|
|
Ngừoi Quốc Gia là những người đặt tổ quốc lên bản vị tối cao Tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v.. Trích VN Tự Điển của Đào Duy Anh |
|
Nationalist Vietnamese Forum |
Đinh Việt Nhân
Bách Việt và Asean trên vùng định mệnh
1. Dẫn nhập
Tựa đề của bài tiểu luận này lấy từ loạt bài “Trăm Việt trên vùng định
mệnh”(TVTVĐM) của học giả Phạm Việt Châu (PVC). Loạt bài TVTVĐM
xuất hiện lần đầu trên tạp chí Bách Khoa từ năm 1969 đến năm 1974.
[1] Viết trong thời kỳ sôi động nhất của cuộc chiến Việt Nam,
tư tưởng của học giả PVC là một viễn kiến chính trị vượt không gian và thời
gian. Những biến chuyển kinh tế, chính trị gần đây trên trường quốc tế, nhất
là các tranh chấp tại biển Đông, lại càng làm tăng giá trị cảnh cáo của viễn
kiến đó.
Các ư chính trong sách TVTVĐM có thể tóm lược như sau. Thứ nhất, các
quốc gia Đông Nam Á (ĐNÁ) có chung nguồn gốc Bách Việt. Nói rơ hơn, tổ tiên
dân ĐNÁ ngày nay là bộ tộc Bách Việt, đă nam thiên xuống Việt Nam, Mă Lai,
Nam Dương, Phi Luật Tân, Căm Bốt, Miến Điện, Thái Lan, Lào, v.v..., theo
nhiều đợt khác nhau trong quá khứ. Thứ hai, các hậu duệ của bộ tộc Bách Việt
đă đi tới đoạn đường chót của cuộc hành tŕnh lịch sử, không c̣n nơi nào,
chỗ nào để mà thiên di xa hơn nữa, trong khi áp lực truyền kiếp từ phương
Bắc vẫn tiếp tục đè nặng xuống. Thứ ba, các quốc gia ĐNÁ chỉ có thể xây dựng
được một thế đứng độc lập bằng cách triệt tiêu các ư hướng dựa vào các đế
quốc mới. Các nước ĐNÁ cần quần tụ trong b́nh đẳng, hỗ tương, vừa giữ được
thế tự lập đơn vị, vừa tạo ra sức mạnh tập thể.
[2]
Đọc kỹ hơn, TVTVĐM có rất nhiều dữ kiện cập nhật (vào thời điểm đó)
và tài liệu quư báu cho ngành Việt học, đặc biệt là Việt cổ học. Với tinh
thần khoa học, khách quan, với lối suy nghĩ tiến bộ và với niềm tự hào dân
tộc, học giả PVC đă đánh giá đúng đắn những thành quả văn minh Bách Việt nói
chung, và Lạc Việt nói riêng. Ông viết:
“Cho nên, những người viết sử hôm nay, nếu thành thật với ḿnh với người tất
không thể nào phủ nhận được công tŕnh xây dựng nền văn minh chói lọi và cổ
nhất Đông-Nam-Á của bộ tộc Lạc-Việt.”
[3]
Mấy năm gần đây, ngành Việt cổ học đă trở nên khá phát triển trong cộng đồng
người Việt tại hải ngoại. Ngoài các tạp chí chuyên đề như Tư Tưởng,
một số bài nghiên cứu khá nghiêm túc đă bắt đầu xuất hiện khá thường xuyên
trên rất nhiều tạp chí tiếng Việt nước ngoài (thí dụ như Diễn Đàn,
Hợp Lưu, KhoaHoc&ĐoiSong, talawas, Thế Kỷ 21,
Thời Đại Mới, v.v...). Các công tŕnh biên khảo gần đây, tiêu biểu nhất
là T́m về nguồn gốc văn minh Việt
Nam,
[4] đều góp phần, không ít th́ nhiều, trong việc phát huy ư
kiến trên.
Mùng 5 tháng 5 năm 2005 vừa qua là ngày giỗ 30 năm của học giả PVC. Đây là
một dịp tốt để chúng ta cùng nh́n lại, đánh giá và triển khai tư tưởng
TVTVĐM. Với khả năng và hiểu biết hạn hẹp của ḿnh, người viết xin giới
hạn trong đề tài Bách Việt và Hiệp hội các quốc gia ĐNÁ (ASEAN), tức là một
góc cạnh lớn (nhưng không phải là góc cạnh duy nhất) của TVTVĐM. V́
nội dung bài viết ra ngoài phạm vi nghiên cứu chuyên môn của ḿnh, người
viết sẽ không tránh khỏi ít nhiều sai lạc và thiếu sót. V́ thế, kính xin bạn
đọc bốn phương vui ḷng lượng thứ và bổ túc, để chúng ta cùng nhau góp ư cho
đề tài quan trọng này.
Bố cục của các phần c̣n lại trong bài như sau. Phần 2 phác họa vài nét đại
cương về lịch sử bộ tộc Bách Việt. Phần 3 thảo luận nguồn gốc và văn minh
Bách Việt dựa trên các khám phá khoa học hiện đại. Phần này cho thấy Việt
tộc đă có những đóng góp rất đáng kể vào văn minh nhân loại. Phần 4 bàn về
sự tương quan giữa Việt tộc và Hán tộc. Thái độ chủ quan, mập mờ, che dấu sự
thật của người Hán đă góp phần không nhỏ vào niềm tự ti dân tộc của nhiều
người Việt ngày nay. Phần 5 phân tích ASEAN như một ư chí và h́nh thức nối
kết của Bách Việt trong thế kỷ 20-21, đúng như ư nguyện của học giả PVC lúc
sinh thời.
2. Vài nét về lịch sử Bách Việt
Bách Việt là tiếng của người Hán dùng để chỉ tập hợp các sắc dân chủng Việt
(phần lớn cư ngụ tại miền nam sông Dương Tử) mà người Hoa Hán gặp gỡ và
tranh đấu khi họ bành trướng từ Hoa Bắc xuống Hoa Nam. Lănh thổ của bộ tộc
Bách Việt, theo huyền sử, là nước Xích Quỷ
[5] dưới quyền vua Kinh Dương, bắc giáp Hồ Nam, nam giáp
Chiêm Thành, tây giáp Tứ Xuyên, đông giáp biển Đông. Vào thời Xuân Thu Chiến
Quốc khoảng thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch (TTL), sử sách ghi nhận các nước Hồ
Việt (ở Hồ Nam), U Việt (ở Triết Giang), Mân Việt (ở Phúc Kiến), Đông Việt
(ở Giang Tây), Nam Việt (ở Quảng Đông), Âu Việt (ở Quư Châu & Quảng Tây),
Điền Việt (ở Vân Nam), Lạc Việt (bắc Việt Nam), Chiêm Việt (đảo Hải Nam),
v.v...
[6] Các nước này nằm kế tiếp nhau từ miền nam sông Dương Tử,
qua lưu vực sông Hồng, xuống tận b́nh nguyên sông Mă. Đó là chưa kể những tổ
hợp người Việt sống rải rác miền tây nam Trung Quốc chưa tổ chức thành quốc
gia, có khi c̣n gọi là dân Bách Bộc.
[7] Nhưng cũng có nhà nghiên cứu lại cho rằng Bách Bộc hay
Bộc Việt là tiếng người Hoa Hán dùng để chỉ chủng tộc Việt ở phía bắc sông
Dương Tử.
[8]
Sau khi nhà Tần thống nhất được miền bắc Trung Quốc và một số lănh thổ miền
nam sông Dương Tử, các nước Việt nhỏ dần dần bị suy sụp, chỉ có Mân Việt,
Đông Việt và Nam Việt nhà Triệu (bao gồm Nam Việt, Âu Việt, Lạc Việt ) là
c̣n tự trị.
[9] Sang đến thế kỷ thứ nhất TTL, các nước này cũng bị nhà
Hán thôn tính nốt, tuy rằng các tổ hợp Bách Việt vẫn sống rải rác khắp miền
nam Trung Quốc. Trải qua thăng trầm của hai ngàn năm lịch sử, phần lớn lănh
thổ Bách Việt đă bị sát nhập vào bản đồ Trung Quốc và rất nhiều văn minh
Bách Việt dần dần bị đồng hóa vào văn minh Trung Quốc.
Đến đây, người viết xin nhấn mạnh ba điểm. Thứ nhất, trong TVTVĐM,
học giả PVC có vẻ hàm ư lănh thổ sinh hoạt của bộ tộc Bách Việt giới hạn vào
miền nam sông Dương Tử. Thật ra, các công tŕnh nghiên cứu khảo cổ và nhân
chủng học gần đây cho thấy người Bách Việt đă vượt sông Dương Tử rất lâu
trước khi văn minh Trung Quốc bắt đầu thành h́nh.
[10] Gần hơn nữa, trong thời Xuân Thu Chiến Quốc, người Bách
Việt sống rải rác trong các vùng Hoa Bắc, điển h́nh là nước Sở (ban đầu, gồm
Hồ Bắc ngày nay), nước Tề (Sơn Đông), nước Tấn (Sơn Tây-Hà Bắc), v.v...
[11]
Thứ hai, v́ chỉ có nước Việt Nam vẫn c̣n dùng chữ Việt trong quốc hiệu, có
người ngộ nhận cho rằng người Bách Việt đă bị đồng hóa vào văn minh Trung
Quốc, ngoại trừ người Việt Nam. Thật ra, như học giả PVC đă nhấn mạnh ngay
từ đầu, tất cả các quốc gia ĐNÁ như Miến Điện, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Căm
Bốt, Mă Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, v.v..., đều do hậu duệ của đại chủng
Bách Việt thành lập tại những thời điểm khác nhau. Theo học giả, Thái Lan có
thể xem là một nước có nguồn gốc gần gũi với Việt Nam hơn cả.
[12] Người Thái chính là bộ tộc Lư thuộc nhóm Âu Việt ở Quảng
Tây trong nước Nam Việt nhà Triệu cũ. Sau khi Nam Việt nhà Triệu bị nhà Hán
thôn tính, người Thái bỏ nước di cư, lập ra nước Nam Chiếu (Đại Lư). Đến thế
kỷ 13, Đại Lư bị quân Mông Cổ phá vỡ hoàn toàn. Chính trong dịp này, người
Thái lại nam thiên và hội tụ với các sắc dân Thái địa phương, sáng lập ra
các vương quốc hùng mạnh, tiền thân của nước Thái Lan và Lào ngày nay. Điểm
đáng chú ư là người Đại Lư đă đóng góp xương máu vào cuộc khởi nghĩa chống
Hán của Hai Bà Trưng, cũng như đă hai lần chiếm lại thủ phủ Đại La (Hà Nội)
từ nhà Đường vào thế kỷ thứ 9.
Thứ ba, học giả PVC cũng không quên nhắc đến hai vương quốc cổ, Chiêm Thành
và Phù Nam.
[13] Theo học giả, người Chàm đă trở về với khối gia đ́nh Lạc
Việt,
[14] c̣n người Phù Nam đă ḥa vào tộc Mon-Khmer. Tuy ngày nay
Chiêm Thành và Phù Nam không c̣n chỗ đứng riêng trong tập thể ĐNÁ, hai nước
này đă đóng vai tṛ rất quan trọng trong thời kỳ đầu Tây lịch. Chiêm Thành
và Phù Nam từng là gạch nối giữa tổ hợp đă suy sụp (Nam Việt nhà Triệu) và
các tổ hợp đang h́nh thành ở lục địa cũng như hải đảo, cho ḍng giống Bách
Việt c̣n măi măi nối tiếp.
3. Nguồn gốc và văn minh Bách Việt
Các học giả ngày nay vẫn chưa hoàn toàn nhất trí về cội nguồn bộ tộc Bách
Việt, nhất là vấn đề “nam thiên” hay “bắc tiến”. Các giả thuyết nam thiên
phần lớn dựa trên cổ sử, nhất là cổ sử Trung Quốc. Như phần 4 sẽ tŕnh bày,
cổ sử Trung Quốc về Bách Việt chỉ có thể tin được phần nào. Các giả thuyết
sau này, dựa trên các chứng cớ nghiên cứu đa ngành, có xu hướng làm đảo lộn
các giả thuyết cũ, và do đó chưa được tất cả các nhà khoa học hoàn toàn chấp
nhận. Các nghiên cứu di truyền học gần đây, tuy chưa minh xác hoàn toàn
nguồn gốc người Bách Việt, nhưng đă làm sáng tỏ phần nào liên hệ giữa người
Bách Việt và người Hoa Bắc.
Theo TVTVĐM, cuộc nam thiên của người Bách Việt có thể tạm chia làm
bốn thời kỳ:
[15]
Đợt 1: vào giữa thiên niên kỷ thứ ba đến cuối thiên niên kỷ thứ hai TTL và
bao gồm các sắc dân cựu Malay, tân Malay và Lạc Việt. Đợt nam thiên này lập
ra các nước Việt Nam, Mă Lai, Nam Dương và Phi Luật Tân.
Đợt 2: vào đầu thiên niên kỷ thứ nhất đến giữa thế kỷ thứ ba TTL và bao gồm
các nhóm Mon và Khmer. Đợt nam thiên này lập ra các vương quốc Draravati và
Chân Lạp, và cuối cùng là Căm Bốt ngày nay.
Đợt 3: vào cuối thế kỷ thứ ba đến cuối thế kỷ thứ bảy và bao gồm bộ tộc Miến
(trong đó có dân Pyu). Đợt nam thiên này cuối cùng lập ra Miến Điện.
Đợt 4: đợt di cư ào ạt của người Thái vào thế kỷ thứ 13 và các đợt nhỏ kế
sau, như đă bàn bên trên. Các đợt nam thiên này sau cùng lập thành Thái Lan
và Lào.
Gần đây, nhà nghiên cứu Nguyên Nguyên chỉ đích danh nước Sở là cái nôi nước
Thái Lan và Viêt Nam ngày nay.
[16] Theo ông, chủng Âu (người Thái cổ) chính là thành phần
cư dân chủ lực của nước Sở vào thời Xuân Thu Chiến Quốc. V́ lư do thiên tai
mất mùa và chiến tranh loạn lạc, cư dân nước Sở đă di tản hàng khối xuống
phương nam, đến tận b́nh nguyên sông Hồng, từ thế kỷ thứ tám đến thế kỷ thứ
ba TTL. Như vậy, truyền thuyết Âu Cơ–Lạc Long Quân có thể giải mă là sự cố
gắng hợp chủng không thành công của hai chủng Âu và Lạc (người Việt cổ)
trước áp lực bành trướng của người Hoa Bắc.
Ngẫm cho cùng, hai thuyết nói trên chỉ là sự triển khai và làm tinh tế các
giả thuyết nam thiên của các nhà sử học thời Pháp thuộc như Aurousseau,
Chavannes, Madrolle, v.v...
[17] Thuyết nam thiên của học giả PVC phù hợp với huyền sử
bốn ngàn năm văn hiến của người Việt Nam, trong khi thuyết nam thiên của tác
giả Nguyên Nguyên tương ứng với quan điểm chủ đạo ngày nay, cho rằng nhà
nước Việt Nam chỉ ra đời trong thiên niên kỷ thứ nhất TTL.
[18] Nhưng cả hai thuyết này đều giới hạn trong ṿng một hai
thiên niên kỷ TTL. Đây là một mốc thời gian quá trễ so với quá tŕnh h́nh
thành văn minh Bách Việt. Câu hỏi cần đặt ra là người Bách Việt nói chung và
người nước Sở nói riêng từ đâu mà ra?
Nếu dùng mốc thời gian xa xưa hơn hai thiên niên kỷ TTL, các nhà khoa học
lại kiếm thấy rất nhiều chứng cớ trái ngược với thuyết nam thiên. Các công
tŕnh nghiên cứu khảo cổ, nhân chủng, h́nh thái, ngôn ngữ và di truyền học
từ thập niên 1960 đến nay có xu hướng cho rằng người Bắc Á chuyển hóa từ
người Nam Á ra.
[19] Cụ thể hơn, tổ tiên người Bách Việt đă đi từ nam lên bắc
và đóng góp rất nhiều cho nhân chủng người Hoa Hán ngày nay. Đi xa hơn hết
là giả thuyết của bác sĩ Oppenheimer.
[20] Ông cho rằng ĐNÁ là cái nôi của nền văn minh nhân loại.
Trận đại hồng thủy cách đây khoảng 8000 năm làm ch́m đắm thềm lục địa Sunda,
khiến các cư dân ĐNÁ phải di tản đi các vùng đất khác. Họ chính là những
người gây dựng lên nền văn minh đồ đá mới tại Trung Quốc, Ấn Độ, Lưỡng Hà
Châu, Ai Cập, và phía đông Địa Trung Hải.
Các học giả Việt Nam phản ứng như thế nào trước các khám phá nói trên? Trong
phạm vi nhỏ hẹp của bài tiểu luận này, người viết xin tập trung vào một vài
giả thuyết tiêu biểu. Chúng ta có thể bắt đầu bằng Nguồn gốc Mă Lai của
dân tộc Việt Nam (NGMLDTVN), một công tŕnh khảo cứu công phu của
nhà ngữ học Tô Văn Tuấn, tức là nhà văn B́nh Nguyên Lộc.
[21] Theo ông, chủng Indonesian/Malay đă bắc tiến trong hai
lần di dân chính trong quá khứ: đợt 1 cách đây khoảng 5000 năm và đợt 2 cách
đây chừng 2500 năm. Người Việt Nam cổ (mà ông gọi là Mă Lai đợt 1) đă từ
miền nam tiến lên làm chủ miền bắc Trung Quốc, nhưng sau bị giống dân phía
bắc đẩy lùi trở xuống. NGMLDTVN và TVTVĐM có một điểm chung
lớn, đó là nguồn gốc Indonesian/Malay của người Bách Việt.
Gần đây, tác giả Nguyễn Quang Trọng nhấn mạnh trở lại yếu tố nam thiên trong
nguồn gốc bộ tộc Bách Việt.
[22] Ông cho rằng người hiện đại thiên di từ châu Phi về phía
ĐNÁ, tất cả thuộc chủng Nam Cổ (Australoid) (da đen, tóc quăn, mũi to). Khi
gặp biển Đông, một nhóm tràn lên miền bắc Đông Á, đến tận Mông Cổ. Họ thay
đổi dần nhân dạng v́ lư do môi trường, và lai giống với chủng Altaic thiên
di từ Tây Á cách đây khoảng 15000 năm, trở thành dân Bắc Mông (da trắng
vàng, tóc thẳng, mắt nhỏ). Dân Bắc Mông ngày càng bành trướng về phía Nam,
hợp chủng với giống Nam Cổ tại giữa Trung Quốc ngày nay và tạo thành dân Nam
Mông (da ngăm đen, tóc dợn sóng). Chủng Nam Mông này chính là tổ tiên của
dân Bách Việt, và cả những người tại các hải đảo Thái B́nh Dương.
Ngược với giả thuyết tân nam thiên là giả thuyết tân bắc tiến của tác giả
Cung Đ́nh Thanh.
[23] Thuyết này nhấn mạnh vào hiện tượng biển tiến để giải
thích phương hướng thiên di của người Bách Việt. Theo ông, người hiện đại di
cư từ châu Phi đến Đông Nam Á, tiếp cận biển Đông, một phần đi thẳng ra các
hải đảo Thái B́nh Dương và châu Úc, phần c̣n lại trụ tại ĐNÁ. Phần ở lại
ĐNÁ, có thể là lưu vực sông Hồng, v́ hội đủ điều kiện nên đột biến di
truyền, đổi từ giống hắc chủng (da ngăm đen, tóc dợn sóng) ra giống hoàng
chủng (da vàng, tóc thẳng). Đây là tổ tiên dân Bách Việt, chủ nhân của nền
văn minh Ḥa B́nh.
[24] Những người này đă dần dần tiến lên miền bắc, tức là
Trung Quốc ngày nay, theo hai ngă (đông và tây) khi nước biển dâng lên lần
cuối từ khoảng 18000 đến 7000 năm trước đây. Giả thuyết tân bắc tiến tương
đối phù hợp với các nghiên cứu đa ngành gần đây, tuy rằng đâu là trung tâm
văn hóa người Bách Việt cổ và phương cách đột biến từ hắc chủng ra hoàng
chủng vẫn chỉ là những phỏng đoán.
Tóm lại, dựa trên các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học quốc tế, chúng
ta có thể kết luận rằng người Bách Việt:
- là hậu duệ của người hiện đại đầu tiên trong vùng Đông Á (với di chỉ xương
hóa thạch kiếm thấy tại Quảng Tây, ước lượng 60000–70000 tuổi).
[25]
- sử dụng tiếng nói Austric, một trong bảy ngành tiếng nói cũ nhất của thế
giới. Đây là loại tiếng nói đă thành h́nh và được sử dụng trong quá tŕnh
định cư đầu tiên của người hiện đại, trước khi văn minh nông nghiệp ra đời.
[26]
- tràn lên miền bắc, hợp chủng với người hiện đại đến từ ngă Bắc và Trung Á
và tạo thành người Bắc Á (tiêu biểu là Hán tộc).
- khai sinh kỹ thuật cấy lúa gạo ruộng nước (di chỉ t́m thấy tại Hemudu, nam
Trung Quốc, Ban Kao, bắc Thái Lan, Sakai, bán đảo Mă Lai), mở đầu cho nếp
sống định canh định cư và văn minh Ḥa B́nh vào khoảng 10000 đến 15000 năm
trước đây.
[27]
- phát minh kỹ thuật đồ đồng (t́m thấy tại Ban Chiang, Non Nok Tha, bắc Thái
Lan và Phùng Nguyên), tương ứng với sự thành h́nh của các nhóm Bách Việt
cách đây trên dưới 4000, 5000 năm.
[28]
Theo các nhà khảo cổ và sử học, một số đặc trưng của văn minh Bách Việt gồm
có:
[29]
4. Việt tộc và Hán tộc
Trong bài này, Việt tộc có nghĩa là hậu duệ của người Bách Việt. Như vậy,
Việt tộc ngày nay bao gồm một số lớn người Hoa Nam và gần như toàn thể dân
ĐNÁ. Trong khi đó, Hán tộc là một danh từ không có nghĩa rơ ràng. Tổ tiên
người Hán là dân du mục, với văn hóa chăn nuôi, hỏa canh. Họ di cư đến miền
tây bắc Trung Quốc từ phía Trung Á. Lúc ban đầu, họ sống trên những cánh
đồng cỏ Cam Túc, Thiểm Tây, v.v..., và lập ra nền văn minh Hoa Hạ dẫn đến
các triều đại Thương và Châu. Đến thời nhà Tần và Hán, người Hán dần dần
thôn tính các nước người Việt chung quanh, mở đầu cho nền văn minh đa sắc
tộc Trung Quốc.
[30] Trong thời kỳ phong kiến, người Hán thường dùng các danh
từ có ư miệt thị như Đông Di và Nam Man để chỉ người Bách Việt.
[31] Nhưng đột nhiên đến đầu thế kỷ 20, khi Tôn Dật Tiên khai
sinh ư niệm Trung Hoa Dân Quốc với năm chủng tộc Hán, Măn, Mông, Tạng, Hồi,
th́ Việt tộc chính thức biến mất trong bản đồ sắc tộc Trung Quốc.
Ư nghĩa của chủ thuyết Trung Quốc ngũ chủng là ǵ? V́ Việt tộc tại Trung
Quốc không thể nào tuyệt chủng, cách suy diễn hợp lư duy nhất là người Hán
và Việt đă hợp nhất thành một chủng tộc, do đó người Hoa gốc Việt tại Hoa
Nam ngày nay được hoàn toàn xem như người Hán. Lối suy luận này cũng hàm ư
lịch sử là giống người Bách Việt man di mọi rợ ghi trong cổ sử đă được người
Hán khai hóa, và đến đầu thế kỷ 20, quá tŕnh Hán hóa coi như hoàn toàn. Tóm
lại, thuyết ngũ chủng chẳng qua chỉ là một cách tiếp tục che dấu khéo léo
những đóng góp to lớn của người Bách Việt vào huyết thống và văn hóa Trung
Quốc.
Những đóng góp đó là ǵ? Như tŕnh bày ở phần trên, người Bách Việt đă mang
văn minh trồng trọt, làm đồ gốm và thuyền bè lên miền bắc, do đó góp phần
rất đáng kể cho sự bành trướng dân số, lănh thổ và văn minh của Hán tộc. Về
kim loại, rất có thể người Bách Việt đă truyền kỹ thuật đúc sắt cho người
Hán. Theo các nhà nghiên cứu trong ngành luyện kim và khảo cổ, kỹ thuật
luyện sắt tại Trung Quốc bắt nguồn từ hai ngă độc lập nhau:
Các nhà kim loại học đề xuất rằng sự phát triển dụng cụ và vơ khí bằng sắt
tại Trung Quốc bắt nguồn từ miền nam là chính yếu.
[32] Từ nước Ngô, đồ sắt truyền qua nước Sở trong ṿng một
thế kỷ và các nước chư hầu nhà Châu một thế kỷ sau đó. Lí do tại sao kỹ
thuật sắt của người du mục miền tây bắc không nhanh chóng truyền xuống đồng
bằng Trung thổ vẫn c̣n là một nghi vấn của lịch sử.
Về tiếng nói, có nhiều bằng cớ cho thấy, cùng với sự tiếp thu nền văn minh
nông nghiệp lúa nước của người Bách Việt, người Hán đă thu nhập tiếng Việt
vào trong vốn từ vựng của ḿnh. Ngày nay, chúng ta vẫn có thể t́m thấy trong
Hán ngữ những từ gốc Việt như Nữ Oa, Thần Nông, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, v.v...
Ngay cả trong Kinh Thi, một bộ sách quan trọng vào bậc nhất đối với người
Hán, cũng có khá nhiều thí dụ ảnh hưởng cách nói của người Việt.
[33] Theo một số tác giả, trước thời Hoàng Đế, người Bách
Việt đă sử dụng chữ Hỏa tự và chữ Khoa đẩu. Khi phát minh ra chữ vuông,
người Hán đă dùng chữ vuông kư tự những chữ Việt đó, rồi đương nhiên coi là
tiếng Hán, chữ Hán.
[34] Về văn chương, người Hán đă tiếp thu Sở Từ, một lối thơ
gieo vần của dân Sở, mà người Hán cho là loại thi ca cổ đại hay nhất.
[35] Về tư tưởng th́ không những Đạo Lăo có nguồn gốc Bách
Việt, mà một vài nhà nghiên cứu, thí dụ như triết gia Kim Định, c̣n đ̣i lại
Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Thư, v.v..., cho người Việt.
Nói tóm lại, Trung Quốc có thể xem là một thí dụ của Hiệp Chủng Quốc lâu đời
nhất. Là một nền văn minh đa văn hóa, Trung Quốc có khả năng tiếp thu và
phát triển các kỹ thuật đến từ mọi hướng. Người Hán rất tài t́nh trong việc
thu lượm, vay mượn, cưỡng chiếm, chế biến và tổng hợp các thành tựu văn hóa
và kỹ thuật của các sắc dân chung quanh, đặc biệt là dân Bách Việt. V́ là kẻ
thống trị, người Hán có động cơ coi thường, che dấu, xóa bỏ văn minh của các
giống dân bị trị với mục đích đề cao vai tṛ khai hóa của ḿnh. Dùng chữ
viết thống nhất như là một vơ khí vô địch, người Hán đă rất thành công trong
việc thi hành các chính sách này. Trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc, người
Hoa Hán đă cố t́nh t́m cách tiêu hủy văn minh Lạc Việt, nghiêm trọng nhất là
trong thời kỳ nhà Hán và nhà Minh.
V́ thế, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy cổ sử Trung Quốc viết về người
Bách Việt với giọng điệu miệt thị và đầy rẫy những sai lạc. Những sai lầm
này một phần do lối suy nghĩ tự tôn Hoa Hán bá chủ, một phần do thiếu hiểu
biết t́m ṭi, và một phần lớn là cố t́nh bóp méo sự thật. Tác phẩm xuyên tạc
người Bách Việt nhất có lẽ là Hậu Hán thư (HHT) của Phạm Việp.
Dựa trên HHT, sử gia Trần Trọng Kim viết rằng người Việt học nghề
trồng lúa từ Thái thú Nhâm Diên thời Đông Hán (đầu thế kỷ thứ nhất), trong
khi thật ra người Việt đă sản xuất và tiêu thụ gạo nhiều ngàn năm trước.
[36] HHT cũng cho rằng nguời Bách Việt chưa biết mặc
quần áo, trong khi một khai quật khảo cổ tại Bắc Giang cho thấy cách đây
3400 năm, người Việt đă biết dệt vải làm áo.
[37]
Cho đến tương đối gần đây, người Hán vẫn tự măn, vẫn cho ḿnh là trung tâm
văn hóa loài người. Khi t́m ra xương người đứng thẳng (homo erectus) hóa
thạch tại Châu Khải Điếm, Bắc Kinh, trong thập niên 1920, các nhà nhân chủng
học Trung Quốc vội vàng lập thuyết cho rằng người Hán là thủy tổ các sắc dân
vùng ĐNÁ. Niềm tin chủ quan sai lầm đó vẫn c̣n tồn tại trong một số nhà khoa
học Trung Quốc cho đến đầu thập niên 1990.
[38] Năm 1986, các nhà khảo cổ t́m thấy di tích đồ đồng kỹ
thuật cao Sanxingdui của nền văn minh Shu (Thục) tại Tứ Xuyên. Trung Quốc đă
gán cho đồ đồng này niên đại 1200 năm TTL mà nhiều nhà khảo cổ Tây Phương
cho rằng trẻ hơn tuổi thật rất nhiều. Lư do là v́ người Trung Quốc rất hănh
diện về đồ đồng nhà Thương, mà đồ đồng nhà Thương mới chỉ có độ 1300 năm
TTL.
[39] Mặt khác, một số học giả Trung Quốc lại tranh chấp chủ
quyền trống đồng với các học giả Việt Nam, mặc dù ai cũng công nhận trống
đồng là sản phẩm văn hóa và kỹ thuật độc đáo của người Bách Việt.
[40]
Sau một ngàn năm Bắc thuộc, hấp thụ không biết bao nhiêu tư tưởng, văn hóa
và kỹ thuật dán nhăn hiệu Hoa Hán (mặc dù một phần rất lớn có nguồn gốc Bách
Việt), người Việt khó tránh khỏi ít nhiều mặc cảm tự ti dân tộc đối với
người Hán. Mặc cảm tự ti đó dẫn đến tinh thần vọng ngoại, cái ǵ của Tàu
cũng lâu đời, cũng thật, cũng tốt, c̣n cái ǵ của ta cũng bắt chước, cũng
giả, cũng xấu. Trong giới học giả Việt Nam, điều đó nhiều khi lại c̣n thê
thảm hơn. Niềm tin giáo điều vào các cổ sử, kinh điển của người Hán, cùng sự
thiếu hiểu biết về văn minh Bách Việt đă góp phần không nhỏ vào thái độ tự
ti vọng ngoại của một số nhà trí thức khoa bảng gốc Việt. Người viết đă từng
nghe một nhà văn hóa hải ngoại tuyên bố rằng: “cái ǵ hay của ḿnh, đều là
chớp của Tàu cả”.
Rất may là các công tŕnh nghiên cứu khách quan, nghiêm túc của các nhà khoa
học quốc tế thời nay đă giúp soi sáng phần nào các đóng góp to lớn của bộ
tộc Bách Việt. Ngày trước, các bậc học giả Việt Nam tiền bối có thể viết sai
v́ thiếu dữ kiện, không có điều kiện nghiên cứu hay ỷ lại vào các tài liệu
chủ quan, thiếu chính xác của Trung Quốc. Nhưng với các phát kiến ngày nay,
các lỗi lầm đó không thể tha thứ được. Đă đến lúc chúng ta phải mạnh dạn sửa
đổi các sách vở cũ cho phù hợp với bước tiến của khoa học, và phải biết đến
và tuyên dương các thành quả của các bậc tiền nhân Bách Việt.
Chúng ta cần làm chuyện đó v́ nhiều lư do. Thứ nhất, t́m hiểu về nguồn gốc
ḿnh để biết người biết ta, để giữ vững bản sắc ḿnh trong cơn lốc toàn cầu
hóa và cách mạng kỹ thuật thông tin, và để góp phần vào kho tàng văn minh
nhân loại. Thứ nh́, có hiểu biết những thành tựu huy hoàng của tổ tiên,
người Việt Nam mới nhận thức sự kém cỏi của dân ḿnh, nước ḿnh trong nhiều
thế kỷ qua. May ra nhờ đó sẽ nảy sinh ra tinh thần đoàn kết Đại Việt, xóa bỏ
mọi tỵ hiềm để cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam tân tiến, giàu có và
công bằng trong tinh thần Cổ Việt. Thứ ba, t́m hiểu về nguốn gốc ḿnh để
thấy sự gần gũi, gắn bó của các sắc dân láng giềng ĐNÁ, một h́nh thức Bách
Việt nới rộng. Cụ thể hơn nữa là sự hoàn toàn từ bỏ thành kiến khinh rẻ các
anh em Bách Việt ít nguời như người Mường, Mán, Chàm, Thượng, v.v...
5. ASEAN và Trung Quốc
Trong TVTVĐM, học giả PVC đă nhấn mạnh đến ư chí và nỗ lực kết khối
của các quốc gia ĐNÁ. Ư chí liên kết đó bắt đầu bằng ư thức Maphilindo, do
các nhà cách mạng người Phi Luật Tân như José Rizal và Apolinario Mabini chủ
xướng vào cuối thế kỷ 19, khi gần như tất cả khu vực ĐNÁ c̣n đắm ch́m trong
ṿng đô hộ phương Tây. Ư thức này nhắm tới việc thành h́nh một tổ hợp dân
Malay gồm có Nam Dương, Mă Lai và Phi Luật Tân. Vào cuối thập niên 1930,
Manuel Quézon, tổng thống nước Phi tự trị dưới quyền bảo hộ của Mỹ, đă đề
cập đến một liên bang, bao gồm không những khu vực hải đảo mà c̣n tất cả các
quốc gia ĐNÁ lục địa. Có thể nói đây là đề xuất kết khối đầu tiên của các
quốc gia có nguồn gốc Bách Việt.
Trong khu vực ĐNÁ lục địa, tiếng gọi liên kết được cất lên trước hết tại
Thái Lan năm 1939 và sau đó tại Việt Nam năm 1943.
[41] Tuy h́nh thức liên kết Malphilindo giới hạn và
Malphilindo nới rộng đă không thành, một phần lớn v́ ảnh hưởng của các cường
lực bên ngoài, ư thức Malphilindo đă, đang và sẽ làm bó đuốc lư tưởng soi
đường cho nỗ lực kết hợp của hậu duệ người Bách Việt. Trong phần cuối chương
17 của TVTVĐM, học giả PVC có nhắc tới ASEAN, được thành lập qua
tuyên ngôn Băng Cốc năm 1967.
[42] Vào lúc đầu, các quốc gia thành viên ASEAN vẫn c̣n giữ
khuynh hướng vọng ngoại. V́ thế, học giả PVC đă kết thúc TVTVĐM với
niềm hy vọng xen lẫn sự hoài nghi về tương lai liên kết của các nước ĐNÁ.
May thay, niềm hy vọng của học giả PVC đă tiến gần đến hiện thực. Sau khi
chiến tranh Việt Nam chấm dứt, vương quốc Brunei (1984), Việt Nam (1995),
Lào (1997), Miến Điện (1997) và Căm Bốt (1999) dần dần chính thức tham gia
ASEAN. Như vậy, một thế kỷ sau khi chủ nghĩa Malphilindo ra đời, các quốc
gia ĐNÁ đă thành công trong việt thành lập một h́nh thức kết khối ổn định
trong tinh thần tương quan b́nh đẳng. Tất cả các quốc gia thành viên của
ASEAN đều có nguồn gốc Bách Việt. Ngay cả Singapore, tuy dân chúng chính
thức nói tiếng phổ thông, nhưng phần lớn dân cư người Hoa đều có nguồn gốc
Bách Việt như Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, v.v...
Như TVTVĐM đă tŕnh bày, dân chúng các nước ĐNÁ, dù muốn dù không, đă
đi đến vùng định mệnh, không thể c̣n đi đâu nữa cả. Cách giải quyết duy nhất
là t́m một phương cách hữu hiệu để giúp nhau cùng phát triển và đề kháng áp
lực bắc phương truyền kiếp. Ngày nay, với khoảng 500 triệu dân, 4,5 triệu
kilo mét vuông và tổng sản lượng gộp chung $737 tỷ Mỹ kim,
[43] ASEAN là một tổ chức ổn định và tương đối có thực lực để
giao tiếp và đối kháng, nếu cần, với Trung Quốc. Ngay từ đầu, Trung Quốc đă
xem ASEAN như một địch thủ đáng kể. Bắc Kinh đă mở hẳn một chiến dịch phỉ
báng ASEAN và nhất là Nam Dương.
[44] Nhưng, như học giả PVC đă phân tích, bất kỳ sự kết khối
nào của ĐNÁ cũng chỉ có hại hơn là có lợi cho Hoa lục, cho nên sự chống đối
của Bắc Kinh cũng là chuyện dễ hiểu.
Con rồng Trung Quốc, qua hơn một thế kỷ ngủ quên, đang tỉnh giấc và vươn lên
với tốc độ rất nhanh. Các diễn tiến chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự,
biên giới, v.v..., gần đây cho thấy áp lực phương bắc là một vấn đề nghiêm
trọng cho toàn cơi ĐNÁ trong nhiều thế hệ sắp tới. Tuy đây chỉ là sự tái
diễn của lịch sử, nhưng các áp lực tương lai sẽ phức tạp và tế nhị hơn các
cuộc xâm lăng thuần túy quân sự ngày trước. Một vài khía cạnh của vấn đề này
sẽ được triển khai dưới đây.
Trước hết, chúng ta cần xác nhận là các nhà lănh đạo Trung Quốc trong thâm
tâm vẫn giữ chủ trương bành trướng lănh thổ lănh hải, đặc biệt đối với Việt
Nam mà họ cho là một phần của Trung Quốc, tạm mất vào tay người Pháp trong
khi Trung Quốc bị suy yếu. Về thực tế, ngoài việc dùng vơ lực lấn chiếm một
số đất đai dọc theo biên giới miền bắc của nước ta, Trung Quốc c̣n chiếm
đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa. Gần đây,
chính quyền Trung Quốc c̣n ép chính quyền Việt Nam kư kết một hiệp định biên
giới rất bất lợi cho Việt Nam, nhất là về phương diện lănh hải.
Đối với biển Đông, Trung Quốc đă chính thức tự xác nhận chủ quyền của họ
xuống tận quần đảo Nam Dương từ năm 1992.
[45] Nhưng chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc không chỉ
giới hạn vào biển Đông. Việc Trung Quốc t́m cách liên kết với các quốc gia
Tây Hồi (Pakistan), Tích Lan và Miến Điện trong vài năm qua làm nhiều nhà
quan sát e ngại rằng Trung Quốc đang t́m cách khống chế vùng Ấn Độ Dương.
[46] Như vậy ư đồ của Trung Quốc trong đoản kỳ là thách thức
vai tṛ lănh đạo thế giới của siêu cường Hoa Kỳ, mà bước đầu là tạo ảnh
hưởng toàn diện trong khu vực ĐNÁ, nhất là tại biển Đông. Bằng cớ đơn giản
nhất là, theo tính toán của Mỹ, Trung Quốc đă bỏ 9% tổng sản lượng vào chi
phí quân sự trong năm 1993.
[47] Nếu quả thật như thế, Việt Nam lại một lần nữa đóng vai
tṛ lá chắn cho toàn vùng ĐNÁ đối kháng sự bành trướng của Trung Quốc.
Chính sách tiêu biểu nhất của một đế quốc bất cứ thời nào là chia để trị.
Tuy có chung nguồn gốc Bách Việt, các quốc gia thành viên ASEAN khác biệt
khá nhiều về văn hóa, tôn giáo và mức độ phát triển, do đó dễ bị chính sách
chia để trị của Trung Quốc ảnh hưởng. Lấy thí dụ, trong vấn đề tranh chấp
biển Đông, Trung Quốc đă đồng ư giải quyết vấn đề trong tinh thần công pháp
quốc tế chứ không c̣n khăng khăng đ̣i nói chuyện riêng với từng nước tranh
chấp như trước. Tuy nhiên, trong thực tế, Trung Quốc vẫn dùng mối lợi khai
thác kinh tế để nhử từng quốc gia ASEAN như Việt Nam hay Phi Luật Tân kư kết
các hiệp ước song phương với họ.
Chính sách thứ hai của các tân đế quốc là mập mờ bất nhất. Có khi Trung Quốc
dùng chiêu bài hợp tác kinh tế để gây ảnh hưởng với ASEAN (mặc dù thật ra
nền kinh tế Trung Quốc có tính cách cạnh tranh hơn là bổ sung cho nền kinh
tế của khối ASEAN). Một thí dụ mới nhất là tuyên ngôn Bắc Kinh về hợp tác
phát triển tin học giữa Trung Quốc và ASEAN kư ngày 12/5/2005.
[48] Nhưng có khi Trung Quốc lại đưa ra những quyết định đơn
phương rất nguy hại cho các quốc gia ĐNÁ lục địa, chẳng hạn như chương tŕnh
xây đập trên thượng nguồn sông Cửu Long. Tuy bị các nhà môi trường học quốc
tế chỉ trích rất nhiều, Trung Quốc đă từ chối thương thuyết với các quốc gia
chịu ảnh hưởng xấu như Miến Điện, Thái Lan, Lào, Căm Bốt và Việt Nam. Khi
cần thiết, Trung Quốc cũng rất sẵn sàng dùng các biện pháp quân sự để đàn áp
các quốc gia ĐNÁ, như lịch sử gần đây chứng minh.
Để hợp tác hay đối phó hữu hiệu với Trung Quốc, các quốc gia thành viên khối
ASEAN phải thật sự đoàn kết nội bộ trên căn bản “t́nh anh em Bách Việt ruột
thịt”, tức là phải tránh đối thoại và kư kết các hiệp ước song phương với
Trung Quốc càng nhiều càng tốt. Đài Loan, với nguồn gốc Mân Việt,
[49] có thể là một thành viên tương lai của khối ASEAN nới
rộng. Về mặt đối ngoại, ASEAN phải khéo léo dùng các thế lực của Hoa Kỳ,
Nhật Bản, Nga và Ấn Độ để dung ḥa ảnh hưởng Trung Quốc. Hoa Kỳ, Nhật Bản và
Nga là những thế lực cũ và có nhiều quyền lợi trực tiếp hay gián tiếp trong
khu vực ĐNÁ. Ấn Độ với dân số cao và mức độ tăng trưởng kinh tế hiện nay sẽ
là một thế lực mới, có khả năng ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc tại
Ấn Độ Dương. Phần lớn những điểm này đều đă hàm chứa trong viễn kiến
TVTVĐM của học giả PVC hơn 30 năm trước.
© 2005 talawas
[1]Học
giả Phạm Việt Châu tên thật là Phạm Đức Lợi, một sĩ quan cấp tá trong Bộ
Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Gần đây, các con của học giả đă
sưu tầm các bài này và in thành sách (xem Phạm Việt Châu, Trăm Việt trên
vùng định mệnh, North Falls House, Minneapolis, 1997).
[2]Xem cước chú 1, Phần Dẫn Nhập (trang 18) và Chương 18
(trang 290).
[3]Xem cước chú 1, trang 39.
[4]Cung Đ́nh Thanh, T́m về nguồn gốc văn minh Việt
Nam dưới ánh
sáng mới của khoa học,
Nhà xuất bản Tư Tưởng, Sydney, 2003.
[5]Xích Quỷ là một từ do người Hán đặt ra và có nghĩa là
giống rợ da mầu đỏ. Xem Nguyên Nguyên, “Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương
(3): Nước Xích Quỷ”,
http://www.aihuucongchanh.com/ahccahcc.html
[6]Các danh từ Hồ Việt, U Việt, Mân Việt, Đông Việt, Nam
Việt, Âu Việt, Lạc Việt lấy ra từ cước chú 1, trang 25. Danh từ Điền Việt
lấy từ cước chú 5. Từ Chiêm Việt do người viết đặt ra dựa trên các dẫn chứng
lịch sử về sự liên hệ giữa người Chàm và người đảo Hải Nam (xem B́nh Nguyên
Lộc, Nguồn gốc Mă Lai của dân tộc Việt
Nam,
Lá Bối, Sài G̣n, 1971, NXB Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ).
[7]Cao Thế Dung, “Mấy nét về cuội nguồn văn minh văn hóa Việt
Nam”, Tư Tưởng số 4 năm 1999, trang 7-12.
[8]Nguyên Nguyên, “Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương (2):
Nước Sở cái nôi của dân Việt”,
http://www.aihuucongchanh.com/ahccahcc.html
[9]Xem cước chú 1, trang 26.
[10]Xem cước chú 4, trang 218(9.
[11]Xem Nguyên Nguyên, “Truyền thuyết Âu Cơ và dư âm Bách
Việt trong tiếng Việt(1): Ảnh hưởng chủng Thái”
http://www.aihuucongchanh.com/ahccahcc.html
Tác giả Nguyên Nguyên lấy tài liệu từ Di Cosmo,N., Ancient China and its
Enemies – The Rise of Nomadic Power in East Asian History, Cambridge
University Press, 2004.
[12]Xem cước chú 1, trang 32–3.
[13]Xem cước chú 1, trang 42.
[14]Theo nhà văn B́nh Nguyên Lộc th́ người Chàm và người đảo
Hải Nam ngày xưa có liên hệ chặt chẽ, xem cước chú 6.
[15]Xem cước chú 1, trang 27–33.
[16]Xem cước chú 8.
[17]Xem Taylor, K., The Birth of
Vietnam,
University of California Press, 1983.
[18]Xem Lịch sử Việt
Nam,
tập 1, NXB Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1985, trang 164.
Trong cước chú 5, tác giả Nguyên Nguyên cũng hàm ư cho rằng văn hiến và lập
quốc đi đôi với nhau. Ông đề nghị chúng ta “rút lại c̣n đúng 3000 năm văn
hiến” và “chịu mất 1000 năm văn hiến, một thứ văn hiến ‘ảo’, trống không”.
Theo người viết, đây là một đề nghị cực đoan v́ văn hiến và lập quốc là hai
vấn đề khác biệt nhau.
[19]Tiêu biểu nhất là các tác giả Needham, Solheim II,
Gorman, Jettmar, Higham, Turner, Hanihara, Nichols, Ballinger, Chu,
Oppenheimer, v.v... Các công tŕnh này đă được tóm lược trong cước chú 4 và
Trần Nam B́nh, “Vài nhận xét về nguồn gốc người Việt”, Tư Tưởng số
22, trang 18-22.
[20]Oppenheimer, S.,
Eden in the East: The
Drowned Continent of Southeast Asia,
Phoenix, London, 1999.
[21]Xem cước chú 14.
[22]Xem Nguyễn Quang Trọng, “Về nguồn gốc dân tộc Việt Nam và
Địa đàng phương Đông của Oppenheimer”, Hợp Lưu số 64, tháng tư 2002,
trang 24(52.
[23]Giả thuyết này xuất hiện lần đầu trên Tập san Tư Tưởng
trong những năm 1999 và 2000. Loạt bài này sau đó được in thành sách (xem
cước chú 4).
[24]Hiểu theo nghĩa chuyên môn khảo cổ, văn hóa Ḥa B́nh bao
gồm một vùng đất rộng lớn trong ĐNÁ.
[25]Xem Brown, P., “The first modern East Asians?: Another
look at Upper Cave 101, Liujang and Minatogawa” 1 trong Omoto, K. (chủ
biên), Interdisciplinary Perspectives on the Origins of the Japanese,
International Research Center for Japanese Studies, Kyoto, 1999, trang
105(30.
[26]Xem Renfrew, C, “Language families as evidence of human
dispersals” trong Brenner, S. và K. Hanihara (chủ biên), The Origin and
Past of Modern Humans as Viewed from DNA, World Scientific, Singapore,
1995, trang 285(306.
[27]Xem cước chú 22. Theo tác giả Cung Đ́nh Thanh th́ những
chứng cớ trồng lúa đầu tiên tại Bắc Việt hoặc chưa t́m thấy, hoặc đă đắm
ch́m dưới nước trong lần biển tiến cuối cùng.
[28]Xem cước chú 4 và “History of Thailand & Southeast Asia”,
http://www.guidetothailand.com/thailand-history/beginning.htm
[29]Xem cước chú 4, trang 182(3.
[30]Theo một số học giả, huyền thoại Hoàng Đế đánh ‘giặc’ Xuy
Vưu mô tả trận chiến quy mô đầu tiên giữa Hán tộc và Việt tộc.
[31]Ngay cả nhà Nguyên Mông Cổ cũng xếp người Hoa Nam (Nam
Nhân) vào hạng chót của đẳng cấp xă hội, dưới cả đĩ điếm và ăn mày (xem
Nguyễn Duy Chính, “Chiến lược mặt biển của Trung Quốc và vấn đề biển Đông”,
http://www.vietkiem.com, trang 6, 2002).
[32]Wagner, D.B., “The earliest use of iron in China”, trong
Young, S.M. và nhiều tác giả (chủ biên), Metals in Antiquity,
Archaeopress, Oxford, 1999, trang 1(9.
[33]Hà
Văn Thùy, “Việt mượn Hán hay Hán mượn Việt?”, talawas,
9/4/2005.
[34]Xem cước chú 31.
[35]Xem cước chú 4, trang 417.
[36]Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Quyển 1, Trung
Tâm Học Liệu, Sài G̣n, 1971, trang 38.
[37]Xem cước chú 4, trang 510.
[38]Thay v́ thuyết Một nguồn, một số nhà khoa học Trung Quốc
ủng hộ thuyết Liên tục Đa địa phương trong việc giải thích sự xuất hiện
người hiện đại tại châu Á. Tuy nhiên, các công tŕnh nghiên cứu di truyền
học đă bác bỏ thuyết Liên tục Đa địa phương.
[39]Nguyễn Quang Trọng, “Về văn minh cổ và nguồn gốc dân tộc
Việt Nam – Trả lời nhóm Tư Tưởng”, Hợp Lưu số 66, tháng 8/9, 2002,
trang 46(59.
[40]Các học giả Trung Quốc cho rằng trống đồng bắt nguồn từ
Vân Nam hay Quảng Tây, trong khi các học giả Việt Nam chủ trương trống đồng
phát xuất từ Bắc Việt. Xem cước chú 4, chương 7.
[41]Xem cước chú 1, trang .269.
[42]Ban đầu gồm có Nam Dương, Phi Luật Tân, Mă Lai, Thái Lan
và Singapore.
[43]Xem Association of South East Asia Nations,
http://www.aseansec.org/64.htm
[44]Xem cước chú 1, trang 286.
[45]Xem Vũ Quang Việt, “Khu vực Thái B́nh Dương đầy biến động
trong thế kỷ 21: Cạnh tranh, hợp tác hay đối đầu?”,
http://www.hoithao.viet-studies.org/1998_VQViet.pdf,
trang 16, 1998.
[46]Xem cước chú 31, trang 45.
[47]Xem cước chú 45, trang 16.
[48]Xem ASEAN and China Establish ICT Cooperative Partnership
for Common Development,
http://www.aseansec.org/home.htm
[49]Xem Nguyễn Đức Hiệp, “Đài Loan và cuội nguồn Bách Việt”,
Tư Tưởng số 22 năm 2003, trang 24–5.