Nhớ theo dơi Diễn Đàn Người Việt Quốc Gia trên hệ thống Đài Việt Nam Hải Ngoại vào lúc 7:00 PM đến 8:00 PM  vào mỗi chiều Chúa Nhật và Diễn Đàn Công Dân vào lúc 4:00 PM dến 5:00 PM mỗi chiều thứ hai, giờ Hoa Thịnh Đốn.                                                                                                                                                                   

DIỄN ĐÀN NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA

Ngừoi Quốc Gia là những người đặt tổ quốc lên bản vị tối cao

Tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v..

Trích VN Tự Điển của Đào Duy Anh

Nationalist Vietnamese Forum

Home

DỊCH KINH LINH THỂ

KIM ĐỊNH

 

  

I. KHI TỔ TIÊN VIỆT TỘC ĐÓNG DẤU TRÊN KINH DỊCH

 

 

Đánh dấu trên một vật ǵ là ghi nhân vật đó thuộc về ḿnh, cho nên nói Việt tộc đóng dấu trên kinh Dịch, hay nói kinh Dịch là của Việt Nam cũng đồng một ư. Cả hai câu này thọat nghe sẽ dễ bị hiểu như một câu nói khôi hài vô duyên, nhưng có thể tha thứ v́ phát xuất từ một ḷng ái quốc quá trớn nên đân ra nói nhảm. Sở dĩ có thể nghĩ như thế là v́ hiện trạng là thế, nghĩa là Kinh Dịch hiện nay là của Tàu chớ không phải là của Việt Nam, nên trong bao ngàn năm có người Việt Nam nào dám đả động tới Kinh Dịch. Đó là việc mới được làm gần đây và tất nhiên cũng lại học theo lối Tàu lối Tây, chứ đă có ai đọc theo lối của nó. Phải là chủ cũ của nó mới đọc được và chủ cũ của nó tôi bảo là người Việt. Kinh Dịch là của người Việt v́ tổ tiên tổ chúng ta đă đóng dấu trên nó và hôm nay xin mời các bạn cùng tôi đi nhận lại dấu. Xin báo trước là dấu đóng đă lâu đời nên phai mờ nhiều quá không thể giương hai mắt ốc biêu ra mà thấy được, phải dùng tia sáng hồng ngoại, lư ngọai ǵ đó mới trông nhận ra. Bạn nào không thích thứ ánh sáng lung linh “hốt hề hoang hề” xin ở lại nhà, v́ không có lỗi khác. Con dấu bị phai mờ không những v́ đă quá lâu mà c̣n v́ đă bị bôi cọ đi do người ăn cắp. Ai ăn cắp? Thưa là Trọng Thủy từ Bắc phương tới. Nhưng sao lại đổ oan như vậy? Thưa là v́ có văn tự tuy đă bị phai nhưng c̣n đọc được như sau: “Thần Kim Quy cho An Dương Vương cái vuốt để làm nỏ thần nhờ đó đánh bại được Triệu Đà. Đà biết thế nên sai con là Trọng Thủy câu hôn con gái An Dương Vương là Mỵ Châu cốt để đánh cắp cái vuốt rùa, và Trọng Thuỷ đă thành công đánh lừa được Mỵ Châu đồi lấy nỏ thần đem về Bắc, rồi thay vào bằng cái nỏ giả làm vuốt rùa. Câu truyện này ai cũng biết thuộc ḷng nhưng không mấy ai nghĩ rằng đó là câu truyện thật đă gây một ảnh hưởng quyết liệt trên sử mệnh nước Việt Nam hơn bất cứ câu truyện nào có chứng tích lịch sử cụ thể, v́ nó c̣n ảnh hưởng đến đời chúng ta hiện nay, khiến chúng ta đang điêu đứng v́ cộng sản hay các tư trào khác, bởi v́ chúng ta đă không c̣n hồn nước nữa. Cái hồn đó là móng châu kim quy đă bị đánh tráo mất rồi. Sự đánh tráo này quả là một biến cố tương đương với tội Adong Evà bên trời Tây, v́ nó làm cho lịch sử rẽ sang một lối khách, nó ghi dấu một sự mất mát nền tảng tức là mất cái đạo làm người. Đạo người là Thiên Địa chi Đức, được biểu tượng trong con rùa có lưng tṛn tượng Thiên 4 chân tượng Địa. Vưốt rùa chính là tinh hoa của cái đạo trời đất, tức cũng là nhơn đạo. Cái nhơn đạo đó đă bị Hán Nho choán mất chỗ, và nước Việt Nam cổ đại của Hồng Bàng đă chấm dứt với Triệu Đà. Cái nước Việt Nam do Triệu Đà khai sáng không c̣n là nước lư tưởng Văn Lang nữa. Người Việt Nam đă bị đuổi ra khỏi cái nước lư tưởng kia rồi và hiện nay có c̣n nói bốn ngàn năm văn hiến th́ cũng chỉ là biểu lộ một tấm ḷng ḥai cổ về một nơi xa xôi ở măi tận xa xưa, chẳng c̣n mấy âm vang trong ḷng, nên không c̣n gây được hiệu lực nào nữa. Tuy nhiên có điều khác với cảnh huống Adong Evà v́ hai ông bà không những bị đuổi ra khỏi địa đàng, nhưng c̣n bị một thiên thần coi chừng không cho trở lại cây hằng sống, c̣n chúng ta “ai bắt được ngọc châu ở Đông Hải (hiểu là triết Đông) mà múc nước giếng Mỵ Châu lên rửa th́ càng rửa, sắc ngọc càng thêm rực rỡ”. Biết đâu nó sẽ rực rỡ đủ để soi đàng cho chúng ta trở lại được Văn Lang.

 

Văn Lang là ǵ?

 

Thưa là nước lư tưởng nhất v́ được cai trị (trị thủy theo đúng tinh thần Kinh Dịch là âm dương ḥa). Am là thiên, dương là địa, ḥa là Nhân. Nói âm dương ḥa là nói đến trạng thái con người chưa ly tính, chưa vong thân, vẫn c̣n sống cái sống tràn đầy viên măn của Người. Có ai đă sống trong đó chưa th́ khó mà biết v́ không một lịch sử nào nói tới, chỉ có huyền sử, mà huyền sử th́ không những nói đên hôm xưa mà nói đến truyện hôm nay và ngày mai, nghĩa là nói đến cái lư tưởng của con người muôn thưở. Khi cái lư tưởng ấy chung cho nhiều người một nước một phương th́ tôi gọi là sử mệnh, hiểu như thế và quay trở lại câu hỏi đă có một nước Văn Lang chăng? Đă có ai sống trong nước ấy chưa th́ tôi sẽ thưa rằng đă có, và những người sống trong nước ấy tên là Phục Hy và Nữ Oa. Hai ông bà tiên tổ này đă hiện thực đúng câu “kỳ thiên địa chi đức” v́ ông nắm cái củ (địa phương) c̣n bà bế cái quy (thiên viên). Vuông tṛn th́ trái ngược ấy thế mà đuôi hai nguyên tổ lúc nào cũng “giao chỉ” xoắn xúyt để viết lên chữ Văn Sơ Thủy. V́ chữ Văn gồm hai nét đất trời giao hội, nét phải chỉ đất, nét móc chỉ trời xoay ngược chiều nhưng cả hai đều nằm dưới bộ đầu (không có nghĩa chi cả) và nhờ đó thiết lập được một ḥang kim thời đại kêu là B́nh văn, nghĩa là nền thái b́nh do Văn trị. Đấy là cảnh trí của nước Văn Lang, của Việt Nho nguyên thủy, trải khắp địa vực nước Trung Hoa cổ đại. Thế rồi một ngày kia văn minh du mục của Tây Bắc dưới quyền điều khiển của Ḥang Đế đă vào chiếm đất, chiếm người và chiếm luôn cả đạo Dịch. Sự chiếm kinh Dịch ở đây có nghĩa là sự chấp nhận. Sự chấp nhận này được báo hiệu bằng vua Đế Nghi có nghĩa là thích nghi với đạo Dịch. Đế Nghi cùng với Lộc Tục là con của cha Đế Minh lấy mẹ Vụ Tiên. Đây là đôi nguyên tố thứ hai sau Nữ Oa Phục Hy, nói thứ hai là tính theo tiến tŕnh biến dịch đi từ đồng nhất vào đường phân biệt nên cặp thứ hai đănói tới chồng Bắc vợ Nam. Nhưng c̣n là Bắc Nam của chung một nền hóa nông nghiệp. Chưa đến đọan Bắc du mục Nam nông nghiệp như Trọng Thủy và Mỵ Châu. Ở đây Đế Minh là châu Thần Nông mà lấy tiên nữ nước Việt cũng thờ Thần Nông th́ nhất định tinh thần Văn Lang vẫn duy tŕ đẹp đẹp: hai nét âm dương giao hội như thường. Những sự việc trở nên rắc rối dần do ngành phía Bắc là Đế Nghi. Bởi v́ Đế Nghi truyền ngôi cho con là Đế Lai, ông này nhân nhớ lại việc ông nội ḿnh là Đế Minh tuần thú phươngNam găp tiên, nên cũng bỏ nhà đi tuần thú phía Nam nhưng thay v́ gặp tiên th́ lại mất tiên, tiên đó gọi là Au Cơ. Au Cơ là vợ của Đế Lai lẽ ra phải khắng khít cuốn lấy đuôi vợ như Phục Hy đă làm, đàng này Đế Lai lại bỏ vợ đi chu du cùng khắp nước Việt. Như vậy là dọn đường cho tội tổ tông xảy ra. Tội tổ tông ở tại âm dương ly biệt. Vậy sự ly biệt đó đă xảy ra khi Trọng Thủy bỏ vợ ra đi với cái vuốt thần và như thế cái nỏ c̣n lại không  phải là nỏ thần mà An Dương Vương vẫn tưởnglà thần y như thế giới hiện nay kêu là thần những cái chẳng có chút thần nào hết. Sự lầm tưởng đó cũng là phát nguồn từ tội tổ tông lẫn vật chất làm tinh thần. Tuy nhiên tội tổ tông bên Đông phương nhẹ hơn bên Tây phương v́ nhiều lẽ. Lẽ đầu tiên là tội không phải do phía các bà mà do phía các ông. Bên Tây bà Evà bỏ ra ng̣ai c̣n bên này th́ là Trọng Thủy đựa rựa. Đàn ông mà chạy việc ng̣ai là trúng. Nhưng trúng mà vẫn có tội, có tội v́ chỗ quá đáng là “nước đi đi miết không về cùng non”. Đế Lai không về cùng Au Cơ có nghĩa là văn minh Bắc phương chuộng “b́nh vơ” hơn “b́nh văn” nên tỏ ra lơ là với nền minh triết đại biểu bằng Au Cơ (nền vàng: trung dung). Nhưng Minh triết chưa chết bởi v́ có Lạc Long Quân đến với Au Cơ và Au Cơ lại đâm mê Lạc Long Quân. Mê là phải bởi v́ Minh triết nông nghiệp đă phát xuất từ phương Nam, mang nặng tính chất nhu ḥa phương Nam v́ đó mà bị chồng phương Bắc lơ là, nhưng lại t́m đựơc ở quê ngoại cái môi trường thuận lợi cho nó, nhờ đó nó trở nên nữ ḥang cai trị mọi ngành văn hóa trong nước: “la philosophie doit être la Reine des sciences”, triết phải là bà chúa các khoa. Điều ấy đă được hiện thực trong nước Văn Lang nơi mà Lạc Long Quân chơi vai tṛ mờ nhạt c̣n chính chủ tịch lại là Au Cơ. Huyền sử chép rằng: trong nước không vua nên Au Cơ cùng với bộ chúng thị thiếp ở lại hành tại. Khoa xă hội sẽ gọi đây là thời mẫu hệ và đa phu, v́ Au Cơ có hai chồng là Đế lai và Lạc Long Quân. Tục Táo quân có lẽ khởi từ đây v́ trong ba đầu rau th́ có hai ông, một bà. Cái mà xă hội học kêu là mẫu hệ và đa phu th́ triết lư kêu là B́nh Văn tức thời Minh triết ngự trị, nên đáng gọi là một nước cai trị bằng văn hóa theo nghĩa cao quư nhất của hai chữ văn hóa: là lấy văn mà cảm hóa. Huyền sử chép: Lạc Long Quân nhận định với Au Cơ rằng v́ vợ Bắc chồng Nam: phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau trường cửu nên chia nhau con đi ở riêng nhưng có việc th́ cùng nghe không được ḅ nhau”, tội tổ tông đă manh nha ở chỗ âm dương đă không xoắn xúyt với nhau nữa, tuy nhiên chưa đến bước quyết liệt nên c̣n hẹn “hễ có việc th́ cùng nghe, không được bỏ nhau”. Nhờ đó mà nước vẫn là Văn Lang, dưới quyền Minh triết của Au Cơ v́ 50 c̣n theo bố xuống thủy phủ không xuất hiện. Huyền sử chép rằng: “50 theo cha xuống biển, 50 theo mẹ lên núi: tự suy tôn người trưởng lên làm vua hiệu là Hùng Vương, quốc hiệu là Văn Lang. Đông giáp Nam Hải, Tây giáp Ba Thục, Bắc giáp Động Đ́nh Hồ, Nam đến nước Hồ tôn”. Đó chỉ là bờ cơi của nền văn hóa phương Nam dưới quyền của Au Cơ nghi mẫu khác nhau với phía Bắc đă bị phụ hệ chinh phục dần cho Ḥang Đế: óc pháp h́nh nổi hơn không để cho tinh thần Minh triết thấm nhuần. Huyền sử chép rằng: “Lạc Long Quân ở dưới thùy phủ, mẹ con Au Cơ nhớ về Bắc quốc, liền đi lên biên cảnh, Ḥang Đế nghe tin lấy làm sợ, mới phân binh trấn giữ quan tải, mẹ con không về Bắc được”. Tức văn hóa nông nghiệp không chiếm cứ lại được miền Bắc đă bị rơi vào tay văn minh du mục. Thế là hết nước Xích Quỷ cái nước lan rộng khắp cơi Trung Hoa cổ đại, mênh mông như một châu, nên cũng gọi là “thần châu xích huyện” và tự Ḥang Đế trở đi th́ chỉ c̣n có Văn Lang tức tự miền Dương Tử giang trở xuống mà thôi, mà cũng không c̣n thông thường được với miền Bắc nữa, v́ miền Bắc đă rơi hẳn vào quyền lực du mục rồi.

 

Về phía Nam th́ Lạc Long Quân đă không xuất hiện, mà về Bắc th́ sự giao hội hai nềnv ăn hóa rất hạn hẹp. Huyền sử gởi vào truyện Chức Nữ một năm được gặp Ngưu Lang có một lần vào đêm thất tịch, đă vậy sự gặp gỡ cũng chẳng lấy ǵ làm vui vẻ, mà trái lại:

 

“Trong đêm gặp gỡ mơ màng khóc nhau.

 

Tục truyền tháng bảy mưa ngâu.

 

Con trời lấy đứa chăn trâu cũng phiền”.

 

Đây là hiểu sai Chức Nữ. Chức Nữ có khóc v́ phải lấy đứa mục đồng đâu, nhưng khóc v́ nó không chịu giáo hóa, cứ dùng vơ lực mà chen lấn áp đỏa ḥai ḥai, nên không c̣n thể về thăm quê Bắc được đă vậy mà từ đây mẹ con Au Cơ cứ phải bồng bế nhau di cư măi măi, chạy dài trên con đường Nam tiến. Bởi chưng văn minh du mục củaNgưu Lang đặc chuyên chú trọng h́nh thức và vơ lực nên rồi sẽ đàn áp được văn minh nông nghiệp của phương Nam. Tuy nhiên c̣n phải qua biết bao cuộc giao tranh. Huyền sử có ghi lại trong truyện Sơn Tinh và Thủy Tinh tranh nhau lấy con gái vua Hùng Vương tên là Mỵ Nương. V́ Sơn Tinh đến ban sáng nên lấy được Mỵ Nương. Thủy Tinh đến ban chiều mới hàm oán đem cả ḷai thủy tộc đánh Sơn Tinh để cướp Mỵ Nương, nhưng Sơn Tinh vươn lên nên Thủy Tinh không làm chi được. Câu chuyện này tả lại lúc Văn Lan c̣n đang mạnh, nên c̣n chống cự nổi văn minh du mục Bắc phương. Tuy chống cự nổi nhưng cũng cũng chỉ là trên đường rút lui. Và hầu chắc chung quanh giai đoạn này rảy ra chuyện đổi chữ Việt Mễ thay vào bằng chữ Việt Tẩu để thích nghi với Thời Lữ. Quẻ Lữ kép bởi Ly và Cấn: nên Lạc Long Quân mới nói với Au Cơ là nước lửa bất đồng. Sao Au Cơ lên núi màlại nói đến lửa do thời Lữ vậy. Nước lửa bất đồng nhưng tinh thần Kinh Dịch mạnh nên vẫn c̣n giữ được nét tương sinh tương tức nằm ngầm, nên Lạc Long Quân c̣n nói với Au Cơ có chuyện ǵ th́ cùng nghe nhau, đó là “Văn Đạo”. Nghe được nhau v́ đây chưa đến giai đoạn Bắc Nam đối kháng như sau thời Ḥang đế đem văn minh du mục vào nhưng c̣n là văn hóa nông nghiệp: và Au Cơ tuy sinh ra ở Bắc nhưng là Bắc c̣n nằm trong tay Viêm tộc, nên Au Cơ vẫn là biểu tượng nền Minh triết của Văn Lang. Chỉ tự đời Ḥang Đế th́ danh từ Bắc mới chỉ văn minh du mục đầy óc hung hăng chiếm đọat và Việt tộc mới hiện thực quẻ Lữ, và trở thành mũi dùi cho cuộc Nam tiến mang theo nền văn hóa nông nghiệp đi cùng như sẽ đọc thấy trong truyện Hùng Vương. Chỉ cần nói trước rằng tuy Việt tộc có tinh thần chống cự bất khuất nhưng đất đai có hạn: Nam tiến măi rồi cũng có ngày đất hết phải gặp biển và lúc ấy th́ chỉ c̣n có phép như An Dương Vương “quay lại giết Mỵ Châu rồi cầm sừng văn tê bảy tấc, theo Kim Quy rẽ nước đi vào biển”. Thế là hết nước Việt Nam như một Văn Lang, v́ chưng tội tổ tông đă phạm rồi: không phải trong việc ăn một trái cấm như Evà mà trong lát gươm của An Dương Vương giáng xuống đầu Mỵ Châu: thế là văn minh Tây Bắc đă giết chết nền văn hóa nông nghiệp để rồi trở về với văn minh Tây Bắc. Tây tượng trưng bằng cái sừng văn tê bảy tấc, do An Dương Vương cầm để theo Kim Quy dẫn vào biển. Biển là nước, nước chỉ phương Bắc. C̣n số bảy chỉ phương Tây (theo Lạc Thư) và từ đấy “Nam thất thắng nữ cửu”. Oc Hán tộc đă bủa vây màng lưới trên cương vực Văn Lang. Bắc giáp Động Đ́nh hồ v.v… và v́ thế ngày nay không c̣n ai thấy được Văn Lang đâu nữa. Không trông thấy được v́ Việt Nho đă ngă quy dưới lát gươm oan nghiệt của Hán Nho.

 

Bạn sẽ hỏi về số kiếp của cái vuốt rù Trọng Thủy đă ăn cắp đưa về ra sao, có làm ích chi cho Hán tộc chăng? Thưa rằng không, nó cũng mất luôn với chủ nó: huyền sử chép rằng “Trọng Thủy hối hận về ác quả nên đă đâm đầu xuống giếng Mỵ Châu mà chết. Chết là phải v́ “độc dương bất sinh”. Sách Nhĩ Nhă chép về một Hoàng Đế kia có con chim Loan mà nhà vua rất quư mến, và chỉ ước ao được nghe tiếng nói của nó, nhưng không bao giờ được măn nguyện. Ḥang hậu mới bàn rằng: tôi thường nghe thấy nói chim sẻ hót khi thấy một con chim khác cùng giống. Tại sao bệ hạ không để nó trước một tấm gương? Nhà vua nghe lời bàn ấy, nhưng khi con chim Loan thấy h́nh của nó liền hót lên những tiếng thật bi ai đọan đập cánh mà chết”. Tại sao Loan chết v́ không c̣n con đực là Phụng mà chỉ thấy h́nh bóng của Loan. H́nh bóng là biểu tượng, là ư niệm làm sao có đối cực để làm nên biến dịch, mà thiếu biến dịch là chết cho nên Loan chết; Trọng Thủy thiếu Mỵ Châu là dương thiếu âm nên bất thành cũng lại chết. Loan phải đi với Phụng mới có khả năng “Loan Phụng ḥa minh, chữ hán”, c̣n nay “Loan phiêu Phụng bạt, chữ hán” th́ làm sao sống nổi mà chả chết. Loan chết là Minh triết Kinh Dịch chết. Và đây là tội tổ tông của Viễn Đông: cũng y như bên trời Tây, Trọng Thủy đă đem óc tính toán của Bắc phương đến làm nghẹt thở tinh thần phương Nam, khác nhau vài nét đặc biệt: trước hết là chồng đánh lừa vợ chứ không như bên Tây vợ đánh lừa chồng. V́ đàn bà biểu thị Minh triết mà lại thủ vai đánh lừa th́ tội nặng hơn nhiều.

 

Thứ đến văn hóa mẹ bên Viễn Đông đă chống chọi trải qua nhiều giai đoạn, cuối cùng mới bị thua và trước khi bị gục ngă c̣n cố gắng cứu văn t́nh h́nh như được ghi trong việc Au Cơ trở về Bắc phương mà bị Ḥang Đế ngăn chặn, hoặc trong trận Sơn Tinh Thủy Tinh tranh đua nhau. Ở trận này tuy loài thủy tộc (phương Bắc) bị thua nhưng Sơn tộc cũng bị hại. V́ thế cuối cùng đuối sức dần để gục ngă, nhưng chết đi mà vẫn c̣n lưu lại cho con cháu một cái giếng làm kỷ niệm. Và việc trước hết của giếng là nó đă đón nhận Trọng Thủy nhảy xuống đó tử tự. Vậy là Trọng Thủy chết, nhưng c̣n giữ được một điều là sống chết có nhau. Đúng hơn sống cónhau được một đạo c̣n chết th́ ở với nhau ḥai trong một mồ gọi là Việt tỉnh, để làm như dấu vết, như con chấm đă đóng vào Kinh Dịch. Chính v́ Trọng Thủy và Mỵ Châu đă chết nên nước Văn Lang không c̣n và v́ thế mà hôm nay khi nghe nói đến con dấu Việt Nho đă đóng lên Kinh Dịch th́ như nghe một truyện tiểu thuyết. Nghe như tiểu thuyết v́ chúng ta đă đi hẳn vào nhị nguyên chỉ thấy có một chiều, nói như Heidegger, chúng ta đă mất ư thức về nét gấp gôi nên chỉ c̣n đi t́m những cái ǵ độc khối kiểu duy sử nên không hiểu nổi nét gấp đôi của Kinh Dịch nằm trong những trang huyền sử của nước. V́ thế chúng ta hăy cố gắng t́m trở lại những nét gấp đôi mà tôi gọi là con chấm của tiên tổ đóng trên Kinh Dịch.

 

Nét gấp lớn lao hơn hết nằm trong Hà Đô và Lạc Thư. Hà Đồ có thể gọi là con chấm của Bách Việt nằm từ vùng sông Ḥang Hà trở xuống. C̣n Lạc Thư là con dấu của Việt tộc một ngành có tính chất đại diện hơn hết của Bách Việt, cũng như Bách Việt là đại diện nổi nhất của Viêm tộc. Hà Đồ có 55 điểm tṛn. Lạc Thư có 45, cộng lại là 100 cái ṿng tṛn nên gọi là 100 trứng. Tuy là 100 nhưng cùng nằm trong một bào thai do mẹ Au Cơ đẻ ra. Mẹ Au Cơ biểu hiệu quẻ Khôn chỉ bụng “Khôn vi phúc” (thuyết quái) hay nói khác Au Cơ chỉ nền Minh triết của Dịch lư. Nền Minh triết này xây trên hai trụ âm dương là trời và đất: cũng gọi là ngang dọc hay thập tự nhai được bồng trong tay Nữ Oa, nay thay bằng Au Cơ. Khi trị nước theo tinh thầnđó th́ gọi là “Văn Lang” hay là “B́nh Văn”. Bao giờ cũng nên nhớ văn là hai nét trời đất giao hội. V́ thế vua gọi là Hùng Vương và truyền 18 đời. V́ có Hùng có Dũng lắm mới ở chỗ chí thiện là ngang dọc giao thoa, nét dọc lại cũng là 9: hai lần 9 vị chi là 18. Đó là cương vị tiên thiên (nguyên lư) đến khi áp dụng th́ dùng hậu thiên, lúc ấy sẽ là ly 3, khảm 6 là 9. Chấn 4 đ̣ai 2 là 6, công 9 với 6 vị chi 15. V́ thế mà nước Văn Lang phải chia ra 15 bộ th́ mới hợp với sách của dân Lạc gọi là Lạc thư gốm 9 lô số mà cộng chiều nào cũng được con số 15, nên gọi là Ma phương, khi đọc đếnn hững tên Châu Diên (thuộc chim), Việt Thường (vươn tới chỗ Thường Hằng), B́nh Văn (cai trị bằng văn)… th́ chớ nên t́m ỏ Sơn Tây, Quảng Trị v.v… Đó chỉ là đợt sau mượn tên xưa để đặt cho đất mới, để làm kỷ niệm, chứ nước Văn Lang không ở đó, đúng hơn, không chỉ có ở miền Bắc Việt mà nó c̣n vươn lên đến bên kia bờ Dương Tử giang, cũng như chữ Bạch Hạc th́ trước hết phải hiểu là “Tây Nam đắc bằng của quẻ khôn”, v́ khôn vận hành trong Tây Nam. Tây sắc trắng (bạch), Nam lông vũ (hạc), cũng như khi nói Lạc Việt th́ phải vươn trí khôn lên tận bờ sông Lạc vùng Lạc Dương th́ mới đạt tầm thước cân xứng với nội dung của huyền sử. V́ huyền sử nước ta đă trải qua nhiều giai đọan được ghi theo chu kỳ tiên thiên của Kinh Dịch là nguyên, hanh, lợi, trinh được tŕnh bày tho ṿng 4 mùa như sau:

 

                                    Hạ: Hanh

 

Xuân: Nguyên                                      Lợi: Thu

 

                                    Trinh: Đông

 

Nguyên là thời manh nha nó hợp với mùa Xuân. Đời nhà Tiền Lư (544-604) nước ta gọi là Van Xuân có lẽ là để kỷ niệm thời sơ nguyên này. Đây gọi là thời của Hồng Bàng Thị với vật tổ chim là vật tổ chính của Việt Nam, v́ trong nguyệt lệnh th́ phương Nam mục trùng là Vũ chỉ các ḷai chim Loại quẻ khôn chỉ văn, “Khôn vi văn, chữ hán” (thuyết quái). V́ thế khi nói tới Văn Lang hay Hồng Bàng th́ ta thường chỉ thị bằng chim, bằng tiên nữ, bao gồm cả mẹ lẫn chim. Câu nói “nhất điểu, nh́ xà, tam ngư, tứ tượng” thường được giải nghĩa theo lượng tức vật to lớn nhất là chi, nh́ là rắn… nhưng đó là điều không thấy xảy ra, dầu là giống cổ điểu Epiornis nay đă biến mất và người ta t́m được dấu vết ở Madagasca, trứng to hơn trứng gà 150 lần. Vậy nếu căn cứ vào đó mà nói nó to hơn con gà 150 lần, th́ cũng mới nặng từ 1 tấn trở lại, c̣n lâu lắm mới bằng con cá voi nặng cả từng chục tấn. Cho nên câu nói trên của người Việt Nam nên hiểu đă trải qua Điểu, Long, Ngư, Tượng. Giai đoạn nhất là Điểu cũng là văn minh Mẹ, nên ta thấy những cử chỉ gán cho mẹ th́ cũng gán cho chim, nếu mẹ Nữ Oa đội đá vá trời th́ chim cũng đội đá vá trời, chim cũng ngậm ḥn lấp bể… và nếu sâu quá lấp không xuể như sông Ngân Hà th́ bắc cầu “Ô thước”. Vậy chim là giai đọan ḥan ṭan mẹ giai đoạn của Điểu đi trước giai đọan rồng thuộc vật tổ thú nên nói nhất điểu nh́ xà. Xà là long, long là giai đoạn hai hay nói theo Kinh Dịch là hanh sau nguyên.

 

Hanh thuộc mùa Hạ khi mặt trời phương Nam trút xuống những tia nằng chói nên nước đặt tên là Nhật Nam, là Xích Quỷ. Hanh là hanh thông tức là thời mà Sơn Tinh và Thủy Tinh c̣n kết nghĩa và Ngư chưa thành Ngư tinh ăn thịt người nên Nam Bắc giao thông không ǵ ngăng trở. Huyền sử chỉ bằng Đế Minh (bắc) lấy Vụ Tiên (nam). Lạc Long Quân (nam) lấy Au Cơ (bắc). Lúc ấy chưa xảy ra chuyện Au Cơ về thăm quê tổ bị Hoàng Đế ngăng đường. Ḥang Đế đại biểu phương Bắc là thuộc hành thủy. Thủy là nơi sanh sống của cá, nên khi nói Ngư tinh hay Thủy tộc th́ đều chỉ văn minh du mục phương Bắc. Như vậy nói giai đọan Ngư là nói đến sự ngự trị của tinh thần du mục phương Bắc chủ lợi thuộc giai đọan lợi, đến sau nguyên và hanh.

 

Lợi mùa Thu. Lợi trong chu kỳ tiên thiên kêu là Mỹ Lợi (quẻ Kiền), nhưng nói đến lợi là rất dễ đâm ra tư lợi. V́ tư lợi nên Ḥang Đế ngăn không cho Au Cơ về Bắc, v́ tư lợi nên Trọng Thủy đánh tráo vuốt rùa. V́ thế văn minh phương Nam c̣n cầm cự được là phải có đức dũng cùng cực gọi là Hùng Vương th́ có nghĩa là cần một tinh thần can đảm phi thường v́ thế tiền nhân ta nói về ngày mồng 9 tháng 9 (trùng cửu) bằng câu nói “trùng cửu đăng cao” th́ nghĩa đen là chỉ lúc cao nhất trong mùa Thu, c̣n ư sâu xa là chỉ tinh thần bất khuất của Lạc Long Quân đă dám cầm khối sắt nung đỏ (tinh thần quẻ ly phương Nam) ném vào miệng Ngư tinh: chống văn minh du mục, để duy tŕ văn hóa phương Nam. Nhờ đó mà văn hóa phương Nam vẫn c̣n sống được và nội dung là sự ḥa hợp thủy hỏa một kim được gởi vào một số truyện huyền sử như việc thi gia chánh của Hùng Vương với giải thưởng dành cho đôi bánh dày, bánh chưng, cũng như trong truyện Chử Đồng Tử thôn dân kết hôn với công chúa Tiên Dung… đều nói lên tinh thần dân chủ không phân giai cấp của Việt tộc, nhưng tất cả đều ḥa hợp trong một phẩm trật đẹp đẽ như truyện trầu cau: kim mộc và hỏa đồng làm nên màu đỏ của nước Xích Quỷ. Tuy nhiên sức người có hạn, bé tí hon chống khổng lồ măi cũng có ngày thua và phải đành bước vào giai đoạn “tam ngư” tức là giai đoạn đen tối mà các nhà huyền sử Tây phương nói đến là thời cả (poisson) xảy ra vào quăng vài ba thế kỷ trước kỷ nguyên. Cũng như giai đọan sắp tới thuộc cung Verseau (xem chẳng hạn La nouvelle culture de l’ère du Verseau, par M.Konstantinov, Courier du livre. Paris). Vậy giai đọan Ngư này đối với nước ta là lúc Triệu Đà khai quốc và dọn đường cho sự ngự trị của Hán học, là cái học nhiễm óc chuyên chế… của văn minh du mục Bắc phương. Hán học nối tiếp sang cả giai đọan thứ 4 là tượng.

 

Tượng là giai đoạn nước ta lấy lại được nền độc lập chính trị để tiến vào các miền theo văn minh của tượng như Chân Lạp, Chiêm Thành (Chàm) là những miền lắm voi. Đấy là giai đọan mở mang nước về phía cùng cực Nam và được tương đối độc lập về chính trị. Nhưng về văn hóa th́ c̣n năm hầu trọn vẹn trong tinh thần Ngư tinh của Hán nho nên đă mất ư thức về nền văn hóa của dân tộc, đến nỗi ngày nay không c̣n ai đọc được tờ “bằng khóan cơ nghiệp” tô tiên giối lại, bởi v́ chỉ c̣n biết có chữ Hán mà không biết chữ Nho. Hán Nho th́ chuyên môn chỉ giải từng chữ nên không thấy vi ngôn đại nghĩa, nên cũng như cái nỏ giả của Trọng Thủy không cứu được nước. Chỉ có lối đọc theo Việt Nho nh́n toàn diện mới đọc ra được Đại Đạo. Tuy nhiên cái đạo đó vẫn c̣n tàng ẩn trong tiềm thức dân tộc nên đă nhiều lần cứu được nước đến nỗi ta có thể nói không một nước nào trong cơi Viễn Đông lại mang đậm màu sắc Kinh Dịch cho bằng Việt Nam. Hăy nói từ quốc hiệu trở đi: Xích Quỷ, Văn Lang, Giao Chỉ. đă bàn rồng trong bài lễ vấn danh trong Việt Lư. Ơ đây chỉ xin nhắc tới danh hiệu Gia Chỉ là hai nét lớn “chỉ” âm dương giao hội: quẻ ngọai giao với quẻ nội. Kinh Dịch có 64 quẻ là có 64 chữ Giao Chỉ khác nhau, tức cũng là 64 thứ con dâu của Việt tộc đóng vào. V́ lẽ đó Việt Nam rất đáng kêu là văn hiến chi bang. Văn đây phải hiểu là nét gấp đôi uyên nguyên tức đất trời giao hội, và nền văn hóa lênc ao nhấtlà khi ở đâu không đánh mất nét gấp đôi đó (Pli en deux). Con người ngày nay vong thân là tại đă đánh mất ư thức về nét gấp đôi và sa đọa vào cơi người ta chỉ thấy có một chiều đồng nhất. Chiều duy nhất đó là vụ lợi, là thành công, là lấy công. Đây là sự sa đọa không c̣n phải là văn hiến. Văn hiến cũng đi cấy v́ thuộc nông nghiệp nhưng văn hiến nói rằng: “người ta đi cấy lấy công, tôiđây đi cấy c̣n trông nhiều bề”. Tôi đi cấy cũng lấy công, nhưng công mới chỉ là một, c̣n ba bè nữa là trời, đất, người mà để đạt được phải có Tâm, nên nói: “chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài” với chữ tài chữ lợi, chữ “lấy công” th́ chỉ cần lư trí. C̣n thành nhân th́ phải kiêm cả đạo trời đạo đất như hai hạn từ ṇng cốt làm nên con người viên măn như thập tự nhai là thứ cũng tỏ ra nhiều bề: cả Đông, Tây, Nam, Bắc, nghĩa là thần, v́ thần vô phương nên không đâu không ở, rất linh nghiệm, nên người nào cảm nghiệm được th́ hy hiến ṭan thân cho cái Văn đó, nên gọi là Văn hiến. Và nước có nhiều văn hiến th́ gọi là “văn hiến chi bang”. Ơ thời xa xưa dưới những triều đại của Hùng Vương có bóng dịu hiền của mẹ Au Cơ th́ Việt Nam đă có nhiều văn hiến, nên cũng đáng tên là Văn hiến chi bang. Đến nay nhiềunhà duy sử đang cố phủ định nước Văn Lang. Bởi chưng “người ta đi học lấy công. Chúng ta nay đi học cũng chỉ trông kiếm tiền”.

 

V́ đă hết rồi cái học trông trời trông đất trông mây. Cái học biến thông của Lạc Thư, sách gối đầu giường của tiên tổ Lạc Việt, nhưng đến nay hỏi c̣n được mấy ai biết ư nghĩa ra sao nữa? Huyền sử nói: “v́ giếng bị bỏ hoang bẩn thỉu” (xem truyện Việt tỉnh). Truyện kể về Thôi Vũ được Ma-cô-Tiên đền ơn đă chuộc tội, nên tiên cho một hạt ngọc Long Toại, nói đó là ngọc châu từ thưở trời đất mới khai tịch đă có một cặp trống mái, từ đời Ḥang Đế trải đến đời An, truyền làm thế bào. Trong trận đánh Trâu Sơn, An Vương bị Phù Đổng Thiên Vương giết nên đeo nó mà chết, ngọc châu cũng chôn trong đất mà tia sáng chiếu thẳng lên trời. Đời nhà Tần binh hỏa liên miên nhưng vật trân bảo đều bị đốt cháy, các nhà Vọng khí đều biết ḥn ngọc Long Toại c̣n ở phương Nam. Người Tàu đem vàng bạc gấm vóc trị giá trăm vạn để t́m mua. Vĩ nhân đây đại phú. Sau Ma-cô-Tiên rước vợ chồng Thôi Vĩ đi, không biết đi đâu. Nay giếng bỏ hoang bẩn thỉu, hang th́ c̣n ở núi Trâu Sơn. Người Việt gọi là Việt tỉnh Cương vậy (Lĩnh Nam).

 

Đọc truyện trên chúng ta được chứng kiến một trang huyền sử tuyệt đẹp: Thôi là lớn lao, Vĩ cũng là lớn lao nhưng tự dạng gợi nên cái ǵ tế vi, cái vi ngôn đại nghĩa, mà vi ngôn đại nghĩa lớn nhát là âm dương ḥa kết thành thái cực viên đồ, đă xuất hiện từ khi trời đất khai tịch, đă có một cặp trống mái gọi là Long Toại. Chữ Toại có nghĩa là khoan cây lấy lửa, nhắc lại thời Toại nhân, phát minh ra lửa. C̣n Long là thuộc về Lạc Long Quân, vua Viêm tộc. Nhưng đến lúc Hoàng Đế vào xâm lăng th́ chiếm luôn cả Kinh Dịch truyền cho đến đời An. Nhà An nửa trước kêu là nhà Thương là một nhà thấm nhuần văn hóa nông nghiệp cao độ nhất, nên huyền sử nói về vua Thành nhà Thương là có bệnh “tê hết nửa ḿnh, Thang bán thể khô, chữ hán” (Danses 55). Trong danh từ huyền sử th́ câu đó có nghĩa là đă “thể nghiệm được đạo âm dương dịch lư”, nên có lưỡng nghi tính vừa thích nghi với ṿng ng̣ai thế sự, vừa thích nghi với ṿng trong đại ngă tâm linh, nên nói bóng là bán thân bất toại, mà thực nghĩa là nhà Thương An đă trở nên cùng ḍng với nền văn hóa Viêm tộc (xem Việt điện tr.57).

 

Nhà Thương bị nhà Chu diệt, th́ ngọc Long Toại cũng bị chôn vùi nhưng chôn vùi bên phương Nam, mà nước tiêu biểu nhất là Việt Nam. C̣n bên kia th́ mất, về sau có người tên là Khổng Tử ḍng tộc nhà Thương An nước Tống cứu vớt được một phần đạo lư ghi lại trong Kinh điển. V́ thế tuy sống ở mạn Bắc nhưng ḷng Khổng Tử vẫn hướng về phương Nam, lấy làm nơi an trụ: “Nam phương chi cường dă quân tử cư chi” (TD). “Nam phương chi cường” cũng gọi là Hùng Vương. Và vua nhà An đă chết chôn ở đất Việt cũng như ngọc Long Toại cũng nằm trên đất vua Hùng Vương thứ ba. Nghĩa là trong vẹn đạo Dịch gồm tam tài ngũ hành: 3 lần 5 = 15 thuộc về nước Văn Lang. Người Tàu cũng phải công nhận y như Khổng Tử. Khổng Tử nói kiểu minh triết, c̣n huyền sử nói kiểu u linh rằng: “các nhà Vọng khí đều biết ḥn ngọc Long Toại ở phương Nam”. Thế là “vật bất ly chủ”. Chủ nó là Phục Hy Thần Nông, Nữ Oa, rồi bị Hoàng Đế chiếm lấy trao cho đến An Vương, v́ An Vương cảm hóa được nên dẫn thân sang chôn táng ở bên đất Việt, y như Trọng Thủy lại trở về phương Nam ôm xác Mỵ Châu và nhảy xuống Việt Tỉnh, cùng một trường hợp như chim Loan của Ḥang Đế đập cánh mà chết. Tất cả đều nói lên câu nói của Khổng Tử “Nam phương chi cường dă quân tử cư chi”. Thế có nghĩa là chủ sách kinh Dịch là Việt Nam. Cái phiền duy nhất là “giếng bỏ hoang thành bẩn thỉu”.

 

Trong khi đọc truyện Việt Tỉnh có một điều lạ là trong truyện không nói đến giếng mà đến cuối truyện lại thêm một câu “nay giếng bỏ hoang”. Giếng nào? Không t́m ra trong truyện XII, nhưng khi đọc xuống truyện XIII tiếp liền gọi là “truyện kim quy” th́ mới nhận được câu trả lời là “xác Mỵ Châu hóa thành giếng ngọc” (1). Vậy là Việt Tỉnh Cương với giếng ngọc là một. Và nó không là chi khác hơn là khung của Lạc Thư. V́ Lạc Thư thành h́nh chung quanh chữ Tỉnh cho nên nói Việt Tỉnh chỉ là nói lối khác câu “Lạc Thư là sách của Lạc Việt đă được gợi hứng trên bờ sông Lạc, nên gọi là Lạc Thư”. Nhiều người không dám nhận ra Lạc Thư là của Lạc Việt v́ chữ Lạc viết với bộ Trăi, hoặc mă hoặc Tuy (chữ hán) mà không với bộ Thủy. Nghĩ như vậy là không suy tư theo ḍng biến chuyển (génétique) tức là ḍng Nam tiến liên tục, v́ có cuộc Nam tiến nên tiếng Việt từ bộ Mễ chuyển sang bổ Tẩu (chữ hán) th́ Lạc Thư tự bộ Thủy phương Bắc đổi sang bộ Mă phương Nam (quẻ khôn là tân mă, thay được bằng bộ Trăi) hay bộ Trĩ (quẻ ly phương Nam chim trĩ) là truyện thường trong lốiviết chữ Nho. Thí dụ như chư Trâu chỉ miền Khổng Tử có 4 lối viết (xem Legge I. 59) cũng có thể nghĩ rằng lúc ấy phương Bắc đă ḥan ṭan rơi vào tinh thần du mục, ngư đă đốc ra ngư tinh nên Lạc Long Quân phải giết, th́ cũng là lúc bỏ chự lạc thủy đổi ra lạc chim từ… biến sang … (… là chữ hán). C1i lối đổi bộ trong chữ viết là chuyện đă xảy ra nhiều lần mội khi sửa đổi văn tự nhất là đời Tần là đời chôn táng chữ viết của Việt Nam. Đấy cũng là một lối làm cho việc đọc huyền sử khó thêm lên một độ. Tuy nhiên khi biết được qua tiểu tiết mà đọc cả Kinh điển lẫn huyền sử th́ câu nói chủ quyền của Việt Nam đối với Kinh Dịch có nhiều bằng cớ và chứng tích. Điều quan trọng nhất là nếu nhận làm chủ th́ phải biết đọc theo chính chủ. Đó là điểm chúng ta sẽ bàn trong chương sau. Cần thêm mấy nhận xét cuối cùng về tên sách Dịch. Hiện nay Hán Nho quen gọi là Chu Dịch để chỉ Dịch của nhà Chu, v́ trước đă có hai tên káhc là Liên Sơn của nhà Hạ (2205-1776), v́ bắt đầu với quẻ Cấn là núi và Quy Tàng của nhà Thương An (1776-1150) bắt đầu với quẻ Khôn. Nhà Hạ th́ rơ ràng thuộc văn hóa Việt tộc (xem Việt Lư) nên nói Dịch Liên Sơn của nhà Hạ cũng là nói của Việt tộc. C̣n nhà Thương An th́ đă cảm hóa theo Việt Nho hầu trọn vẹn nên huyền sử mới nói An Vương bị chết chôn cùng với ngọc Long Toại bên đất Việt có lẽ v́ bị chôn như thế nên gọi Dịh nhà Thương là Quy Tàng.

 

(1) Trong bản dịch ông Lê Hữu Mục viết là giếng c̣n trong bản chữ Nho lại viết là Thạch cả hai cùng có nghĩa: thạch là một thứ hạt Châu (Mỵ Châu). Nhưng giếng có nghĩa hơn v́ chữ Tỉnh là nềnn cho Khung Hồng phạm, nên chúng tôi viết giếng.

 

 

Xét về phương diện tiền sử nước ta được chia ba giai đoạn là Thái Sơn, Ngũ Lĩnh, và Phong Châu. Thái Sơn thuộc thời tam hoàng trong đó ông tổ Việt tộc là Thần Nông cũng có hiệu là Liệt Sơn cùng với Thái Sơn là một. Thái Sơn ở tỉnh Sơn Đông giáp với tỉnh An Huy, nơi khởi xuất của núi Ngũ Lĩnh, nên từ Thái Sơn sang Ngũ Lĩnh liền nhau nên có thể v́ đó mà gọi là Liên Sơn. Hoặc một ḿnh Ngũ Lĩnh cũng đă đủ gọi là Liên Sơn v́ đó là dăy núi rất dài khởi tự An Huy mà chạy qua tỉnh Chiết Giang. Giang Tây, Phúc Kiến, Hồ Nam, Quảng Đôn, Quảng Tây, Quư Châu. Rồi đến giai đoạn Phong Châu tận cùng bằng câu truyện Việt Tỉnh nơi tàng ẩn xác của Trọng Thủy với Mỵ Châu nên gọi là Quy Tam. Hoặc v́ Phong Châu là miền Nam nhất trên con đường Nam tiến của Việt tộc mà phương Nam là quẻ Khôn mà tài quẻ Khôn là tàng trữ nên gọi là Quy tàng. Đàng nào cũng hợp lư và đều nói lên chủ của Kinh Dịch là Viêm Việt c̣n hán tộc chỉ là mượn lại thôi, và v́ không phải là chủ nên đọc Dịch không trúng cách. V́ thế điều quan trọng nhất là chúng ta phải bàn về lối học Dịch của Việt Nho.