|
|
Ngừoi Quốc Gia là những người đặt tổ quốc lên bản vị tối cao Tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v.. Trích VN Tự Điển của Đào Duy Anh |
|
Nationalist Vietnamese Forum |
|
Kinh Dịch - di sản sáng tạo của Việt Nam? 16:40:40, 06/07/2004 |
|||||||
|
|
|||||||
Đă có khá nhiều công tŕnh nghiên cứu của các học giả Việt Nam về Kinh Dịch, trong số đó có một công tŕnh đặt lại vấn đề " tác quyền" của bộ Kinh này. Đó là học giả Nguyễn Thiếu Dũng, qua nhiều t́m ṭi và nghiên cứu, ông đă nêu ra một số chứng lư để minh chứng rằng Kinh Dịch là sáng tạo của người Việt Nam. Với sự thận trọng cần thiết, Thanhnien Online xin giới thiệu bài viết sau đây của học giả Nguyễn Thiếu Dũng để rộng đường tham khảo. Từ hai ngh́n năm trước khi chúng ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ, tổ tiên chúng ta ở thời đại Hùng Vương đă sáng tạo Kinh Dịch và dùng học thuyết này xây dựng nền tảng cơ bản cho văn hoá Việt Nam, nhờ thế trong suốt một ngh́n năm lệ thuộc Trung Hoa, chúng ta vẫn đứng vững không bị đồng hoá như các dân tộc ở Hoa Nam. Người Trung Hoa không biết từ thời điểm nào đă tiếp thu được Kinh Dịch của Việt Nam và họ cũng đă dùng Kinh Dịch để góp phần xây dựng nền tảng văn hoá của họ. Cho nên trong sinh hoạt, chúng ta có nhiều điểm giống họ, sau một ngh́n năm mất chủ quyền, ta mất luôn tác quyền Kinh Dịch và những ǵ ta nghĩ, ta làm thấy giống Trung Hoa ta đều tự nhận ḿnh học của Trung Hoa. Kỳ thật không phải như vậy. Người Trung Hoa rất trọng hướng Đông, khi họ tiếp khách, chủ nhà ngồi quay mặt về hướng Đông để tỏ chủ quyền. Trong thời lập quốc họ luôn luôn hướng về biển Đông, không kể Nam Kinh những Kinh đô danh tiếng của Trung Quốc đều lần lượt nối nhau tiến dần từ Tây Bắc sang Đông. Ngày nay những thành phố lớn của họ cũng đều tập trung ở bờ Đông. Thế mà trong Kinh Dịch họ phải công nhận hướng Nam là hướng văn minh, mặc dầu trong sử sách họ vẫn cho Hoa Nam là xứ man di. Mỗi khi cần bói Dịch họ đặt Kinh Dịch trên bàn thờ cho quay mặt về hướng Nam như hướng ngồi của Hoàng đế, rồi lạy bái cầu xin. Cử chỉ này cho thấy trong tiềm thức họ không quên nguồn gốc Kinh Dịch đến từ phương Nam, từ đất nước của các vua Hùng. Trong ṿng 60 năm trở lại đây một số nhà nghiên cứu Việt Nam đă trực giác thấy rằng Kinh Dịch là tài sản của Việt Nam nhưng khi nói như thế họ vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của truyền thuyết nên vẫn thừa nhận Phục Hy là nhân vật sáng tạo Kinh Dịch. Cho nên không tránh được mâu thuẫn. Ngày nay chúng ta có đầy đủ chứng lư để nói ngay rằng Kinh Dịch là sản phẩm của Việt Nam, do chính tổ tiên người Việt sáng tạo, trên chính quê hương Việt Nam với nhiều bằng chứng vật thể c̣n lưu dấu trên đồ gốm Phùng Nguyên, đồ đồng Đông Sơn. Phục Hy, Văn Vương chưa từng làm ra Dịch. 1) Chứng lư vật thể: Kinh Dịch xuất hiện tại Việt Nam một ngh́n năm trước khi có mặt tại Trung Quốc: Tại di chỉ xóm Rền, thuộc nền Văn hoá khảo cổ Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ đă đào được một chiếc nồi bằng đất nung (11, tr 642) trên có trang trí bốn băng hoa văn, mỗi băng nầy tương đương với một hào trong quẻ Dịch, theo phép đọc Hổ thể th́ đây chính là h́nh khắc của quẻ Lôi Thuỷ Giải. Đây có thể xem là chứng tích xưa nhất trên toàn thế giới hiện chúng ta đang có được về Kinh Dịch. Chiếc nồi báu vật vô giá này mang trên ḿnh nó lời cầu nguyện của tổ tiên chúng ta về cảnh mưa thuận gió ḥa, mong sao được sống một đời an b́nh không có họa thuỷ tai. Lôi Thuỷ Giải là mong được giải nạn nước quá tràn ngập (lũ lụt), hay nước quá khô cạn (hạn hán). Niên đại của Văn hoá Phùng Nguyên được Hà Văn Tấn xác định: ”Phùng Nguyên và Xóm Rền đều là các di chỉ thuộc giai đoạn giữa của văn hoá Phùng Nguyên. Hiện tại chưa có niên đại C14 cho giai đoạn này. Nhưng hiện nay chúng ta đă có một niên đại C14 của di chỉ Đồng Chỗ là di chỉ mà tôi cho là thuộc giai đoạn sớm của Văn hoá Phùng Nguyên: 3800 + 60 BP (Bln-3081) tức 1850 + 60BC (Hà Văn Tấn 1986: 181-182). Như vậy, các di chỉ Phùng Nguyên và Xóm Rền phải muộn hơn niên đại này. Nhưng Phùng Nguyên và Xóm Rền lại sớm hơn các niên đại C14 của lớp dưới di chỉ Đồng Đậu. Hiện nay lớp này có các niên đại: 3330 + 100BP (Bln-830), 3050 + 80BP (Bln-3711); 3015 + 65BP (HCMV 05/93); 3100 + 50BP (HCMV 06/93). Nếu tin vào các niên đại C14 này th́ giai đoạn giữa của văn hoá Phùng Nguyên nằm vào khoảng giữa thế kỷ 17 và thế kỷ 14 trước Công Nguyên... tương đương với văn hoá Thương ở Trung Quốc, thậm chí với giai đoạn sớm của văn hoá này (1, tr 578-579). Về phía Trung Quốc, tuy theo truyền thuyết cho là Kinh Dịch do Phục Hy thời đại tối cổ Trung Quốc tạo ra nhưng trên thực tế không có chứng cứ nào để xác nhận chuyện này. Triết gia đầy uy tín của Trung Quốc Phùng Hữu Lan đă khẳng định trong Trung Quốc Triết học sử: ’’Suốt thời nhà Thương chưa có Bát Quái” (bản Hồng Kông 1950, tr 457). Chưa có Bát Quái nghĩa là chưa có Kinh Dịch. Quẻ Dịch xuất hiện sớm nhất ở Trung Quốc là trên sách Tả Truyện thời Xuân Thu-Chiến Quốc (772-221 BC). Vào thời kỳ này trên một số lớn các trống đồng Đông Sơn ở Việt Nam đă có khắc h́nh quẻ Lôi Thuỷ Giải bằng 6 dải băng nghĩa là đầy đủ 6 hào. Vậy là rơ ràng Kinh Dịch đă có ở Việt Nam từ thời các Vua Hùng, so với chứng cứ cụ thể của Trung Quốc Kinh Dịch đă có ở nước ta trước Trung Quốc cả ngh́n năm. Chuyện này chẳng khác chi chuyện tổ tiên ta đă biết trồng lúa nước ngh́n năm trước Trung Hoa mà Trần Trọng Kim vẫn viết trong Việt Nam sử lược là người Trung Hoa có công dạy dân ta làm ruộng. 2) Chứng lư ngôn ngữ học: Một số tên quẻ Dịch là tên tiếng Việt không phải tiếng Trung Quốc: Người ta thường gọi Kinh Dịch hay Kinh Diệc và cứ đinh ninh Diệc là do Dịch đọc chệch đi, kỳ thật tổ tiên ta nói Kinh Diệc và người Trung Hoa đă đọc chệch đi thành Dịch. Tiếng Trung Hoa Dịch c̣n có thể đọc là Diệc(Xem Khang Hy Từ Điển). Diệc là một loài chim nước, có họ với loài c̣. Đây là những loài chim quen thuộc với đồng ruộng, với văn minh nông nghiệp, văn minh Văn Lang. Kinh Dịch là kết tinh của văn minh nông nghiệp, các nhà sáng tạo kinh Dịch Việt Nam lấy h́nh ảnh con diệc, con c̣ làm tiêu biểu cho hệ thống triết học của ḿnh là hợp lư, nhưng người Trung Quốc muốn làm biến dạng cho khác đi, cho rằng chữ Dịch là h́nh ảnh con tích dịch - một loại thằn lằn hay biến đổi màu sắc theo thời gian chẳng thân thiết gần gũi ǵ với người nông dân cả. Điều này đă được ghi chú rất rơ trên trống đồng Đông Sơn về sau sẽ giải rơ. Tên tám quẻ đơn Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài đều là tiếng Việt không phải là tiếng Trung Quốc. Các học giả Trung Hoa rất lúng túng khi giải nghĩa nguồn gốc tên những quẻ này v́ họ cứ cho đó là tiếng Hoa nên t́m măi vẫn không lư giải được. Ở đây chỉ dẫn một quẻ để minh chứng. Quẻ Ly không có nguồn gốc Trung Hoa, đây chỉ là chữ ghi âm tiếng Việt, một dạng chữ Nôm loại giả tá. Kinh Dịch bản thông hành ghi là Ly, âm Bắc Kinh đọc là Lĩ, nhưng bản Bạch Thư Chu Dịch đào được ở Mă Vương Đôi th́ lại ghi là La, âm Bắc Kinh đọc là lúo (đọc như lủa). Rơ ràng đây là cách ghi của hai người Trung Hoa ở hai nơi hoặc hai thời điểm nghe người Việt Nam nói là quẻ Lửa, một người bèn ghi là lĩ (Ly), một người lại ghi là lủa (La). C̣n người Việt Nam viết chữ Nôm Lửa th́ lại dùng chữ lă làm âm. Cả ba âm Ly, La, Lă đều là cận âm với âm lửa, dùng để ghi âm âm lửa. Như vậy quẻ Ly không phải là quẻ có nghĩa là ĺa hay là dựa như người Trung Hoa nghĩ mà chính là quẻ Lửa tức là quẻ Hoả như về sau họ đă dịch đúng nghĩa của nó. 3) Chứng lư đồ tượng: Kinh Dịch Trung Hoa thiếu một h́nh đồ trọng yếu, trong khi h́nh đồ này đang được cất giấu tại Việt Nam. Chứng tỏ Việt Nam mới là nước sáng tạo Kinh Dịch. Đồ tượng và quái tượng (quẻ) là những h́nh tượng cơ bản cấu tạo nên Kinh Dịch. Cả hai đều có những giá trị bổ túc cho nhau để h́nh thành Kinh Dịch. Đọc Dịch mà chỉ chú trọng đến quẻ không chú ư đến Đồ là một thiếu sót đáng tiếc v́ như thế là đă bỏ qua quá nửa phần tinh tuư của Dịch. Những ứng dụng quan trọng của Dịch đa phần đều căn cứ trên đồ, như thuyết trọng nam khinh nữ chi phối sâu đậm nhân sinh quan Trung Quốc thời kỳ phong kiến là ảnh hưởng Càn trọng Khôn khinh của Tiên Thiên Đồ, xem phong thuỷ, coi tử vi, học thuyết Độn Giáp, Thái Ất phát sinh ở Trung Hoa là do ảnh hưởng của Hậu Thiên Đồ. Y học, Vơ thuật, Binh Thư Đồ trận lừng danh của Trung Quốc đều từ các Thiên Đồ mà ra. Theo thuyết Tam tài, cơ sở để xây nên toà lâu đài Kinh Dịch th́ phải có ba Đồ chính là Tiên Thiên Đồ, Hậu Thiên Đồ và Trung Thiên Đồ nhưng suốt cả hai ngh́n năm nay, Trung Quốc chỉ lưu hành hai Đồ Tiên Thiên và Hậu Thiên. Người Trung Hoa tuyệt nhiên không t́m ra Trung Thiên Đồ, cuối cùng họ đành bó tay, rồi thản nhiên kết luận, không cần có Trung Thiên Đồ. Đă có Tiên Thiên Đồ làm thể và Hậu Thiên Đồ làm dụng là đủ lắm rồi. Đây chính là khuyết điểm lớn nhất của Dịch học Trung Quốc mà cũng là cái may lớn nhất cho ta để từ chỗ sơ hở này ta t́m ra chứng lư quan trọng nhất, quyết định nhất để xác nhận tác quyền của Việt Nam. Trung Quốc không có Trung Thiên Đồ, một Đồ quan trọng bậc nhất dùng làm la bàn để viết nên kinh văn các lời hào, Việt Nam lại cất giữ Trung Thiên Đồ! Vậy th́ ai là chủ nhân Kinh Dịch? Câu hỏi đă được trả lời, bí ẩn hai ngh́n năm đă được trưng ra ánh sáng. Tác giả bài này có may mắn là đă thiết lập được Trung Thiên Đồ. Đồ này quẻ Càn ở phương Nam, quẻ Đoài ở phương Đông Nam, quẻ Tốn ở phương Đông, quẻ Khảm ở phương Đông Bắc, quẻ Ly ở phương Bắc, quẻ Cấn ở Tây Bắc, quẻ Chấn ở Tây và quẻ Khôn ở phương Tây Nam. Đây chính là Đồ thứ ba trong số ba Thiên Đồ trọng yếu của Kinh Dịch mà người Trung Hoa không t́m ra. Nếu Tiên Thiên Đồ là Thiên Đồ, Hậu Thiên Đồ là Địa Đồ th́ Trung Thiên Đồ là Nhân Đồ nghĩa là Đồ nói về con người. Có một danh hoạ tài ba nào chỉ trong một h́nh vẽ có thể biểu đạt ba h́nh thái khác nhau về con người? Điều này chưa ai làm được, ngay cả máy móc tân tiến nhất, hiện đại nhất cũng không thể làm việc này. Thế mà Trung Thiên Đồ cùng một lúc có thể diễn tả ba trạng thái khác nhau đó: Trung Thiên Đồ có mục đích nói về những vấn đề liên quan đến con người cho nên h́nh đồ Trung Thiên có thể biểu thị ba khía cạnh khác nhau của con người về mặt sinh lư, về mặt siêu lư và về mặt đạo lư: a) Con người sinh lư: Quẻ Càn tượng cho bán cầu năo phải, Quẻ Khôn tượng cho bán cầu năo trái. Khi một người bị tai biến mạch máu năo ở bán cầu phải th́ tay chân bên trái thường bị liệt, ngược lại cũng thế. V́ Càn thuộc dương nên liên quan đến tay trái gồm hai quẻ Chấn dương và Cấn dương và v́ tay trái đă dương th́ chân trái lại thuộc về âm nên chân có quẻ Ly âm. Trái lại, bán cầu năo trái Khôn âm sẽ ảnh hưởng đến tay phải Trạch âm và Tốn âm cùng với chân Khảm dương. Điều này tương đồng với kết quả thực nghiệm của Leokadia Podhorecka (1986), tŕnh bày năm 1986 tại hội nghị quốc tế về Trường sinh học tại Zagrev về tính bất đối xứng phải - trái trong nhân thể (2, tr 117). H́nh đồ cũng thể hiện được y lư Đông Phương cho rằng Thiên khí tả truyền: Dương khí đi từ bên phải (Càn dương) sang bên trái (Cấn, Chấn dương), Địa khí hữu truyền: Âm khí đi từ bên trái (Khôn âm) sang bên phải (Đoài, Tốn âm). Con người muốn sống cần phải thở (Càn phế, chủ khí), sau đó phải được nuôi dưỡng bằng thức ăn (Khôn, tỳ vị). Con người khoẻ mạnh khi tâm (Ly) giao hoà với thận (Khảm), nếu tâm thận bất giao sẽ sinh tật bệnh, vị y tổ Việt Nam Lê Hữu Trác đă phát triển học thuyết này để chữa bệnh rất hiệu quả.
b) Con người siêu lư: Theo trăi nghiệm của các hành giả Yoga hoặc Khí công, Thiền, th́ cơ thể có bảy trung tâm năng lượng tác động chi phối sự sống của con người, gọi là bảy đại huyệt hay là bảy luân xa. Trung Thiên Đồ chính là biểu đồ hệ thống bảy luân xa đó, theo thứ tự từ dưới lên: luân xa 1 là Hoả xà Kundalinê chính là quẻ Ly hoả, Luân xa 2 là Mệnh môn quan chính là quẻ Khảm (thận thuỷ), Luân xa 3 là Đơn điền Ngũ Hành Sơn chính là quẻ Cấn sơn, Luân xa 4 là Luân xa tâm gồm hai quẻ Tốn (tâm âm) và Chấn (tâm dương), luân xa 5 là trung tâm Ấn đường chính là quẻ Đoài, luân xa 6 nằm ở chân mi tóc hay huyệt Thượng tinh mà Đạo giáo thường gọi là Kim mẫu chính là quẻ Khôn (Địa mẫu), Luân xa 7 là huyệt Thiên môn Bách hội chính là quẻ Càn Thiên.
c) Con người đạo lư: Trung Thiên Đồ c̣n biểu đạt một mẫu người đạo lư tâm linh: quẻ Sơn Tượng cho tính người tham lam muốn tích luỹ như núi (Tham), quẻ Ly Hoả tượng cho người có tính sân như lửa (Sân), quẻ Khảm Thuỷ tượng cho người có tính si như nước đổ dồn về chỗ thấp (Si), ba thói xấu đó sẽ dẫn con người đến chỗ ác tượng trưng bằng quẻ Tốn (tâm âm, nhục tâm, vọng tâm), (như thuyết Tam Độc của Phật Giáo). Nhưng nếu con người biết phát triển tâm từ bi như t́nh yêu của mẹ tượng bằng quẻ Khôn (Địa Mẫu - Từ Bi), khiến tâm thanh tịnh an lạc tượng bằng quẻ Đoài (Vui, Hỉ), lúc nào cũng sẵn ḷng cảm thông tha thứ cho người, tượng bằng quẻ Càn (Xả) th́ con người sẽ đạt được cơi phúc, tượng bằng quẻ Chấn (Tâm dương, Chân tâm, Đạo tâm), (như thuyết Tứ vô lượng tâm của Phật giáo). 4) Phát hiện Trung Thiên Đồ trong truyền thuyết Kinh Dịch có tám quẻ đơn: Càn c̣n gọi là Thiên có tượng là trời, là vua, là cha. Khôn c̣n gọi là Địa có tượng là đất, là hoàng hậu, là mẹ. Khảm c̣n gọi là Thuỷ có tượng là nước, là cá (ngư). Ly c̣n gọi là Hoả có tượng là lửa. Cấn c̣n gọi là Sơn có tượng là núi. Đoài c̣n gọi là Trạch có tượng là đầm (hồ). Chấn c̣n gọi là Lôi có tượng là sấm, là con trai trưởng. Tốn c̣n gọi là Phong có tuợng là gió, là cây (mộc). Khi tám quẻ đơn chồng lên nhau ta được 64 quẻ kép, nhưng khi tám quẻ đơn được đặt trên ṿng tṛn ta sẽ được ba thiên đồ căn bản: Tiên Thiên Đồ thường được người Trung Hoa gọi là Tiên Thiên Đồ Phục Hy v́ cho là do Phục Hy chế ra, Hậu Thiên Đồ cũng được người Trung Hoa gọi là Hậu Thiên Đồ Văn Vương v́ cho là do Văn Vương thiết lập, ở đây chúng tôi chỉ gọi là Tiên Thiên Đồ và Hậu Thiên Đồ v́ đă chứng minh được Kinh Dịch do người Việt Nam sáng chế nên Phục Hy, Văn Vương chẳng can dự ǵ vào việc sáng tạo các thiên đồ. Dịch đồ thứ ba chính là Trung Thiên Đồ đă được tổ tiên Việt Nam cất giấu trong truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ. Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ không chỉ là một huyền sử về nguồn gốc dân tộc "Con Rồng cháu Tiên", một thông điệp về t́nh đoàn kết, nghĩa yêu thương giữa các dân tộc anh em, đồng bào mà c̣n chứa đựng một thông tin về di sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam đă được tổ tiên chúng ta bí mật cất giữ trong đó: tôi muốn nói đến Kinh Dịch đứa con lưu lạc của Việt Nam đă được Trung Quốc nuôi dưỡng và đă thành danh ở đó. Nếu chúng ta kết hợp những thông tin nằm rải rác trong các truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ, truyện Hồ tinh, Mộc tinh, Ngư tinh ta sẽ thiết lập được một Trung Thiên Đồ mà người Trung Quốc chưa hề biết đến. Theo Kinh Dịch, Lạc Long Quân thường được nhân dân gọi là Bố mỗi khi có việc cần giúp đỡ có thể kư hiệu bằng quẻ Càn có tượng là vua, là cha. Lạc Long Quân thường sống ở Thuỷ phủ kư hiệu là quẻ Khảm có tượng là nước. Lạc Long Quân diệt được Hồ tinh là con cáo chín đuôi sống hơn ngàn năm ở đầm Xác Cáo nay là Hồ Tây, sự kiện này có thể kư hiệu bằng quẻ Đoài tức quẻ Trạch có tượng là đầm. Đất Phong Châu thời Thượng cổ có cây Chiên đàn sống hàng ngàn năm, chim hạc thường đến đậu ở đấy nên nơi đó c̣n gọi là đất Bạch Hạc (nay thuộc tỉnh Phú Thọ), lâu ngày cây hoá thành yêu tinh dân gọi là thần xương cuồng, Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra sức đánh đuổi, cứu dân thoát khỏi sự bức hại của xương cuồng. Sự kiện này có thể kư hiệu bằng quẻ Tốn c̣n gọi là quẻ Phong có tượng là mộc. Lạc Long Quân cũng có công diệt được ngư tinh, con yêu ngư xà ăn thịt người, chuyện này cũng thuộc quẻ Khảm kư hiệu ở trên. Truyền thuyết thường nói chung là Lạc Long Quân (quẻ Càn) diệt hồ tinh (quẻ Đoài), diệt mộc tinh (quẻ Tốn), diệt ngư tinh (quẻ Khảm) để cứu dân, từ đó ta đă có được một vế của Trung Thiên Đồ: Càn - Đoài - Tốn - Khảm. Theo truyền thuyết Lạc Long Quân nói với Âu Cơ (được tôn xưng là Quốc mẫu, là mẹ, kư hiệu là quẻ Khôn): (1, tr 30). Như thế là truyền thuyết đă xác định rất rơ tính cách tương phản giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ. Long Quân thuộc quẻ Khảm (Thuỷ) th́ Âu Cơ thuộc quẻ Ly (Hoả). Truyền thuyết kể tiếp: "Âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc) suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang". Lên Phong Châu là lên núi kư hiệu là quẻ Cấn có tượng là núi, tôn người con cả kư hiệu là quẻ Chấn v́ Chấn có tượng người con trưởng. Ta lại có thêm vế thứ hai của Trung Thiên Đồ: Ly - Cấn - Chấn - Khôn. Đến đây ta đă khai quật được Trung Thiên Đồ từ lớp ngôn ngữ truyền thuyết, các quẻ xếp theo thứ tự Càn - Đoài - Tốn - Khảm - Ly - Cấn - Chấn - Khôn theo chiều ngược kim đồng hồ. 5) Vai tṛ Trung Thiên Đồ trong việc h́nh thành văn bản Kinh Dịch: a) Bố cục Kinh Dịch: Kinh Dịch có 64 quẻ, 30 quẻ đầu thuộc về thượng kinh, 32 quẻ sau thuộc về hạ kinh. Nh́n vào cách sắp đặt vị trí các quẻ Dịch trong bản kinh văn thông hành ta không thể không nghĩ rằng các nhà làm Dịch đă sử dụng Trung Thiên Đồ như là la bàn để phân bố các quẻ. Mở đầu kinh văn là hai quẻ Càn số 1, Khôn số 2 đúng như vị trí Càn Khôn đứng bên nhau trên Trung Thiên Đồ, cuối thượng kinh là hai quẻ Khảm số 29 và Ly số 30 đúng như vị trí Khảm Ly dưới Trung Thiên Đồ. Mở đầu hạ kinh là hai quẻ Trạch Sơn Hàm số 31 và quẻ Lôi Phong Hằng số 32 đúng như vị trí quẻ Đoài Trạch đối qua tâm với quẻ Cấn Sơn tạo thành quẻ Trạch Sơn Hàm, quẻ Chấn Lôi đối qua tâm với quẻ Tốn Phong tạo thành quẻ Lôi Phong Hằng nằm giữa Trung Thiên Đồ. Cuối hạ kinh là hai quẻ Thuỷ Hoả Kư Tế số 63 và Hoả Thuỷ Vị Tế số 64 đúng như vị trí quẻ Khảm Thuỷ giao hoán với quẻ Ly Hoả tạo thành. Khác hẳn với Tiên Thiên Đồ và Hậu Thiên Đồ các quẻ Càn Khôn Ly Khảm đứng đối nhau qua tâm, biểu hiện trạng thái phân ly, trên Trung Thiên Đồ các quẻ Càn Khôn Ly Khảm đứng gần nhau từng đôi một biểu hiện trạng thái giao hội. Ở tự nhiên mọi vật có thể đối nghịch, vừa tương phản vừa tương thành. Nhưng ở con người th́ khác, con người là một chỉnh thể, một thái cực, một toàn đồ âm dương phải tương hội điều hoà, nếu một bên thiên thắng con người sẽ bất ổn, phát sinh bệnh tật. b) Đặt tên cho quẻ Dịch: Nhiều nhà chú giải Kinh Dịch Trung Quốc khi giải thích nghĩa chữ giao của hào thượng cửu quẻ Thiên Hoả Đồng nhân số 13 "Đồng nhân vu giao" thường chỉ dừng lại ở vấn đề chính trị xă hội nên hiểu giao theo một nghĩa rất hẹp, họ cho giao là vùng đất ngoại ô kinh thành nếu muốn đồng th́ nên t́m người ở xa mà liên hiệp. Hiểu như vậy th́ không sát nghĩa và không đúng với lập ư của người làm ra Kinh Dịch. Có lẽ v́ người Trung Quốc trong tay không có la bàn Trung Thiên Đồ là đồ đă bị Tổ tiên người Việt Nam cất giấu rất kỹ không truyền ra ngoài nên không hiểu rằng giao tức là giao hội, khi hoả xà Kundalinê từ lâu cuộn ḿnh ở đốt xương cùng có đủ điều kiện lên hợp nhất với thần Vishnou cư trú ở huyệt Thiên môn nghĩa là khi luân xa số 1 là quẻ Ly Hoả hoà nhập với luân xa số 7 là quẻ Càn Thiên là lúc con người đạt đến trạng thái toàn thức, hạnh phúc hoàn hảo nhất, con người đạt đến mức độ giao hội cùng vũ trụ, tha nhân, v́ thế mới đặt tên cho quẻ này là Thiên Hoả Đồng nhân. Giao nằm ở hào thượng cửu (theo Dịch lư thuộc tài thiên), tức là ở mức độ đồng nhân cao nhất, mức độ hoà đồng siêu việt, Nếu hiểu giao như nghĩa các chữ Đông giao (ngoại ô phía đông), Nam giao (ngoại ô phía Nam) th́ không phù hợp với cấu trúc quẻ Dịch, hiểu như vậy là mặc nhiên nhận giao thuộc về đất phải nằm ở hào hai, tài Địa. Cũng như quẻ Đồng Nhân, các Dịch học gia Trung Quốc cũng bị hạn chế khi hiểu quẻ Đại Hữu chỉ là sở hữu tài sản vật chất họ không ngờ rằng Đại Hữu là sở hữu tài sản tinh thần vĩ đại, quẻ này chính là ghi lại thành tựu một quá tŕnh công phu trăi nghiệm của hành giả đă hợp nhất với vũ trụ, mà mỗi hào mô tả thành quả một chặng đường liên tục từ hạ đẳng công phu đến thượng đẳng công phu. c) Đọc lại Kinh Dịch: Nhờ có Trung Thiên Đồ ta có thể đọc lại Kinh Dịch một cách chính xác hơn, điều này nghe có vẽ nghịch lư v́ ta làm sao thông thạo ngôn ngữ Trung Hoa hơn người Trung Hoa được, nhưng v́ ta có Trung Thiên Đồ là la bàn tổ tiên ta dựa vào đấy để viết các lời hào nên chúng ta có cách đọc thuận lợi hơn. Ở đây tôi chỉ xin dẫn ra một thí dụ để minh chứng. Kinh Dịch có ba quẻ nói đến Tây Nam, quẻ Giải: "Lợi Tây Nam", quẻ Kiển: "Lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc”, quẻ Khôn: "Tây Nam đắc bằng, Đông Bắc táng bằng”. Căn cứ vào Hậu Thiên Đồ, quẻ Khôn (đất) nằm ở hướng Tây Nam, quẻ Cấn (núi) nằm ở hướng Đông Bắc, Vương Bật, người thời Tam Quốc, trong Chu Dịch chú giải thích như sau: ”Tây Nam là đất bằng, Đông Bắc là núi non. Từ chỗ khó mà đi đến chỗ bằng, cho nên khó khăn sẽ hết, từ chỗ khó mà đi lên núi, th́ sẽ cùng đường”, Khổng Dĩnh Đạt trong Chu Dịch chính nghĩa viết: ”Tây Nam thuận vị là hướng bằng phẳng dễ đi, Đông Bắc hiểm vị là chỗ trắc trở khó khăn. Đường đi lắm trắc trở, tất cả đi đến chỗ bằng dễ đi th́ khó khăn sẽ hết, trái lại nếu đi vào chỗ hiểm th́ càng bế tắc cùng đường. Đi ở phải hợp lư vậy”, (3, tr 846).Trương Thiện Văn trong Từ điển Chu Dịch giải thích: ”Lợi cho việc đi về đất bằng Tây Nam, không lợi cho việc đi về phía núi non đông bắc. Tây nam tượng trưng cho đất bằng, Đông bắc tượng trưng cho núi non. Đây nói ở thời kiển nạn mọi hành động đều phải tránh khó khăn hiểm trở, phải hướng về phía bằng phẳng th́ mới có thể vượt qua kiển nạn,v́ vậy nói lợi tây nam, bất lợi đông bắc”, (3, tr 907). Nói chung lời giải thích của đa số Dịch gia Trung Quốc đều dựa vào vị trí các quẻ trên Hậu Thiên Đồ và đều cho núi là trở ngại, nhưng giải như vậy không thể khớp với Dịch lư, quẻ Kiển tức là quẻ Thuỷ Sơn Kiển, h́nh tượng nước ngập núi, trận đại hồng thuỷ. Vậy núi chỉ là trở ngại thứ yếu. Sự thật đối với người cổ đại núi tuy có khổ ải hơn nơi bằng phẳng nhưng không phải là trở ngại đáng kể. Đối với người cổ đại núi là nhà, hang hốc là nhà. Núi che chở cho họ, cung cấp thực phẩm, đùm bọc nuôi dưỡng họ. Nói cho cùng với tượng quẻ như vậy, người ta không lo về núi mà nỗi lo triền miên chính là nước. Suốt thời cổ đại, nhất là ở Việt nam, chiến tranh bất tận là chiến cuộc giữa NGƯỜI với NƯỚC. Con người khơi ḍng lấy đất canh tác, đẩy lùi biển để giành đất sống. Khi con người thắng biển nghĩa là khi Sơn tinh thắng Thuỷ tinh, Kiển nạn được giải. Vấn đề lật ngược, quẻ Thuỷ Sơn Kiển lật thành quẻ Sơn Thuỷ Mông, Thoán từ ca ngợi chiến công thần thánh này là Lợi Trinh (thắng lợi bền chặc). Ở Hậu Thiên Đồ cũng như ở Trung Thiên Đồ, quẻ Khôn cùng ở vị trí Tây Nam nhưng ở vị trí Đông Bắc th́ quẻ của hai đồ hoàn toàn ngược nhau. Nếu Hậu Thiên Đồ là quẻ Cấn (núi) th́ ở Trung Thiên Đồ lại là quẻ Khảm (nước). Ta thấy rơ muốn hiểu nghĩa lời hào của ba quẻ đó không thể dựa vào vị trí quẻ trên Hậu Thiên Đồ, v́ không chính xác. Chỉ có thể dựa vào vị trí quẻ trên Trung Thiên Đồ mới làm sáng tỏ được nghĩa quẻ. Con người không ngại núi mà chỉ e sông, e biển. Câu lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc không phù hợp với thực tiển Trung Quốc v́ con đường sống của họ luôn dịch chuyển từ Tây Bắc sang Đông Bắc, hành tŕnh các kinh đô của các triều đại Trung Hoa thường đi từ núi ra biển:Tây An - Trường An - Lạc Dương - Khai Phong - Bắc Kinh. Đó là hành tŕnh ngược với lời hào ba quẻ: Giải, Khôn, Kiển. Trong khi đó lời hào ba quẻ trên lại hoàn toàn phù hợp với thực tiển Việt Nam. Đối với Việt Nam, Đông Bắc mới thực là bất lợi, đó là biển cả là cửa ngỏ cho phong kiến phương bắc xâm lược. Việt Nam chỉ có con đường sống là mở nước về phương Nam và Tây nam. Lịch sử Việt Nam đă chứng thực lời đó, đă hai lần chúng ta tiến về hướng Tây Nam, đợt đầu tiến về đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh, đợt sau tiến về vựa lúa châu thổ sông Cửu Long. Lời hào trên vẫn c̣n là lời dự báo ứng nghiệm với Việt Nam ngày nay: Tây Nam đắc bằng khi gia nhập khối Đông Nam Á, con đường Tây nam đang ở thế thuận lợi. 6/ Kết luận: Chúng ta c̣n nhiều chứng lư từ vật thể đến phi vật thể, từ ngôn ngữ đến văn bản, nhưng mấu chốt hơn hết để chứng minh Kinh Dịch do Tổ tiên người Việt Nam sáng tạo vẫn là vai tṛ của Trung Thiên Đồ. Khi một người muốn chứng minh một vật là sản phẩm do chính ḿnh đúc ra th́ ngườI đó phải trưng ra khuôn đúc, ở đây cũng vậy Trung Quốc không có Trung Thiên Đồ giống như không có khuôn đúc th́ làm sao bảo rằng Trung Quốc đă sáng chế ra Kinh Dịch. Thật ra Trung Quốc chỉ có công phát huy Kinh Dịch nhờ đó Kinh Dịch mới có bộ mặt vĩ đại như ngày nay, cũng như họ đă làm rạng rỡ cho Thiền nhưng không ai có thể quên Thiền có nguồn gốc từ Phật giáo Ấn Độ. Đă đến lúc cái ǵ của César phải trả lại cho César. Khi chúng ta nhận ra rằng Kinh Dịch là di sản của Tổ tiên ta sáng tạo, ta sẽ hiểu được do đâu ta cũng cùng giải đất với các dân tộc vùng Hoa Nam, núi liền núi, sông liền sông mà họ bị đồng hoá c̣n chúng ta th́ không. Kinh Dịch chính là cuốn Cổ văn hoá sử của Việt Nam mà Tổ tiên chúng ta c̣n lưu lại ngày nay, tuy có bị sửa đổi nhuận sắc nhiều lần nhưng những vết tích của nền văn minh thời các vua Hùng dựng nước vẫn c̣n đậm nét trong nhiều quẻ Dịch. Người sáng tạo Kinh Dịch đă dựa vào Trung Thiên Đồ để bố cục vị trí các quẻ đúng như bản thông hành hiện đang phổ biến. Các Dịch học gia Trung Quốc căn cứ vào vị trí các quẻ theo Hậu Thiên Đồ nên có nhiều câu trong Kinh văn bị họ giảng sai với ư nguyên tác, muốn giảng cho đúng phải dựa vào Trung Thiên Đồ, không thể làm khác được. Trung Thiên Đồ giữ một vị trí quan trọng và quyết định như vậy đă được Tổ tiên Việt Nam cất giấu rất kĩ trong truyền thuyết Lạc Long Quân Âu Cơ. Từ truyền thuyết này có thể t́m lại Trung Thiên Đồ. Trung Thiên Đồ c̣n được khắc ghi cẩn trọng trên Trống đồng Đông Sơn có điều kiện tác giả bài này sẽ công bố sau. Chúng tôi c̣n nhiều minh chứng khác để kiện toàn chứng lư cho kỳ án này. Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, Kinh Dịch chính là sáng tạo của Tổ tiên Việt Nam. Muốn hiểu đúng bản chất văn hoá Việt Nam không thể không khảo sát Kinh Dịch, như là sáng tạo của Việt Nam.
Nguyễn Thiếu Dũng |
|
Phát hiện kinh dịch thời đại Hùng Vương 14:05:00, 30/08/2005 |
||||
|
|
||||
Đọc sử ta thường gặp một nghịch lư: càng gần thời điểm xảy ra sự kiện ta cứ đinh ninh có nhiều thông tin chính xác hơn thời gian xa sự kiện, nhưng có khi lại ngược hẳn, càng xa sự kiện xảy ra càng có cơ hội phát hiện nhiều thông tin gần với sự thực. Trường hợp thời đại Hùng Vương không phải là ngoại lệ. Các sử gia dưới thời các vương triều tuy ở gần thời đại Hùng Vương hơn chúng ta nhưng họ lại bị hạn chế nhiều mặt nên không có được những thông tin xác thực về thời đại này. Với các sử thần Lê Văn Hưu, Phan Phù Tiên, Lê Tung, Nguyễn Nghiễm, Ngô Th́ Sĩ, Hùng Vương là thời đại huyền sử, không đáng tin chỉ có thể để ở phần ngoại sử, nhưng với các nhà sử học ngày nay thời đại Hùng Vương là thời đại có thực, không phải là thời man di như dư luận nhầm lẫn mà lại là thời đại chính sử tồn tại gần hai ngh́n năm, là buổi b́nh minh rực rỡ của lịch sử dân tộc, một thời mở nước, dựng nước vẻ vang, oanh liệt của Việt Nam. Các sử gia các thời đại trước chỉ dựa vào truyền thuyết và một số thông tin không được khách quan và chuẩn xác của các sử gia Trung hoa như Tư Mă Thiên, Lịch Đạo Nguyên, Cao Hùng Trưng... nên không thể tiếp cận với sự thực. Các sử gia ngày nay được sự hỗ trợ của khoa khảo cổ học, đă phát hiện được nhiều di chỉ, nhiều di vật minh chứng hùng hồn cho kết luận của ḿnh, tất nhiên có tính thuyết phục hơn. Đây là một kinh nghiệm rất tốt để chúng ta giải quyết vấn nạn ai là chủ nhân Kinh Dịch: Trung Hoa hay Việt Nam? Ta không thể chỉ dựa vào truyền thuyết, truyền thống để t́m đáp án, không thể nói một cách thiếu tinh thần khoa học, nhiều người đă nói như thế, nhiều đời đă nói như thế, ngày nay phải tin như vậy, không thể nói khác được. Cần phải có thái độ nghiêm túc, trung thực, ta chỉ tin vào bằng chứng, vật chứng nào nói lên được sự thực, không tin vào định kiến. Muốn xác định Kinh Dịch là sản phẩm của Việt Nam th́ phải trưng đủ chứng lư, ngược lại muốn bảo lưu định kiến cho Kinh Dịch là của Trung Quốc th́ cũng phải trưng đầy đủ vật chứng, lư chứng không thể cứ y theo lời truyền, xưa nói làm sao nay tin làm vậy. Trong học thuật chỉ có sự thực là chân lư, không cần tư kiến, không cần tự ái, không nên tự tôn cũng đừng tự ti. Tất nhiên không ai có thể phủ nhận giá trị siêu đẳng của triết học Trung hoa, văn hoá Trung Hoa đă ảnh hưởng mạnh mẽ đến các lân bang như Nhật Bản, Triều Tiên và cả Việt Nam, nhưng không phải v́ vậy mà tất cả những suy tư có tầm cỡ của các nước láng giềng nhỏ bé của Trung Quốc có được đều không thể là của họ, mà chỉ Trung Hoa mới có. Cần đổi mới cách nh́n. Các tác giả sách Thời đại Hùng Vương có nhận xét: "Nghiên cứu kỹ thuật đồ đá, phương pháp sản xuất đồ gốm, nghề luyện kim, nghệ thuật tạo h́nh và âm nhạc thời đại Hùng Vương, chúng ta thấy người thời đại này đă có những tri thức nhất định về khoa học, kỹ thuật như cơ học, vật lư học, toán học, đă nắm vững phương pháp cách điệu, đă biết thể hiện tính hài hoà trong hoạ cũng như trong nhạc. Xă hội nước Văn Lang là xă hội trong đó nông nghiệp đă phát triển, nghề luyện kim đă đạt được những thành tựu rực rỡ, nghệ thuật và văn học dân gian, đặc biệt là mỹ thuật đă đi đến chỗ tinh vi. Tất cả đă chứng minh tư duy của con ngựi đă phát triển. Thế th́ tại sao suốt thời cổ đại, xă hội Việt Nam không có nhà tư tưởng nào? (1,tr. 259). Để trả lời câu hỏi bức thiết này, thiết nghĩ chỉ có hoa văn trên đồ gốm Phùng Nguyên và hoa văn trên đồ đồng Đông Sơn là đáp ứng được. Đây là cơ sở để truy t́m dấu tích Kinh Dịch của Thời đại Hùng Vương là bằng chứng xác minh Kinh Dịch do người Văn Lang chế tác. Kể từ khi các nhà khảo cổ đào được trống đồng Đông Sơn đến nay hơn 100 năm, nhưng những hoa văn khắc trên đồng hay gốm chỉ được quan niệm như là những h́nh hoạ trang trí, v́ vậy hoa văn chỉ được nghiên cứu về mặt nghệ thuật, mặt quan trọng nhất mà hoa văn kư tải là tư duy của người xưa ít được chú ư. Một khi đă thức nhận được hoa văn chính là những đồ án có liên hệ đến những quẻ Dịch, ta sẽ hiểu được những suy tư của người xưa gởi vào trong đó. Dùng Kinh Dịch để chuyển tải tư duy dưới h́nh thức những hoa văn trang trí, những người vẽ đồ án hoa văn thời Hùng Vương đă biết kết hợp hài hoà giữa tư tưởng và nghệ thuật. Họ chính là những nhà tư tưởng, những triết gia của thời đại, của đất nước Việt Nam và của cả muôn đời. Cách tŕnh bày Kinh Dịch dưới dạng hoa văn cho thấy họ có tư duy linh hoạt, sáng tạo, siêu đẳng. Họ bố trí một hào thành một dải băng, xác định quẻ để thể hiện tư tưởng họ muốn, dải băng rộng hẹp tuỳ yêu cầu trang trí, yêu cầu nghệ thuật, yêu cầu tư duy phối hợp nhau một cách nhuần nhuyễn, bay bổng không bị câu thúc bởi h́nh thức nào. Kinh Dịch thiết lập trên cơ sở học thuyết âm dương. Dân tộc nào cũng có khái niệm về sự đối lập trong vũ trụ: sáng/tối, lớn/nhỏ, nóng/lạnh, nam/nữ. Đối lập có khi đối kháng, huỷ diệt mà lại phải cần có nhau để tồn tại (tương thành). Những nhà sáng tạo Kinh Dịch Văn Lang vận dụng tối đa học thuyết này để xây dựng Kinh Dịch. Họ thể hiện tư duy này trên trống đồng, trên đồ gốm. Ta có thể dựa vào trống đồng Ngọc Lũ để khảo sát. Trống đồng Ngọc Lũ được phát hiện năm 1893, trống được thờ ở đ́nh làng Ngọc Lũ, huyện B́nh Lục, tỉnh Hà Nam, hiện được trưng bày tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Đây là báu vật của quốc gia. Trong số trống Đông Sơn đă được phát hiện, Ngọc Lũ là trống có kích thước to nhất, có hoa văn phong phú nhất, thể hiện kỹ thuật đúc đồng cao cấp của người thợ tài hoa thời đại Hùng Vương.
Mặt trống Ngọc Lũ kể từ trung tâm trở ra có 16 vành. Chính giữa mặt trống là h́nh mặt trời có 14 tia. Ta chú ư hai vành 8 và 10. Vành 8 có hai nhóm, mỗi nhóm có 10 con hươu cách nhau bằng hai tốp chim bay, một tốp có 6 con, một tốp 8 con. Hươu đi, chim bay ngược chiều kim đồng hồ. Hươu đực đi trước theo sau là hươu cái, cứ nối tiếp nhau hết đực đến cái. Đây là cách thể hiện h́nh tượng âm dương của các nhà tạo Dịch. Cái thuộc âm, đực thuộc dương. Vành 10 có tất cả 36 con chim gồm 18 chim đang bay, và 18 chim đang đậu, cứ một chim bay kèm một chim đậu làm thành một nhóm. Đây cũng là cách thể hiện h́nh tượng âm dương trong trạng thái đối lập một động, một tĩnh. Chim bay là động, chim đậu là tĩnh. Động thuộc dương, tĩnh thuộc âm. Chim bay giang rộng cánh, đuôi dài kéo ra phía sau, mỏ dài vươn ra phía trước như muốn chiếm lĩnh không gian, một phong cách bành trướng. Chim đậu th́ cúi đầu, rụt mỏ, đuôi ngắn như muốn thu súc. Hai trạng thái âm dương đối lập. Âm dương nối tiếp nhau vận hành không ngừng làm nên cuộc sống. Trên vành số 8 tại sao lại có một tốp chim bay 8 con và một tốp chỉ có 6 con. Sao ở đây lại có sự so le như vậy? Thường đối xứng phải tôn trọng sự cân đối, ở đây sao có sự phá cách táo bạo như thế? Ấy là v́, mục đích của các nhà trang trí chỉ muốn thể hiện tư duy Kinh Dịch, 6 con là 6 hào của một quẻ kép, thành phần cơ bản của Dịch; 8 con kia tượng trưng cho 8 quẻ đơn cơ bản của Dịch. Số 6 và 8 này sẽ c̣n lặp đi lặp lại trên các trống đồng khác. Đi liền với vành 8 ở vành 10 c̣n thể hiện rơ hơn. Con số 36 và con số 18 sẽ giúp ta hiểu thêm ư đồ của các nhà tạo mẫu hoa văn trên trống đồng.
Ta biết toàn bộ quẻ đơn trong Kinh Dịch chỉ có 8 quẻ, nếu
đánh số quẻ từ 1 đến 8 và lấy tổng số ta sẽ được con số 36,
con số này thể hiện bằng 36 con chim. Trên ba thiên đồ của
Kinh Dịch: Tiên Thiên Đồ, Trung Thiên Đồ, Hậu Thiên Đồ đều
có 8 quẻ đơn, gồm có 4 quẻ thuộc nghi dương là Càn, Khảm,
Cấn, Chấn và 4 quẻ thuộc nghi âm là Khôn, Ly, Tốn, Đoài.
Nghi âm và nghi dương đều có số hào âm và hào dương bằng
nhau. Do đó tổng 36 chia 2 sẽ cho con số 18, và tất nhiên
được thể hiện bằng 18 chim bay thuộc dương và 18 chim đậu
thuộc âm. Thơ Thiệu Khang Tiết có câu: "Tam thập lục cung đô thị xuân" (36 cung đều tràn đầy xuân ư). Theo Thiệu Khang Tiết, Kinh Dịch có 64 quẻ gồm 8 quẻ bất dịch (đảo ngược vẫn là h́nh quẻ đó) và 28 quẻ phản dịch (đảo ngược thành quẻ khác) nghĩa là 64 = 8 + (28 x 2) do đó tiên sinh cho rằng Kinh Dịch có 36 cung (36 = 8 +28). Thượng Kinh có 18 cung gồm 6 quẻ bất dịch và 12 quẻ phản dịch. Hạ Kinh gồm 2 quẻ bất dịch và 16 quẻ phản dịch. Trên mặt trống Ngọc Lũ c̣n có hai dải băng răng cưa thuộc vành 12 và 16 (2,tr. 24). Mỗi băng răng cưa do hai lớp tam giác đối đỉnh tạo thành, mỗi lớp tam giác gồm nhiều tam giác nhỏ có đỉnh nhọn như răng cưa. Người ta đúc nổi một lớp tam giác (màu đen), hệ quả lớp nổi này tự tạo ra một lớp tam giác ch́m (màu trắng). Đặc biệt (ở trống Hoàng Hạ,Sông Đà) mỗi tam giác của lớp ch́m đều có một hoặc hai chấm nhỏ. "Một số người cho rằng tam giác là h́nh ảnh dăy núi và v́ thường thấy băng tam giác viền vành ngoài cùng và trong cùng của mặt trống cho nên cho rằng đó là h́nh ảnh các dăy núi bao quanh một không gian rộng lớn. Dùng h́nh tam giác biểu thị núi thậm chí trở thành văn tự chỉ núi như trong văn tự cổ Trung Quốc, Ai Cập là hiện tượng thực tế. (3,tr. 114). Đó là quan điểm của Nguyễn Duy Hinh, nh́n theo phong cách hội hoạ, tam giác là núi. Nếu nh́n theo quan điểm Dịch học, ta sẽ thấy những hoạ tiết nầy thể hiện h́nh tượng âm dương cùng một lối tư duy như vành 8 và 10. Tam giác nổi tượng h́nh cho năng lượng dương, tam giác ch́m tượng h́nh cho năng lượng âm, các tam giác này tạo thành hai lớp răng cưa khớp vào nhau, giống như hai bánh răng cưa trong một cổ máy đang vận hành ăn khớp với nhau, như ngày và đêm quyện vào nhau dịch chuyển theo thời gian. Nói theo cách của Dịch Truyện là "cương nhu tương thôi nhi sinh biến hoá". Cương là dương, nhu là âm, âm dương thúc đẩy nhau mà sinh ra biến hoá. (Hệ từ thượng truyện, .II, 2). Trong h́nh đồ răng cưa này, có một điểm đặc biệt, cần chú ư các chấm nhỏ màu đen trên tam giác ch́m, các hoạ tiết này không chỉ đơn thuần dùng để trang trí, để làm nổi bật sự hiện hữu của tam giác ch́m mà hàm ư đó là điểm dương trong âm, nhấn mạnh học thuyết rất phổ biến trong Dịch học: "trong âm có dương, trong dương có âm". H́nh đồ răng cưa ở đây có thể là tiền thân của đồ Thái cực sau này, đó là đồ có h́nh hai con cá âm dương, quyện vào nhau, trong cá âm có một mắt dương, trong cá dương có một mắt âm, tượng trưng cho thuyết âm dương gắn với nhau, tương hoại, tương thành. Đồ Thái Cực này ngày nay được dùng làm biểu tượng cho Dịch. Trong bài "Kinh Dịch di sản sáng tạo của Việt Nam", tôi đă giới thiệu chiếc nồi bằng đất nung thuộc văn hoá khảo cổ Phùng Nguyên được phát hiện tại di chỉ Xóm Rền, có trang trí bốn băng hoa văn mà nếu đọc theo phép hổ thể th́ đó là h́nh tượng quẻ Lôi Thuỷ Giải (cầu mưa hoặc cầu giải hạn), th́ trên trống đồng Đông Sơn cách trang trí truyền thống này lại được tiếp nối và thể hiện rơ nét hơn. Trên trống Ngọc Lũ, trên mặt trống, trên tang trống hay cả thân trống đều mang chứng tích này. Ở đây tôi chỉ lấy một hoạ tiết mẫu để phân tích, đó là hoạ tiết gồm 12 dải băng ,trích theo sách "Những trống đồng Đông Sơn đă phát hiện ở Việt Nam" trang 172 ,h́nh số 6, h́nh vũ sĩ. (ghi chú: các tác giả sđd gọi chung hoạ tiết này là băng hoa văn h́nh học, gồm có 6 vành, cụ thể vành 1 và 6 là những chấm nhỏ, vành 2 và 5 là văn răng cưa có chấm ở đỉnh, vành 3 và 4 là ṿng tṛn đồng tâm có chấm giữa và có tiếp tuyến (tr. 29).Tôi gọi vành là băng và cho là có 12 băng thay v́ 6 vành, v́ tôi tính luôn cả các băng trắng. Có lẽ các tác giả sđd không kể các băng này v́ cho đó là những vạch khắc ch́m cốt chỉ để làm nổi các vành có trang trí, nhưng tại sao giữa vành 1 và 2 (với tôi là băng 3 và 4), giữa vành 5 và 6 (với tôi là băng 10 và 11) lại không có vạch ch́m để phân biệt này? Tôi cho rằng vạch ch́m có giá trị như một băng, giá trị thể hiện tư duy Kinh Dịch).
băng thứ 1 để trống (băng trắng) (đối xứng (đx) với băng 12)
Mười hai băng này chia làm hai nhóm, mỗi nhóm gồm 6 băng tương đương một quẻ, nhóm trên nếu đảo ngược th́ thành nhóm dưới (cũng thế quẻ trên đảo ngược th́ thành quẻ dưới, đó là loại quẻ phản dịch).
Các băng 1,2,4,6,8,11,12 tương ứng hào âm. Quẻ Giải đảo nghịch thành quẻ Kiển, quẻ Kiển đảo nghịch thành quẻ Giải nên rất thuận lợi cho kiểu trang trí đối xứng.
Ư của các băng này chỉ muốn nói một điều rằng trống Ngọc Lũ
được tạo thành có mục đích cầu đảo, với ước mong được giải
trừ tai nạn (lũ lụt hoặc hạn hán). Đó là nghệ thuật cách điệu sắc sảo của nghệ nhân. Nhưng người nghệ sĩ ngày xưa không dừng lại ở chỗ nghệ thuật, họ dùng nghệ thuật để mời gọi người thưởng ngoạn trong mục đích muốn nâng cao tầm nhận thức của con người lên b́nh diện triết học v́ họ cũng là triết gia. Ta trở lại với những con chim trên vành 10. Mắt chim được vẽ bằng một ṿng tṛn có chấm ở giữa, hoạ tiết này mô tả con mắt. Đó chính là con mắt, trong Dịch con mắt là tượng của quẻ Ly (Thuyết quái truyện). Quẻ Ly gồm hai hào dương kèm giữa một hào âm,trong hoạ tiết con mắt ṿng tṛn là hào dương, chấm giữa là hào dương, ṿng trắng tạo nên bởi ṿng tṛn và chấm là hào âm. Ngoài vị trí con mắt, trên cổ chim hay trên mào chim c̣n có một hoặc hai ṿng tṛn có chấm. Hoạ tiết này xuất hiện ở chỗ không phải vị trí con mắt là một h́nh thái cố ư nhấn mạnh điều người xưa muốn nói, chim không thuần là chim trang trí mà c̣n chuyển tải ư niệm, chim mang trên ḿnh quẻ Dịch, biểu tượng cho Dịch, có thể gọi đó là những con chim Dịch, chim âm đậu, chim dương bay. Con mắt để nh́n, nh́n ở thời này, nh́n ở điểm này, nh́n ở thời khác, nh́n ở điểm khác, không gian, thời gian chuyển dịch, cách nh́n cũng thay đổi. Những ṿng có chấm nối nhau bằng những tiếp tuyến, như những con mắt thay đổi vị trí nh́n, nhưng vẫn liên kết nhau thể hiện ư niệm cuộc sống biến dịch mà miên tục, cuộc sống như ḍng sông đêm ngày trôi chảy không ngừng. Con mắt đó, quẻ Ly đó, biểu tượng của Dịch đó, không chỉ có trên chim mà hiện diện khắp nơi, chỗ nào cũng có mắt, những mắt là mắt. Con mắt trên nhà, trên cửa. Con mắt trên giàn cao, trên chiến thuyền, trên mái chèo, trên ngọn giáo, trên trống trận, trên miếng mồi, trên lưng ḅ, trên mặt trống, tang trống, thân trống. Ngày nay có người ăn: bóng đá, ngủ: bóng đá, uống: bóng đá, tương lai: bóng đá, khí thế bóng đá tưng bừng, sôi sục th́ ở thời đại Hùng Vương ngày ấy, đâu đâu cũng bừng bừng khí thế của Dịch, săn mồi: Dịch, đánh trận: Dịch, cai trị: Dịch, cày ruộng: Dịch, ra khơi: Dịch, chống lũ lụt: Dịch. Vua, quan, dân Văn Lang ai cũng quan tâm đến Dịch, họ giao thiệp với nhau bằng ngôn ngữ của Dịch, thông linh với trời đất cũng qua ngôn ngữ Dịch. "Tại Văn Lang Dịch đă được phổ cập khắp mọi tầng lớp, từ tế lễ đến sinh hoạt hằng ngày. Có thể nói: cứ đi thẳng vào bếp của một cư dân Văn Lang lập tức ta sẽ nh́n thấy những trang ghi khắc về Dịch đă nằm ở đấy. Tôi chưa thấy một nền văn minh nào mà triết học và đời sống quyện chặt vào nhau như thế." (4).
Nguyễn Thiếu Dũng |