rộng thêm măi ra và mâu thuẫn ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn.
Ta có thể chiêm nghiệm việc này một cách rơ ràng khi so sánh các nền văn minh Ai Cập - Hy Lạp - La Mă. Trong quá tŕnh chuyển hóa ấy của cả ba trung tâm văn minh này xuất hiện trước sau khoảng 3000 năm trước Chúa Giê-Su. Cách biệt giữa ba trung tâm văn minh này không nhiều lắm. Nhưng khi La Mă bắt đầu suy tàn vào khoảng thế kỷ thứ 6 sau công nguyên, để Thần Quyền La Mă từng bước thay thế Thế Quyền th́ không đầy 7 thế kỷ sau đó, cách biệt giữa La Mă Thần Quyền đối với các trung tâm văn minh Hy Lạp và Ai Cập đă mở rộng thêm. Nhưng cả La Mă Thần Quyền-Thế Quyền và Hy Lạp - Ai Cập đều không tạo ra nhiều các biệt, cho đến khi con người hiểu rằng trái đất này không phải là mặt phẳng mà là h́nh khối tṛn bầu dục. Chính cách tân này cùng với nhiều khám phá khác đă từng bước phủ nhận vai tṛ trung tâm của La Mă Thần Quyền (Vatican hiện nay), để mở đầu cho cao trào phản kháng (Protestantism) về nhiều khía cạnh khác nhau của Thiên Chúa Giáo La Mă.
Tuy rằng người Đức mở đầu cao trào phản kháng này, nhưng cách thức mà người Anh ứng dụng vào thực tế lại tạo ra một khuôn mẫu mới mang tính rất đặc thù Anglo-Saxon. Theo đó, thế quyền và thần quyền đồng ư hợp tác trên căn bản mới. Tức là phân chia trách nhiệm đối với xă hội. Đây là một tiến bộ vượt xa so với Hy Lạp - La Mă trước đó, khi Thế quyền và Thần quyền luôn đấu tranh để chiếm vai tṛ độc tôn để trở thành lực chủ đạo. Chính trong bối cảnh này, hướng chủ đạo theo kiểu Anglo-Saxon đă trở thành hướng đi chính của xă hội loài người, để từng bước một h́nh thành trật tự Anh quốc như ta đă thấy (Pax Britannica). Các quốc gia Âu châu khác v́ chưa chấp nhận chiều hướng mới nên vẫn đắm ch́m trong mô thức cũ, nên từ từ bị bỏ rơi lại phía sau với cách biệt tuy không nhiều (v́ quy mô hẹp của lục địa Âu châu). Thí dụ rơ ràng nhất là là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.
Tiến bộ về vật chất dẫn đến thay đổi nhận thức và ngược lại thay đổi về nhận thức sẽ tạo ra một loạt các thay đổi về cơ cấu, để tiến bộ vật chất lại được nâng cao lên với một vận tốc ngày càng nhanh hơn. Đó là những ǵ mà ta đă chứng kiến và sẽ tiếp tục chứng kiến măi măi sau này. Cho nên cao trào dân chủ xuất phát vào cuối thế kỷ thứ 18 ở Pháp bởi Denis Diderot và Jean Jacques Rousseau lại là niềm hưng phấn để h́nh thành cuộc cách mạng 1789 tại Pháp. Nhưng lại một lần nữa, ta chứng kiến lịch sử được lập lại: Chỉ những quốc gia ở xa vũng lầy của lịch sử mới có cơ hội làm nên cái mới. Cái mới ấy chính là Hoa Kỳ.
Lư thuyết về dân chủ được đề xuất bởi Denis Diderot và Jean Jacques Rousseau không có cơ hội lớn lên ở Âu châu hay Anh quốc v́ tham vọng của một số quốc gia Âu Châu, họ coi lư thuyết dân chủ như là chiêu bài để hưởng lợi, đến nay lư tưởng dân chủ cũng chỉ là một món hàng để họ trao đổi. Cho nên “Lư Tưởng Dân Chủ” cần một mảnh đất mới ph́ nhiêu, tươi tốt để nẩy mầm và lớn mạnh, nơi đó các câu thúc cổ không c̣n chỗ đứng và được vun xới bởi những con người có trí tuệ siêu quần, với một quyết tâm cao độ quyết làm và dám chết cho lư tưởng. Đó chính là Tân Thế Giới với những con người có tầm nh́n vượt thời đại như: George Washington, Thomas Jefferson, như Abraham Lincoln, v.v.v. để tạo ra một hướng đi mới cho nhân loại.
So với Anh Quốc th́ nước Mỹ ngay khi h́nh thành đă vượt xa Anh Quốc về mặt tinh thần, để rồi từ đó Hoa Kỳ ngày càng vượt xa Âu châu và phần c̣n lại của thế giới về cả tinh thần lẫn vật chất. Cho nên khi so sánh các nước tiêu biểu cho Âu châu ngày nay như Đức, Ư, Pháp, Tây Ban Nha, Bỉ với nước Mỹ th́ ta thấy chính quyền và dân chúng các nước Âu châu vẫn c̣n có cái nh́n cách đây cả trăm năm “cái nh́n cổ điển của những người thực dân da trắng”. Âu châu cổ ngày nay trở nên hẹp ḥi và ích kỷ. Giới cầm quyền và dân chúng của các nước Âu Châu ngày nay chỉ lo hưởng thụ cho chính họ và không cần biết người khác sống ra sao (mùa hè năm 2003, riêng nước Pháp cái nóng đă giết chết trên 11 ngàn người – 11.000 người - , điều này là bằng chứng cụ thể nhất đă nói lên sự vô trách nhiệm của chính phủ Pháp đối với dân chúng họ và chính giữa người Pháp với nhau). Họ cũng không cần quan tâm đến các nước độc tài, đảng trị, áp bức người dân, chà đạp nhân phẩm con người, coi thường tự do, dân chủ ra sao.
Chính phủ các nước Âu châu đă quên rằng: Trong Đệ Nhị Thế Chiến họ đă sống đau khổ dưới gót dầy thô bạo của Đức Quốc Xă và người Mỹ phải hy sinh bao nhiêu xương máu cho cuộc chiến giúp họ đánh bại Phát Xít Đức, dành lại tự do, độc lập và giúp họ xây dựng lại đất nước, để họ có một đời sống ấm no tốt đẹp như ngày nay. Hiện nay dân chúng các nước Âu Châu đang hưởng những thành quả đó (tự do, dân chủ), có phải do công lao của chính họ hay do cả mồ hôi xương máu của nhân dân Mỹ đă giúp họ ? Nhưng nay họ lại không muốn chia xẻ, hay tạo điều kiện giúp đỡ dân chúng các nước khác có điều kiện vùng lên tranh đấu, để được các quyền tự do căn bản như dân của các nước Âu châu đang có. Thật đúng là Tâm địa hẹp ḥi và ích kỷ! Tệ hại hơn nữa, chính phủ các nước Âu Châu này c̣n giúp đỡ, cấu kết với các chính phủ độc tài (qua h́nh thức viện trợ, cho vay, buôn bán hay yểm trợ ngoại giao) để giới cầm quyền các nước thiếu tự do này có thêm điều kiện áp đặt sự cai trị độc tài, sắt máu trên dân chúng.
Trong Đệ Nhị Thế Chiến, Mỹ đă đổ biết bao tài lực, vật lực, xương máu của dân họ để giúp Pháp đánh bại Phát Xít Đức, dành lại quyền tự chủ, tự do cho dân Pháp. Nhưng ngay sau đó, tổng thống De Gaulle của Pháp lại mang quân sang Việt Nam để tiếp tục sự đô hộ Việt Nam, đàn áp sự tranh đấu cho tự do, tự chủ của dân tộc Việt. Bằng chứng rơ ràng nhất là hội nghị Brazzaville tháng 4/1945, hội nghị đề ra “chính lược” tương lai của Pháp là lỏng tay hơn đối với các thuộc địa, chấp nhận canh tân nhưng vẫn duy tŕ thuộc địa dưới danh hiệu mới là “Liên Hiệp Pháp”. Chính phủ Pháp lập hẳn một bộ coi về thuộc địa được gọi bằng một danh từ hết sức hoa mỹ là “Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại”. Ta hăy nghe De Gaulle đă ra thông báo nghiêm khắc cảnh cáo “Người Pháp nào làm cho nước Pháp mất đi một phần lănh thổ trong Pháp Quốc Hải Ngoại, th́ sớm muộn ǵ cũng bị xét xử trước ṭa án tối cao”. Như vậy theo sự suy nghĩ của tổng thống De Gaulle: Chỉ có dân Pháp mới được hưởng quyền tự chủ, tự do và b́nh đẳng, con dân Việt Nam th́ không bao giờ được hưởng các quyền căn bản này! Người Mỹ không bao giờ giúp đỡ Pháp trong ư đồ đen tối, phản lại con người, phản tự do, dân chủ trong việc Pháp đem quân đô hộ Việt Nam. Người Pháp vẫn căm thù Mỹ v́ Hoa Kỳ chủ trương giải thực và giúp các nước nhỏ dành lại tự chủ và độc lập để thoát khỏi sự đô hộ của người Pháp, cho đến nay người Pháp vẫn chủ trương theo lối thực dân, v́ vậy Pháp luôn luôn t́m cách phá Mỹ trong mọi chuyện của thế giới để tranh đoạt quyền lợi (Pháp luôn phá Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam vừa qua để dành lại ảnh hưởng ở Đông Dương là một bằng chứng cụ thể nhất). Đầu óc thực dân, ích kỷ của giới lănh đạo Pháp phải chăng đă kéo dài cho đến ngày nay ? Trong chiến tranh lạnh, Pháp và các nước Tây phương cần sự giúp đỡ của Mỹ để chống lại khối Cộng Sản đang có cơ thống lĩnh toàn cầu do Nga đứng đầu (v́ kinh nghiệm Phát Xít Đức c̣n đó và trong chiến tranh lạnh nước Nga Cộng Sản đă thủ đắt nhiều nhất về bom nguyên tử), nhưng khi có dịp, Pháp lại t́m cách phá Mỹ như mới đây Pháp, Đức cùng vài nước Âu châu khác ra mặt chống đối kịch liệt việc Mỹ đem quân hạ bệ Saddam Hussein giải phóng dân tộc Iraq. V́ họ nghĩ rằng chủ nghĩa Cộng Sản do Nga lănh đạo không c̣n nữa Âu châu không c̣n sợ bị chủ nghĩa Cộng Sản đe dọa an ninh, th́ dĩ nhiên họ không cần Mỹ và khi không cần th́ họ ngang nhiên ra mặt chống Mỹ.
Như vậy các chính phủ Pháp, Đức họ ngang nhiên ngồi trên hiến pháp do chính họ làm ra. Lư tưởng tự do - dân chủ - b́nh đẳng do chính họ đề xướng cũng chỉ là một chiêu bài để đánh lừa thế giới, với họ đi chiếm thuộc địa (thực dân) là một quyền lợi của họ không ai có thể buộc họ phải từ bỏ. Họ bất chấp thế giới này nói ǵ hay nghĩ ǵ về họ. Chính phủ Pháp hàng ngày họ nói đến nhân quyền, lănh đạo Tàu luôn mồm nói đến đạo nghĩa, nhưng b́nh tâm mà xét th́ mọi người ai cũng ghê tởm cái đạo nghĩa của nhà cầm quyền Trung cộng, ai ai cũng sợ hăi cái kiểu “nhân quyền” của chính phủ Pháp, (Bất cứ một người Việt Nam nào hiện nay đang chủ trương thỏa thuận hay thỏa hiệp với Việt cộng, với Tàu, với Pháp là có tội với tổ quốc, tội lỗi này khó mà tha thứ cho được). Rơ ràng họ là những người bạc nhược, yếu hèn và đầy ích kỷ. Ông Donald Rumsfeld đă gọi Âu châu đó là “Âu châu Cổ” (Old Europe) quả không sai! Ông Donald Rumsfeld cũng như cá nhân chúng tôi khi gọi “Âu châu cổ”, chúng tôi không dựa trên cảm tính mà dựa trên những nhận thức sâu rộng về thế giới quan, qua sự quan sát lịch sử văn minh nhân loại một cách thấu triệt và toàn diện. V́ thế, chúng tôi mong các vị lănh đạo, các giới trí thức hay các giới sĩ phu của các nước Âu châu hăy có cái nh́n mới, nhân bản hơn nữa và trải rộng tâm hồn ra với cái chung của thế giới hơn là chỉ lo cho phe nhóm hay quyền lợi của chính ḿnh.
Khi so sánh hướng tiến tới về phía trước của nước Mỹ với thế giới Ả Rập chẳng hạn, th́ khoảng cách biệt về mặt tinh thần c̣n sâu rộng hơn nhiều. Với Ả Rập, ta phải dùng từ “rất cổ” mới nói lên t́nh huống này.
A - Sự Di Chuyển Của Các Nền Văn Minh:
Các trung tâm văn minh chuyển dịch theo ṿng quay ngược lại với ṿng quay trái đất. Nền văn minh của nhân loại khởi đi từ trung tâm văn minh nông nghiệp tại Đông Nam Á Lục địa tức là văn minh Bách Việt. Rồi từ Bách Việt sang Ấn Độ, để rồi từ Ấn Độ lan sang Ai Cập-Trung Đông, từ Ai Cập-Trung Đông sang Hy Lạp và Hy Lạp sang La Mă-Tây phương. Và hiện nay trung tâm văn minh chuyển sang Mỹ.
Khi đề ra nhận định là “các trung tâm văn minh chuyển dịch theo ṿng quay ngược lại với ṿng quay trái đất”, chúng tôi không nói chuyện ảo tưởng. Bởi v́ nền văn minh nông nghiệp đầu tiên xuất hiện trên trái đất này khởi đầu từ vùng Bắc Việt Nam và vùng Hoa Nam (Hoa Nam bao gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Phúc Kiến, Quư Châu, Hồ Nam, Tứ Xuyên khi xưa là đất của giống Bách Việt bị giống Hán tộc từ miền Bắc nước Tàu tràn xuống xâm chiếm), rồi lan lên Hoa Bắc của Trung quốc, tràn sang Bắc Thái Lan, Miến Điện, tới các đảo ở Đông Nam Á và các nơi khác. Cho tới nay th́ các nhà khảo cổ học, sử học Đông Nam Á có uy tín quốc tế đă đồng ư là có một nền văn minh Bách Việt sáng chói tại Đông Nam Á. Nền văn minh Bách Việt đă có cách đây ít nhất 15 ngàn năm. Hăy xem các phát hiện về khảo cổ học tại Việt Nam và các vùng Đông Nam Á qua di chỉ Ḥa B́nh hay các vùng đất tại Bắc Việt Nam th́ rơ. Các nhà khảo cổ học quốc tế khi nghiên cứu di chỉ Ḥa B́nh và những di chỉ khảo cổ khác liên quan tới di chỉ Ḥa B́nh trong vùng Đông Nam Á và các hải đảo Thái B́nh Dương, th́ họ đặt tên chung cho chúng là nền văn hóa Ḥa B́nh và họ đi đến kết luận rằng Việt Nam chính là trung tâm nông nghiệp, nuôi gia súc đầu tiên của nhân loại. Xin t́m đọc các nhận xét về văn minh Bách Việt (trích từ tài liệu nghiên cứu “Việt Nam, Trung Tâm Nông Nghiệp Luá Nước” của giáo sư Nguyễn Thị Thanh, viện đại học Toronto, Canada). Đến nay tất cả các nhà khảo cổ học, sử học Hoa-kỳ như các ông C. Sauwer, R. Somhein, Trương Quang Trực (Ông Trực là người Mỹ gốc Trung Hoa), ông Jorhman và học giả Nga ông N. Vavilow đều công nhận: “Đông-Nam-Á mà chủ đạo là Việt-Nam đă có một nền văn hóa tiền sử phát triển rất sớm sủa, tiên tiến và nhanh chóng, sáng tạo và sống động chưa từng thấy ở một nơi nào khác trên thế-giới”. Chúng ta hăy nghe mấy ḍng sôi nổi của ông C.O. Sauer viết trong quyển Agricultural Origins and Dispersals - Xuất bản tại New York: “Tôi đă chứng minh Đông-Nam-Á là cái nôi của nền nông nghiệp xưa nhất. Và tôi cũng chứng minh rằng văn-hóa nông nghiệp có nguồn gốc gắn liền với đánh cá bằng lưới ở xứ này. Tôi cũng chứng minh rằng những động vật gia súc xưa nhất bắt nguồn từ Đông-Nam-Á, và đây là trung tâm quan trọng của thế-giới về kỹ thuật trồng trọt và cải biến cây cối bằng cách tái sinh sản thực vật”.
V́ vậy chúng ta phải suy nghĩ lại câu nói “ Việt Nam có 4.000 năm văn hiến” do Cụ Trần Trọng Kim đề ra. Khi Cụ Trần Trọng Kim viết sử th́ Cụ chỉ dựa vào sử Tàu hoặc sử Pháp mà viết sử Việt, nhưng mọi người ai cũng hiểu sử Tàu th́ đầy bóp méo và sai lạc khi nói về văn minh Bách Việt. Lại nữa, Cụ Trần Trọng Kim chỉ nói đến lịch sử Việt nam bắt đầu vào thời Hùng Vương. Do đó khi các nhà khảo cổ học và sử học của thế giới đưa ra bằng chứng là văn minh Bách Việt đă có đến 15 ngàn năm, th́ thiết nghĩ lập luận trên đáng cho những nhà sử học Việt Nam của chúng ta trong tương lai bỏ công t́m ṭi và nghiên cứu thêm nữa.
Ngoài ra, vào thời cụ Trần Trọng Kim th́ những phương tiện khảo cổ học c̣n thô sơ để đánh giá về nền văn minh Bách Việt, cũng như chưa có những bước khám phá nổi bật về nền văn minh này. Trong quá khứ, qua mấy ngàn năm, Hán tộc đă t́m mọi cách tiêu diệt văn hóa Bách Việt và trong 1.000 năm đô hộ Việt Nam th́ họ đă sửa đổi, nhận làm của họ hay đốt phá hết sách vở, sử liệu của Bách Việt nói chung và của người Việt Nam nói riêng (đời nhà Minh là một bằng chứng cụ thể nhất), để người Tàu vùng Hoa Nam (gốc Bách Việt) và người Việt không biết rơ nguồn gốc văn minh sáng chói của ḍng giống Bách Việt (Việt Nam là con cháu kế thừa rơ nét nhất của ḍng Bách Việt) và để che dấu âm mưu chiếm đoạt văn minh Bách Việt của ḍng Hán. Từ đời nhà Minh, Minh Thành Tổ đă cho đốt phá hết các sách vở của người Việt Nam và người Việt gốc Bách Việt vùng Hoa Nam, khiến đa số người Bách Việt vùng Hoa Nam và người Việt cứ nghĩ là ḿnh học văn minh từ Hán tộc, và cho là cái ǵ của Hán tộc cũng hay hơn của ḿnh. Tương tự như người Pháp khi xâm chiếm Việt Nam, họ dạy cho học sinh Việt Nam là “tổ tiên chúng ta là người Gô-Loa”. Cũng may những phát hiện khảo cổ học, di truyền học, nhân chủng học đă trả lại sự thực cho nền văn minh Bách Việt.
Thế kỷ 20 đánh dấu đỉnh cao của “Nền Văn Minh Trái Đất”, nhưng đó chỉ là khởi điểm cho “Nền Văn Minh Liên Hành Tinh”. Nền văn minh này có khả năng soi sáng khắp địa cầu và nó hướng ngay đến Đông Nam Á, tức là Bách Việt sẽ làm cho Bách Việt tiến lên mau chóng, để rồi thúc đẩy cả thế giới loài người tiến vào thời đại mới: Thời Đại Nhân Chủ mà cụ Lư Đông A đă đề ra. Trong khi đó nền văn minh Liên Hành Tinh do Hoa Kỳ lănh đạo sẽ tiếp tục đi vào con đường t́m hiểu cơi sâu thẳm của vũ trụ bao la kỳ diệu, để đặt nền tảng cho nhiều bước tiến mới trong tương lai mà cụ Lư đă nh́n thấy trước. Đó là vào thời điểm năm 2050 đến 2500, (chúng ta nên nhớ rằng thời gian vài trăm năm quả là quá dài đối với đời sống của một đời người, nhưng vài trăm năm th́ thật là quá ngắn so với thời gian của lịch sử và chỉ có các bậc thông tuệ mới có viễn kiến nh́n xa trông rộng được) toàn thể con người và trái đất phải điều chỉnh lại cơ cấu một cách toàn diện để thích nghi với những nền văn minh khác, mà ta tạm gọi là “con người vũ trụ” trong đó con người trái đất là một bộ phận chủ đạo, hoặc sẽ phải tranh đấu để trở thành lực lượng chủ đạo.
Khi nói lên các suy nghĩ này, nhiều người sẽ cho rằng đó là những suy tưởng không thực tế và rằng khi nhân loại hợp nhất th́ c̣n ǵ phải đấu tranh nữa. Xin thưa! Khi con người hợp nhất, thế giới an b́nh th́ động lực tranh đấu bị triệt tiêu. Điều này sẽ làm trái đất này, nền văn minh này suy tàn và biến mất. Như vậy, sẽ phải có những mâu thuẫn mới phát sinh, để loài người với nhân tính Là Người (viết hoa), sẽ vẫn tiếp tục đối diện với những thách đố mới. Mâu thuẫn giữa trái đất với những hành tinh khác (mâu thuẫn ở đây chưa hẳn là đối kháng mà thường là mang tính khám phá cái mới, nên có thể gọi đây là mâu thuẫn tương sinh). Mới đây cơ quan NASA và viện đại học Berkeley cũng như các đại học khác ở Texas, Âu châu đă khám phá ra một ngôi sao đặt tên là Gliese 436 và các hành tinh phụ cận của nó có thể có băng giá bao phủ. Đây là một trong nhiều bằng chứng khoa học cho thấy là con người có thể đến và sống trên các hành tinh này được. Biết đâu trong ṿng 200 năm tới con người có thể di chuyển đến đó sinh sống th́ sao!
Như đă tŕnh bày ở trên, lịch sử nhân loại là lịch sử của sự hợp nhất. Trong khi lực “chủ đạo” tiến về phía trước, th́ nó cũng để lại đằng sau nhiều mâu thuẫn chưa giải quyết trọn vẹn. Cho nên bây giờ đang là lúc văn minh nhân loại bước vào nền văn minh Liên Hành Tinh, th́ các mâu thuẫn nội tại trong phạm vi con người trên trái đất này phải được giải quyết rốt ráo, toàn diện nhằm chuẩn bị cho thời kỳ mới của loài người.
Thế lực “chủ đạo” có khả năng giải quyết các tồn tại ấy một cách toàn diện, triệt để và hướng thượng không ai khác hơn là “Chính Hoa Kỳ”. Cho nên đứng về phương diện văn minh nhân loại trái đất này mà nói, th́ sứ mệnh ấy chỉ có Hoa Kỳ mới có đủ khả năng nhận lănh trọng trách cao cả này thôi. Các dân tộc khác nhất thiết hăy hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ, để trước tiên là bảo tồn nền văn minh tốt đẹp này cho con cháu chúng ta mai hậu và sau đó thúc đẩy nền văn minh này tiến lên một bước nữa: “Nền Văn Minh Liên Hành Tinh”.
B - Thống Nhất Và Tổng HợpVăn Minh Đông-Tây
Kể từ khi triết học phương Tây từng bước thoát khỏi sự chi phối của tôn giáo (ở đây là Thiên Chúa Giáo La Mă), để các triết gia phương Tây có thể suy nghĩ độc lập hơn, nhằm thúc đẩy nền văn minh phương Tây tiến về phía trước, trên căn bản dùng trí tuệ làm nền tảng cho các phát kiến về khoa học thực dụng. Ở chỗ này, văn minh phương Tây đă thực hiện được các bước tiến lớn lao so với văn minh phương Đông, từ đó từng bước đi đến chỗ coi thường phương Đông như là chỗ của các dân tộc chậm tiến về mặt tri thức (sau nhiều thế kỷ phương Tây hết háo hức với các sản phẩm gia vị, tơ lụa của phương Đông).
Phương Tây biết đến phương Đông th́ cũng chỉ biết đến Ấn độ, Trung quốc. Ấn độ, Trung quốc tuy đất rộng, người đông thật đấy, nhưng không phải là chủ đạo tinh thần của phương Đông. Văn minh Trung quốc chỉ là sự vay mượn không hoàn chỉnh của văn minh Bách Việt mà Trung quốc đă chiếm đoạt được thông qua bạo lực. Chính Khổng tử một ngôi sao bắc đẩu sáng chói của nền văn minh Trung quốc minh xác điều này khi ông ta nói: “Thuật nhĩ bất tác”. Tức là Khổng tử chỉ thuật lại (tư tưởng văn hóa) những điều ông ta nghe nói, chứ ông ta không sáng tác, phát minh ra cái chi cả. Mà những tư tưởng Khổng tử thuật lại là do ai tạo ra ? Xin thưa! Đó chính là do chủng tộc Bách Việt sáng tạo vậy. Rồi đến cha đẻ của cuộc cách mạng Trung quốc mới đây là Tôn Dật Tiên cũng chỉ vay mượn tư tưởng Tây phương rồi “xào nấu” với tư tưởng Đông phương để đề ra chủ thuyết “Tam Dân”. Tất cả chỉ là vay mượn và vay mượn. V́ vậy cụ Lư Đông A mới gọi “... chủ thuyết Tam Dân là cái thùng tả pí lù hẩu lốn” và “ Nếu lấy ư nghĩa triết học đúng đắn mà nói, th́ nó khó thành và khó đáng gọi là một chủ nghĩa. Nó chỉ có thể gọi được là ba nguyên tắc quốc gia xă hội ... ” (Trích Huyết Hoa trang 84 và 85 đoạn Tam Dân, xin t́m đọc).
Vào giai đoạn gần giữa thế kỷ 20, th́ phương Tây mới bắt đầu hiểu thêm về Bách Việt từng chút một thông qua các nhà Đông Nam Á học (Tiến sĩ Wilhelm G. Solheim II là người tiên phong và nổi tiếng trong lănh vực này, xin t́m đọc tác phẩm “New Light On A Forgotton Past” của ông). Đành rằng cái nôi của văn minh Bách Việt nằm ở Việt Nam sau đó trải rộng sang Hoa Nam rồi thời gian tràn sang Hoa Bắc tức Trung Hoa, để sau đó lan sang vùng Bắc Thái Lan, Miến Điện ngày nay (Hoa Nam một vùng đất rộng lớn của dân tộc Bách Việt trước đây đă bị Hán tộc xâm chiếm cho đến ngày nay), nhưng những bí ẩn tuyệt mức của văn minh Bách Việt lại nằm ở Việt Nam, cho nên những ai muốn t́m đến cái cốt lơi của văn minh Bách Việt, mà chỉ tập trung vào vùng Hoa Nam th́ sẽ chẳng bao giờ t́m thấy ánh sáng cuối đường hầm. Biết được điều này, các người Tây phương đă đến Việt Nam, luồn sâu vào các bản làng xa xôi nơi rừng núi Việt Bắc và nhờ có một cơ duyên kỳ ngộ nào đó họ mới thông hiểu được hay ít ra đă chứng kiến được cái lẽ uyên nguyên, tinh túy của văn minh Bách Việt thực sự. C̣n ở các thành thị Việt Nam th́ họ không thể t́m thấy điều ấy một cách dễ dàng.
Không ai ở phương Tây có cái duyên kỳ ngộ ấy, ngoài một số rất hiếm hoi người Mỹ mà theo chỗ chúng tôi biết th́ không quá ba vị có cái duyên ấy. Khi chứng kiến tận mắt các tinh túy của văn minh Bách Việt, các vị ấy đă bắt đầu tin. Đó là bước khởi đầu cái duyên tri ngộ giữa hai nền văn minh ở hai bên bờ Thái B́nh Dương. Từ đó, duyên “Tri Kỷ” kết hợp này càng ngày càng phát triển tốt đẹp, vững chắc.
Trở lại đôi điều thuộc phạm vi triết học nói chung: Đỉnh cao của triết học phương Tây là việc Hegel t́m ra biện chứng pháp. Các triết gia phương Tây đă tốn rất nhiều giấy mực để tranh luận một đề tài rất lấn cấn là: Vật chất, Tinh thần cái nào có trước ? Nói theo ngôn ngữ triết học phương Tây nghĩa là: Nhất Nguyên Luận Duy Tâm hay Nhất Nguyên Luận Duy Vật có trước ? Khuynh hướng thứ nhất đại diện bởi Hegel, khuynh hướng thứ hai đại diện bởi Feubach và Karl Marx. Một khuynh hướng khác thực tiễn hơn được gọi là Nhị Nguyên Luận quan niệm rằng: Tinh thần và Vật chất cùng tồn tại khi mới sinh ra. Khuynh hướng này được coi là thực tiễn trên nhăn quan triết học, v́ chưa ai chứng minh được là: Một cái gene (tức là di truyền ở dạng vật chất siêu nhỏ) có ư thức ngay khi mới sinh ra hay không ? Nếu không có ư thức th́ tại sao cái gene đặc thù ấy biết cách kết hợp với một chuỗi các gene khác để tạo ra sự sống ?
Ở đây xin mở một dấu ngoặc để có luận cứ làm sáng tỏ thêm đoạn viết ở trên “Vật chất, Tinh thần cái nào có trước”? Trong bộ sách “Cửu Dương Thần Công” (xin đừng lầm với bộ Cửu Âm Chân Kinh), ngay thiên đầu của bộ sách này, thiên thứ nhất nói về “Nguyên Lư Của Vũ Trụ” th́. “Trong cái hỗn mang mêng mông của vũ trụ muông vật được sinh ra, Trời - Đất, Âm - Dương (Lưỡng Nghi). Hai cái ấy đều do một nơi sinh ra mà tên gọi khác nhau, dẫu bao la sâu kín mịt mờ. Kín sâu lại càng kín sâu, ấy là cửa phát ra biến hóa không lường của sự vật. Đây là hàm ư uẩn xúc cái sinh cơ vô hạn trong thiên địa. Ấy là ư nói trong trời đất đầy ắp một khối lượng vô h́nh (mọi vật không thấy được), đồng thời khối lượng ấy ảnh hưởng đến những quy tắc hữu h́nh (mọi vật ta thấy được). Trong cái tự nhiên đă có cái không tự nhiên. Câu hỏi: “Vật chất, Tinh thần cái nào có trước”, y hệt như chúng ta nói trong trời đất gà có trước hay là trứng có trước. Có người nói Trứng có trước Gà, lại có người nói, nếu không có gà th́ làm sao có thể có trứng ? Nếu hỏi trên quả đất này đàn ông có trước hay đàn bà có trước?. Có người nói trên trái đất này đàn bà có trước rồi sinh ra Nam - Nữ. Thế rồi lại có người nói, nếu không có đàn ông th́ làm sao đàn bà có mang và sinh ra nam nữ ? Bàn đến vấn đề này là bàn đến “Tiền hậu vô hữu”. Các nhà sinh vật học phương Tây nói rằng: “Sinh vật từ biển tới, nước là cái bắt đầu của sinh mệnh”. Nhưng mà nghĩ cho cùng, th́ sinh mệnh nhân lên hoài được không phải chỉ nhờ ở nước không thôi, mà c̣n phải nhờ ở tác dụng quang hợp, hay ánh sáng mặt trời và sự hô hấp dưỡng khí trong không khí, th́ mọi sinh vật mới sống được và sinh tồn. Do đó: Tinh Thần, Vật Chất, Thủy - Hỏa, Âm – Dương, Nam - Nữ, Gà - Trứng tất cả chỉ là Một, nhưng khác tên gọi mà thôi. Một đó là Thái Cực vậy. Đối với ư thức và cảm giác của người b́nh thường, th́ họ chỉ khăng khăng nghĩ đến chuyện trước và sau th́ vấn đề trở nên khó hiểu.
Trong “Thường Thanh Tĩnh Kinh”, Lăo Tử cũng có nói rằng: “Đại Đạo không có h́nh thể. Đại đạo sinh ra nuôi dưỡng trời đất. Đại đạo không có t́nh cảm, vận hành mặt trời và mặt trăng. Đại Đạo không có tên nuôi nấng vạn vật đến khôn cùng. Ta không biết cái đó thực tên ǵ, tạm gọi nó là “Đạo - Thái Cực”. Ôi Đạo ! Có Trong có Đục, có Động có Tĩnh. Trời trong Đất đục, trời động đất tĩnh. Trai trong gái đục. Trai động gái tĩnh. Đạo chu toàn mọi bề mà sinh vạn vật. Trong là nguồn của đục. Động là nguồn của tĩnh. Nếu con người thường thanh tĩnh, Trời, Đất sẽ cùng về nơi ḿnh”, đến đây, thiết nghĩ chúng ta không cần bàn thêm về Vật chất Tinh Thần cái nào có trước”. (xem Cửu Dương Thần Công, chính thân truyền thụ Tổ sư Côn Luân Giáo Phái, Giáo Sư Chung Vĩnh Kư. Hậu thân truyền thụ và dịch bản Trúc Đông Anh - Hoa Kỳ 1991. Lăo Tử là dân vùng Hoa Nam, tức là ḍng Bách Việt).
Sau khi t́m ra khoa biện chứng pháp, triết học phương Tây dường như đứng khựng lại đến đỗi Heiddeger đă phải thốt lên về sự “chấm dứt hệ thống triết học phương Tây”. Sự chấm dứt của hệ thống triết học phương Tây thực ra không đơn giản như các triết gia phương Tây nghĩ mà nó để lại một loạt các khủng hoảng tri thức ở Âu châu. Người Mỹ đi t́m sự tổng hợp Đông-Tây nên đă đứng ngoài ṿng khủng hoảng này.
Ta hăy xem đôi điều về chuyện này. Khi Albert Camus, Jean Paul Sartre đề ra “Chủ Nghĩa Hiện Sinh” th́ nó đă thể hiện sự bế tắc của tri thức Pháp và là tiên đề cho các trào lưu sống quá tự do phóng túng trong ḷng xă hội Âu Mỹ hiện nay (ở Mỹ, phong trào Liberal tuy mạnh về bề ngoài nhưng nói chung th́ tác động rất ít đến cơ cấu xă hội. Hiện nay người Mỹ đang tiến hành việc sữa chữa khuynh hướng phóng túng này một cách có hệ thống, trong khi Âu châu th́ chưa dám đụng tới, v́ giới lănh đạo Âu châu chưa đủ mạnh và chưa đủ trí tuệ để làm).
Các triết gia Anh hiện đại như Aldous Huxley cũng chỉ nêu lên các dự kiến khác nhau về thế giới (xin xem cuốn Brave New World của Aldous Huxley). Ông ta có thể là một nhà tương lai học như kiểu Charlie Chaplin (phim Modern Time), như kiểu Picasso vẽ những h́nh khối méo mó kinh sợ được gọi là tranh lập thể để ám chỉ về thế giới đầy tai ương, bất hạnh trước mắt.
Vào thời của Hegel, tức là nửa cuối thế kỷ 19 th́ bao nhiêu người hiểu được rằng: Biện chứng pháp chẳng là ǵ cả! Bách Việt đă khám phá ra nó cả hàng ngàn năm trước, qua Dịch Lư với cặp Âm-Dương tiêu biểu cho quá tŕnh sinh diệt đối với bất cứ hiện tượng nào xảy ra trong vũ trụ, dù hiện tượng ấy là tinh thần hay vật chất.
Trở lại cái duyên của Hoa Kỳ với Á châu. Thế chiến thứ I ở Âu châu chấm dứt với một giải pháp nửa vời ở Versaille bên Pháp. Hoa Kỳ là thế lực chính yếu có tiếng nói mạnh nhất mà cả Âu châu phải lắng nghe. Tổng thống Woodrow Wilson đă quá nhiệt t́nh trong việc trong việc t́m một giải pháp cho Âu châu, trong khi Âu châu chưa chín mùi cho các cải cách tận gốc rễ (khi đó nước Nga Cộng sản mới h́nh thành năm 1917), cho nên Hoa kỳ bỏ ngỏ Âu châu cho người Âu châu lo liệu và rút về tập trung tại Á châu, mà các sự kiện năm 1898 đă đưa Hoa Kỳ đến Phi Luật Tân. Hoa Kỳ hiểu rằng cái Á châu đầy bí hiểm ấy có cái ǵ đó để họ t́m hiểu, và nếu không t́m hiểu ngọn nguồn, họ không thể tiến vào lục địa Á châu mênh mông được. Chính trong điều kiện ấy mà Rockefeller đă đem đèn dầu tới tặng dân Tàu (người miền Bắc Việt Nam ngày xưa quen gọi là đèn Hoa Kỳ). Chính giai đoạn này đánh dấu thời điểm nhiều người Mỹ đến xâm nhập Á châu để t́m hiểu tận gốc rễ nguồn gốc văn minh của lục địa này.
Họ đến Nhật để thấy tinh thần vơ sĩ đạo và Thiền học (Zen kiểu Nhật), cũng chỉ là cái ngọn của văn minh Đông phương thôi. Họ đến Mông Cổ, Triều Tiên hay các quốc gia Á châu khác cũng chỉ thấy cái ngọn của nền văn minh này. Khi đến Ấn Độ, họ thấy tuy Ấn Độ có vẻ thâm sâu huyền bí hơn Trung quốc đấy, nhưng Ấn Độ vẫn chưa là đỉnh cao mà c̣n chứa đầy chất bảo thủ, lạc hậu, phân chia giai cấp (Ấn Độ có đến hơn 3000 giai cấp, điều này dẫn đến sự đau khổ rồi từ những khổ đau đó phát sinh ra thuyết Phật Giáo), mê tín đến lạ lùng khiến không thể so sánh với nền văn minh trội vượt của Tây phương, mà Hoa Kỳ lấy làm kiêu hănh là người đại diện.
Với người Mỹ, phải đi vào cốt lơi của vấn đề văn minh Á châu. Đó là Trung quốc, bao gồm Hoa Bắc, Hoa Nam. Người Mỹ đă t́m hiểu kỹ về Trung quốc nên họ rơ ngọn nguồn về nước này từ ngôn ngữ, chữ viết, suy nghĩ, phong tục tập quán. Càng hiểu về Trung quốc, họ càng nh́n thấy cái bóng lờ mờ đâu đó của văn minh Bách Việt bao phủ ánh mặt trời ở phương Đông. Điều này giải thích rơ ràng hơn khi có nhiều học giả Hoa Kỳ tới sinh sống ở Trung quốc (cũng là lặn sâu, trèo cao đấy), nhưng không có ai trở thành lăo trượng trong hàng ngũ cao nhất của Ban Lănh Đạo Mỹ.
Người Mỹ chẳng phải chỉ hiểu về chữ Nho (cả Việt Nho và Hán Nho) không thôi, họ c̣n nghiên cứu sâu xa về Dịch Lư, về Địa Lư, Phong Thủy, Tử Vi, cũng như nhiều môn bí truyền khác. Và do cái duyên tri ngộ mà người Mỹ học được nhiều cái tinh túy nhất trong nền văn minh phương Đông. Khi quan sát địa lư phong thủy của bản đồ nước Việt Nam với vùng Virginia. Họ thấy rơ phong thủy Việt Nam là đất phát để giữ riềng mối yên ổn, phát triển cho cả lục địa Á châu rộng lớn sau này.
Hẳn nhiên nếu chỉ v́ các điều nêu trên không thôi th́ Việt Nam ta cũng chỉ có 50% cơ hội để trở thành bằng hữu thân thiết, đáng tin cậy của Mỹ mà thôi. Hầu như chắc chắn là 50% c̣n lại là do công lao của cụ Lư Đông A. V́ khi gặp các cụ Mỹ, cụ Lư đă trao đổi những ư tưởng sâu sắc, thâm trầm về tương lai của cả thế giới kéo dài đến 500 năm. Chủ điểm mà cụ Lư Đông A trao đổi có thể tóm gọn lại những điều sau đây:
1) Dân chủ đang từng bước trở nên lỗi thời
2) Tôn giáo đang ngày càng trở nên lạc hậu vậy phải sửa đổi một cách toàn diện trên một quy mô lớn
3) Môi sinh là quan trọng