|
|
Ngừoi Quốc Gia là những người đặt tổ quốc lên bản vị tối cao Tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi sự vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cá chính bản thân ḿnh v.v.. Trích VN Tự Điển của Đào Duy Anh |
|
Nationalist Vietnamese Forum |
BÀI THỨ NHẤT
Những giới
hạn co giăn của toàn trị
Bruce Gilley
Bruce Gilley, tiến sĩ chính trị học tại Đại học Princeton University, Hoa Kỳ. Ông từng làm Biên tập viên hợp tác của Far Easter Economic Review (Tạp chí Kinh tế Viễn Đông). Ông tà tác giả và đồng tác giả khoảng 10 cuốn sách về Trung Quốc. Trong đó có: Tiger on the Brink: Jiang Zemin and China’s New Elite (Hổ bên mép vực: Giang Trạch Dân và giới tinh hoa của Trung Quốc, 1998); và đồng tác giả (với Adrew Nathan) cuốn China’s New Rulers: The Secret Files (Các nhà cai trị mới của Trung Quốc: Hồ sơ mật, 2002); cuốn mới nhất là China’s Democratic Future: How It Will Happen and Where It Lead (Tương lai dân chủ của Trung Quốc: Sẽ xảy ra như thế nào và dẫn tới đâu, 2004).
Thành công mới đây của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) trong việc chuyển giao quyền lănh đạo có thể được thông giải như một bằng chứng rằng chế độ toàn trị của Trung Quốc là độc đáo về mặt lịch sử. Hơn một thập niên sau ngày Liên bang Sô Viết và các trật tự cộng sản tại Đông Âu sụp đổ, ĐCSTQ không chỉ vẫn nắm quyền mà c̣n làm lễ tấn phong cho một tập hợp những người kế thừa trẻ hơn, được học hành tốt hơn và thậm chí tự tin hơn, làm đầu lĩnh của nó. Và Đại hội thứ 16 của ĐCSTQ hồi tháng Mười một năm 2002 đánh dấu lần đầu tiên có sự chuyển giao êm thắm quyền lănh đạo trong chế độ cộng sản mà không chút dính líu tới cái chết hoặc sự thanh trừng vị thủ lănh sắp thôi việc.
Các nhà lư thuyết chính trị thường hiểu một cách truyền thống rằng các chế độ toàn trị th́ yếu ớt, vô phương cứu chữa trong tận cốt lơi của nó, v́ nó hoàn toàn thiếu sự kiểm tra về quyền lực như một sự cai trị theo luật pháp, về sự phân chia quyền lực và về khả năng tranh thủ quần chúng. Quan điểm cho rằng tính yếu ớt cố hữu của các chế độ đó sẽ, một cách không thể tránh được, trở thành rơ rệt hơn khi theo thời gian, sự cân bằng tương đối của các tài nguyên được chuyển dịch từ nhà nước tới các lực lượng xă hội tự quản, thông thường như là kết quả của nhiều h́nh thức phát triển một khi kinh tế tăng trưởng và mở cửa ra quốc tế. Tại những cấp độ phát triển ấy, nói chung người ta tin rằng các chế độ toàn trị thấy ḿnh bị khổ sở v́ cái có thể gọi là “lô-gic của quyền lực tập trung” - nghĩa là, cái khuynh hướng ủng hộ việc quyền lực nằm trong tay vài cá nhân hoặc bè cánh có tính cá nhân chủ nghĩa, rồi bị họ lợi dụng chí tử với những kết quả điển h́nh, trong đó gồm có sự cai trị tồi, suy giảm tính chính thống, tham nhũng và các tiêu chuẩn yếu kém về hạnh kiểm của giới tinh hoa cai trị (elites).[1]
Nhưng Trung Quốc - mà nhân dân của nó tiêu biểu cho khoảng một nửa phần dân số thế giới hiện không được phép chọn các nhà lănh đạo bằng các cuộc bầu cử dân chủ - cho tới nay đă và đang thách thức kiểu mẫu truyền thống đó. Một số người thử giải thích sự kiện ấy bằng việc ĐCSTQ tái củng cố nền tảng ngôi nhà của nó sau khi t́nh trạng tính chính thống của Đảng bị sa sút tột độ sau vụ phản kháng Thiên An Môn năm 1989. Các nhà quan sát th́ căi lại rằng ĐCSTQ có vẻ đang giải quyết hữu hiệu sự thiếu hụt dân chủ bằng phương cách phi dân chủ, với việc đặt đúng chỗ các cơ chế làm giảm thiểu, hoặc có khả năng trừ khử sự yếu ớt có tính truyền thống của các chế độ toàn trị. Andrew Nathan tóm tắt bằng chứng của các cơ chế đó trong một đề mục “sự định chế hóa chế độ”.
Tôi cho rằng đặc điểm hóa như thế là sai, một vấn đề tôi sẽ tranh luận sau đây, liên quan tới ba điểm đặc trưng của các chế độ toàn trị khiến về mặt lịch sử, chúng ở trong số các chế độ khó định chế hóa nhất: 1) quá tŕnh đề bạt giới tinh hoa; 2) sự bảo quản trách nhiệm về chức năng hoạt động của giới tinh hoa; 3) sự tham sự của nhân dân.
So với t́nh trạng hỗn độn trong kỷ nguyên Mao Trạch Đông th́ chắc chắn Cộng ḥa Nhân dân Trung Quốc (CHNDTQ) hôm nay là một nhà nước tương đối được định chế hóa. Nhưng xét theo quan hệ với các nhu cầu thật sự của xă hội Trung Quốc đương đại, th́ CHNDTQ rơ ràng là không đạt: bất cứ điểm đặc trưng đă định nào [trong ba điểm nêu trên] của một hệ thống chính trị chỉ có thể cho là “đă được định chế hóa” khi nó phù hợp với các lư tưởng có tính tiêu chuẩn của quốc gia cũng như được thực hiện hữu hiệu. Theo những tiêu chuẩn ấy th́ bằng chứng về sự định chế hóa của CHNDTQ c̣n yếu. Cũng không có vẻ rằng cuối cùng sự định chế hóa loại đó sẽ mạnh. Quả thật, tính từ năm 1949 tới nay, có thể thấy rơ là tại Trung Quốc có ba chu kỳ củng cố và suy sụp: trước là đạt tới những giới hạn của sự định chế hóa chế độ, rồi tiếp liền đó, cái “lô-gic của quyền lực tập trung” tái khẳng định nó. Điều tương tự như thế có thể tái diễn vào một thời điểm thích hợp, và làm suy yếu sự định chế hóa h́nh thức tại Đại hội thứ 16 vừa qua của ĐCSTQ.
Sự định chế hóa hiện nay
Samuel P. Huntington xác định đặc điểm của sự định chế hóa chính trị như một quá tŕnh mà qua đó điểm đặc trưng đă định của một hệ thống chính trị đạt đủ các nét “khả năng thích ứng, tính phức tạp, tính tự quản, và tính nhất quán.” Nơi mà điểm đặc trưng có vấn đề th́ có thể là một quá tŕnh, một định chế, hoặc một lề luật. Huntington nói, khi sự định chế hóa được thành tựu từ trên xuống dưới hệ thống chính trị, th́ nó tạo ra một chính quyền có “hiệu năng, thẩm quyền, [và] chính thống.”[2]
Dù định nghĩa ấy đủ để giải thích tính chất hiệu năng và tính chất thẩm quyền của chính quyền, gần như chắc chắn rằng Huntington đă quan niệm sai về bản chất cá biệt của vấn đề tính chính thống trong bối cảnh toàn trị. Ông không nắm bắt được rằng bất cứ điểm đặc trưng đă định nào của một hệ thống chính trị có tính chính thống th́ cũng phải phù hợp với quan điểm có tính tiêu chuẩn và bao trùm của nhà nước. (Cần phải nhấn mạnh rằng, trong một nhà nước đa nguyên, điều kiện này được dễ dàng xem là tất nhiên). Nếu điểm đặc trưng đó thiếu sự chứng minh rộng răi có tính tiêu chuẩn hóa, th́ lúc đó, chính nó sẽ xói ṃn tính chính thống của nhà nước. Loại “nhất quán có tính tiêu chuẩn hóa” này khác với loại nhất quán mà Huntington đưa ra làm định đề vốn chỉ cốt ở sự am hiểu chức năng hoạt động giữa những người bên trong nhà nước chứ không phải sự đồng thuận trên qui mô lớn của xă hội bên ngoài.
Như thế, sự định chế hóa chính trị có cả thành tố nâng cao hiệu năng lẫn thành tố nhất quán một cách tiêu chuẩn hóa, và phải đạt được để cho điểm đặc trưng đă định ấy được định chế hóa. Như một thí dụ phủ định, những cuộc hội họp của quần chúng liên quan tới sự trông cậy thường xuyên của chế độ Trung Quốc đối với các chiến dịch chống tội phạm “Đánh triệt để”, đă có hiệu quả đáng chú ư trong nhân nhượng hơn là kết án, nhưng những vi phạm quá tŕnh thích đáng mà các chiến dịch ấy can dự đă trái ngược hoàn toàn với lời cam kết của chính quyền trong việc triển khai sự cai trị của luật pháp.
Bằng chứng tốt nhất về sự đề bạt giới tinh hoa th́ có từ một cuốn sách đáng chú ư, viết bằng tiếng Hoa, nhan đề là Đệ tứ đại (Disidai - Thế hệ thứ tư) mà nó tuyên bố một cách đáng tín nhiệm là đă dựa vào hồ sơ nội bộ của ĐCSTQ về việc chuyển giao quyền lănh đạo năm 2002.[3] Thông tin chứa trong cuốn ấy bác bỏ cái bề ngoài của quá tŕnh đề bạt có vẻ được định chuẩn hóa ấy. Nó tŕnh bày rằng sự dễ dàng trong việc chuyển giao ấy th́ liên quan tới di sản mạnh mẽ của bậc đại trưởng thượng Đặng Tiểu B́nh hơn là tới sự định chế hóa. Chính họ Đặng là kẻ, ngay từ năm 1992, đă chọn Hồ Cẩm Đào làm người thừa kế được chỉ định, gỡ khỏi đấu trường chính trị vấn đề duy nhất gây tranh căi liên quan tới việc thừa kế. Họ Đặng và Tống B́nh, hai người đỡ đầu cho Hồ Cẩm Đào, c̣n mạnh khỏe đủ lâu để bảo đảm cho họ Hồ được thừa kế. V́ thế, Đại hội thứ 16 có vẻ là một phó sản ngẫu nhiên hơn là một kết quả có tính hệ thống.
Đi sâu vào chi tiết, Đệ tứ đại tŕnh bày rằng:
1. Năm 1997, như một chiến thuật nhằm loại trừ đối thủ cấp tiến Kiều Thạch, Giang Trạch Dân đề nghị nguyên tắc không người nào từ 70 tuổi trở lên được chỉ định vào Bộ Chính Trị. Họ Giang, lúc đó 71 tuổi, tự miễn cho ḿnh nguyên tắc đó, dù trong Đại hội thứ 15 năm 2002, ông cam kết tuân theo nó. Tuy thế, từ năm 2001 cho tới ngày Đại hội, họ Giang cho phép một số lănh tụ quân sự, các nhà nghiên cứu của đảng và các cận thần loan truyền ư tưởng rằng ông sẽ vi phạm nguyên tắc đó thêm lần nữa để tiếp tục nắm quyền. Nỗ lực ấy thất bại, tuy thế ông thành công trong việc thanh trừng Lư Thụy Thanh, một người cấp tiến 68 tuổi, trên cơ sở cá biệt rằng họ Lư đă phục vụ quá lâu trong Ban Thường vụ, từ năm 1989. Những thách thức đối với nguyên tắc tồn tại bất thành văn và mơ hồ ấy, đă nêu lên những thắc mắc được loan truyền rộng răi về tính lâu bền của nó.
2. Chỉ có ba lănh tụ thượng đỉnh - Giang Trạch Dân, Lư Bằng và Chu Dung Cơ - khống chế cuộc tuyển chọn ban lănh đạo mới (với các bậc lăo thành của Đảng đă nghỉ hưu là Bạc Nhất Ba và Tống B́nh đóng vai tṛ ảnh hưởng ở hậu trường). Sự tập trung ảnh hưởng đó trái ngược với nguyên tắc chính thức rằng những quyết định như thế phải được lập bởi 21 ủy viên Bộ Chính trị, và như thế nó tiêu biểu cho sự thất bại của CHNDTQ trong việc thực hiện một loại “lănh đạo tập thể” để có thể làm giảm những nguy hiểm của sự quyền lực bị tập trung hóa trong chế độ cộng sản.
3. Ḷng trung thành cá nhân th́ quan trọng gấp bội công trạng cá nhân. Bảy trong chín ủy viên mới của Ban Thường vụ Bộ Chính trị - Hồ Cẩm Đào, Tăng Khánh Hồng, La Cán, Ngô Bang Quốc, Giă Thanh Lân, Hoàng Cúc và Lư Trường Xuân - được chọn dựa vào ḷng trung thành có tính bè cánh dù họ là quan chức có các khuyết điểm bị nhiều người biết.[4] Chỉ có Ôn Gia Bảo và Ngô Quang Chính là được chọn chủ yếu nhờ công trạng. Trong hệ thống chính trị đa nguyên, việc chỉ định quan chức dựa vào ḷng trung thành cá nhân th́ được chấp nhận một cách tiêu chuẩn hóa và được thực hiện dễ dàng v́ chính các quan chức phụ trách việc bổ nhiệm cũng sẽ được lựa chọn và bổ nhiệm bởi những kẻ do họ chọn. Nhưng v́ tại Trung Quốc, ĐCSTQ là kẻ nắm quyền lực không ai tranh giành, nên nó miễn cưỡng tán thành cái lư tưởng có tính tiêu chuẩn hóa là việc bổ nhiệm ở bất cứ cấp nào cũng bị buộc phải dựa vào công trạng. Tuy thế, lư tưởng ấy không được thực thi hữu hiệu, và những cuộc bổ nhiệm đành rành là xấu th́ có khả năng gây bất đồng chính kiến và phản kháng.
4. Các nguyên tắc đề bạt thông thường trong hàng phẩm trật của ĐCSTQ bị xem thường khi chúng gây bất tiện cho hàng lănh đạo cao cấp của Đảng. Đó là trường hợp cả ba cán bộ lănh đạo cao cấp thuộc “thế hệ thứ năm” trong việc đảm trách Ban Thường vụ Bộ Chính trị năm 2012. Lư Khắc Thương đă được xác nhận là tổng bí thư của Trung ương Đoàn liên hiệp Thanh niên Cộng sản năm 1993 dù đại bại khi tranh cử chiếc ghế ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội thứ 14 năm 1992. Bạc Hi Lai được đem vào Đại hội thứ 15 năm 1997 như một “đại biểu được mời đặc biệt” sau khi thất bại trong cuộc bầu cử đại biểu đảng viên địa phương của ḿnh. Và Tây Nhân B́nh được chỉ định vào Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội thứ 15 sau khi không được bầu làm đại biểu tại Đại hội ấy.
Về vấn đề chuyên môn hóa chức năng hoạt động của giới tinh hoa, Đệ tứ đại tŕnh bày cái nh́n thoáng qua và sơ khởi vào con số lớn lao những cuộc đấu đá nhau mang tính thư lại và phủ trùm sinh hoạt chính trị của giới lănh đạo tại Trung Quốc. Trong khi theo truyền thống th́ các ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị được chỉ định vào các chức vụ cá biệt (các vấn đề kinh tế, an ninh nội bộ, các sự vụ quốc ngoại và vân vân), sự phân chia này vẫn là đối tượng kinh niên của tránh né hoặc bất chấp - nghĩa là “tính chất tự quản” là yêu cầu của sự định chế hóa chính trị theo định nghĩa của Huntington vẫn tiếp tục bị thủ tiêu trong nhiều phạm vi quan trọng có tính chính sách.
Thất bại của sự chuyên môn hóa giới tinh hoa được biểu thị trong nhiều khu vực hoạt động:
Điểm đặc trưng duy nhất ở bên dưới cấp tinh hoa, có tiềm năng mạnh mẽ để làm giảm những tác động buồn thảm của t́nh trạng quyền lực tập trung trong các chế độ toàn trị, là sự tham gia chính trị: sự “thâm thủng dân chủ” có thể tối thiểu được bù đắp phần nào bằng sự “thặng dư tham gia”. Để làm bằng chứng cho sự định chế hóa đang gia tăng ở cấp dưới cấp tinh hoa, các nhà nghiên cứu kể tới các cuộc bầu cử cấp xă, việc đệ đạt thỉnh nguyện của nhân dân, và vai tṛ của các cơ quan lập pháp địa phương. Tuy trong các trường hợp đó, không trường hợp nào đạt hai tiêu chuẩn của sự định chế hóa - hiệu năng và nhất quán. Đơn cử vài thí dụ nổi tiếng:
5. Rơ ràng các cuộc bầu cử cấp xă đă chứng minh tính hiệu năng trong sự cải thiện việc cai trị tại gần một triệu xă ở Trung Quốc và thiết lập chính quyền nhà nước tại vùng nông thôn. Nhưng chúng thiếu sự nhất quán có tính tiêu chuẩn hóa: Bên trong nhà nước độc đảng, sự đua tranh chính trị phải được giữ trong ṿng kiểm soát chặt chẽ. Đồng thời, duy tŕ sự kiểm soát ấy đôi khi có ư nghĩa là Đảng phải vi phạm những nguyên tắc đua tranh do chính Đảng đề ra - thí dụ, bằng các việc như vi phạm chính sách do nó đề ra trong các cuộc bầu cử cấp xă; vô hiệu hóa các kết quả bầu cử mà nó không thể chấp nhận; hoặc lén lút cấy sự kiểm soát của nó ở những xă không chịu vào khuôn phép. Việc đề ra các cuộc bầu cử ấy có thể là chiến thuật từ phía một số quan chức chính phủ cấp trung ương muốn giấu diếm dân chủ ở cửa sau, nhưng việc giấu diếm như thế chỉ có thể tiến hành ngang đây thôi, trước khi nó bắt đầu vận dụng sức ép chính xác lên trên lư tưởng cai trị có tính tiêu chuẩn hóa mà chỉ một ḿnh Đảng nắm quyền lực chính trị.
6. Trong nỗ lực khẳng định vai tṛ “giám sát” công tác của chính quyền, các cơ quan lập pháp cấp quốc gia lẫn cấp địa phương đều phải chịu đựng cũng một loại không nhất quán có tính tiêu chuẩn hóa ấy. V́ đảng và nhà nước Trung Quốc không chấp nhận ư tưởng ủy thác quyền lực chính trị nên các cơ quan lập pháp bao giờ cũng yếu. Trong các đan cử hiếm hoi ấy, nơi mà họ cố xoay xở để, thí dụ như, từ chối một luật lệ, một sự bổ nhiệm người vào cơ quan hoặc một bản báo cáo của chính quyền th́ gần như có t́nh trạng hoang mang buồn cười về việc ḿnh phải làm ǵ đây. Không giống các cuộc bầu cử cấp xă, nơi ít ra sự ủy thác quyền lực hành chánh cũng có hiệu năng, các hội đồng nhân dân của Trung Quốc vẫn c̣n bị Đảng kiểm soát rất chặt chẽ tới độ chúng hầu hết đều không hiệu năng.
7. Cũng có một hệ thống đệ đạt thỉnh nguyện của nhân dân mà người ta có thể nói là đáp ứng yêu cầu của ư tưởng có tính tiêu chuẩn hóa đều khắp: rằng nhân dân được phép đưa đề nghị để góp phần giúp Đảng thực hiện công tác. Vào năm 2000, một Văn pḥng Quốc gia Nhận Thư thỉnh nguyện và Tiếp dân (State Bureau of Letters and Visits) mới được thành lập như một cơ quan cấp dưới bộ. Thế nhưng việc giải quyết thư thỉnh nguyện của nhân dân vẫn rất thất thường, v́ quá tŕnh cứu xét tối hậu không thật sự tùy thuộc sự xử lư thường xuyên theo quyền hành đă được ủy thác, mà đúng hơn, theo sự chấp nhận có tuyển chọn do Đảng giám sát.
Như thế, bằng chứng hiện nay về sự định chế hóa có vẻ bị giới hạn một cách dứt khoát. Sự định chế hóa không chỉ bao gồm sự vắng mặt của hỗn độn mà c̣n đưa tới sự có mặt tích cực của hiệu năng và nhất quán có tính tiêu chuẩn hóa. Lúc đó, ĐCSTQ chuyển dịch từ một trạng thái hỗn độn tới một trạng thái an b́nh đặc biệt; nhưng chỉ tới đó thôi, không đi xa hơn. Kết quả là, các vấn đề gắn bó một cách truyền thống với các chế độ phi dân chủ - sự phi chính thống, cai trị kém cỏi, tham nhũng, sự bất ổn của giới tinh hoa - vẫn c̣n nhiều vô số tại Trung Quốc. Chỉ riêng tham nhũng thôi th́ đă được ước lượng tới con số tương đương từ 10% tới 20% tổng sản lượng quốc nội (GDP). Sự bất ổn của giới tinh hoa biểu thị rơ rệt trong những cuộc đấu đá bè cánh và ư thức hệ mà đă đặc điểm hóa những năm thời họ Giang, bao gồm việc thanh trừng không dưới sáu ủy viên Bộ Chính trị. Tất cả những cái ấy gợi cho thấy rằng các nỗ lực của Trung Quốc nhằm định chế hóa nói chung là thất bại.
Sự định chế hóa trong tương lai
Có lẽ câu hỏi đúng ra nên là, cái ǵ tương lai sẽ mang tới. Liệu các tiêu chuẩn được định chế hóa một cách quá yếu tại Trung Quốc có sẽ trở thành mạnh hơn, hoặc suy sụp? Nghĩa là, liệu chúng ta có thể hân hoan trông đợi giai đoạn “dân chủ hóa từng bước một” để khắc phục sự vô hiệu năng và phi nhất quán của hệ thống hiện nay?
Mọi sự củng cố có tính dân chủ đều bắt đầu từ những thay đổi mà theo định nghĩa th́ chúng chưa hằn sâu, có thể được đặc điểm hóa như một thỏa ước tạm thời (modus vivendi) giữa những tay chơi thích đáng. Chỉ với thời gian th́ những thay đổi ấy mới hằn sâu, mới được thấy một cách tổng quát là đáng được thừa nhận v́ lợi ích của chính chúng, và như thế, chúng trở thành những tiêu chuẩn. Nhưng luôn luôn có khả năng ngược lại, cái mà tôi tin tưởng có khả năng hơn trong trường hợp Trung Quốc: rằng những diễn tiến mới sẽ suy sụp như một kết quả của “lô-gic của quyền lực tập trung.”
Thí dụ, về vấn đề đề bạt giới tinh hoa, thật dễ tưởng tượng là chắc chắn rằng theo thời gian, nguyên tắc 70 tuổi sẽ được định chế hóa hơn, tuy thế chỉ cần một hoặc hai người không đồng ư là làm hỏng cuộc mặc cả, như từng thấy trong cuộc đấu đá về kế thừa tại Đại hội Đảng thứ 16. Tại Đại hội Đảng thứ 17 năm 2007, La Cán, người theo đường lối cứng rắn, sẽ trên 70 tuổi, trong khi một đối thủ của Hồ Cẩm Đào là Tăng Khánh Hồng sẽ 68. Cả hai đại điện cho các bè cánh có sức mạnh. Và khi quyền lực bị đe dọa một cách tối hậu th́ sự duy tŕ các tiêu chuẩn bị bấp bênh - như các chế độ toàn trị trên khắp thế giới đă biểu lộ nhiều lần. Càng khư khư ôm chặt quyền lực chừng nào th́ những tiêu chuẩn càng có khuynh hướng bốc hơi chừng nấy.
Ngược lại, những đề bạt dựa trên công trạng chắc chắn sẽ góp phần càng ngày càng đem thêm nhiều người có năng lực vào các cơ quan cao hơn. Nhưng tại cấp địa phương, diễn tiến đề bạt thường trở thành đút lót, trong khi ở cấp tinh hoa, diễn tiến ấy vẫn bị quyết định bởi những thất thường của các bè cánh chính trị. Việc thay đổi các mẫu thức ấy đ̣i hỏi một tuyến độ rộng răi để theo dơi và giám sát qua truyền thông không bị kiểm duyệt, việc chống tham nhũng và việc ủy thác quyền lực. Trong những cái đó, có vẻ ĐCSTQ không chọn cái nào. Việc thay đổi các mẫu thức rộng răi hơn của tham nhũng cũng đ̣i hỏi những triển khai tương tự, và cũng không có khả năng tương tự.
Tới với các cuộc bầu cử cấp xă, các lănh tụ Đảng sẽ có khuynh hướng cảnh giác khi gặp bất cứ dấu hiệu nào của hiệu năng nơi các xă trưởng được bầu lên. Sự xuất hiện của nhiều viên chức được bầu đó - như một nhóm không có tính nhạy cảm đối với việc kết nạp hoặc việc mưu toan lật đổ - th́ không thể tránh khỏi, sẽ nêu lên vấn nạn rằng không biết Đảng có nên xét lại các tiêu chuẩn của nó để ủng hộ việc chia sẻ quyền lực chính trị hay không - và đó chính là con đường mà các chế độ toàn trị mạnh mẽ ở Đài Loan, Nam Hàn và Thái Lan đă đi. Nhưng trong trường hợp một chế độ yếu ớt như chế độ của ĐCSTQ th́ sự “tự nguyện rút lui” đó không chắc có thật.[5] Một diễn tiến có vẻ có thật hơn là, Đảng tiếp tục vi phạm các cuộc bầu cử cấp xă khi các nhóm chính trị mới mẻ ấy bắt đầu tranh đua với sự thành công ngày càng nhiều hơn. Như Paul Brooker ghi nhận, các chế độ toàn trị đưa ra các cuộc bầu cử địa phương chân chính “có thể tối hậu sẽ đối mặt với vấn đề là phải t́m cho ra một phương cách phi dân chủ không quá lộ liễu để làm cho khập khểnh cái đảng đang đấu tranh quá thành công với đảng chính thức của ḿnh.”[6]
T́nh thế tiến thoái lưỡng nan ấy cũng giúp giải thích tại sao ĐCSTQ, bất chấp những lời hứa được lặp đi lặp lại của nó, vẫn chưa tán trợ việc mở rộng bầu cử những người điều hành trực tiếp ở cấp cao hơn cấp xă. Những thử nghiệm rải rác việc bầu cử người cai trị cấp huyện đă bị cấp lănh đạo Đảng phê b́nh, mặc dù chúng được dân chúng tại các địa điểm ấy chấp nhận và ưa thích, và nói chung đáp ứng được cuộc khủng hoảng cai trị đang diễn ra trong vấn đề cai trị ở cấp huyện.
Về phần các hội đồng nhân dân, chắc chắn chúng cải thiện việc cai trị tại nhiều địa hạt. Nhưng thông thường chúng làm được như thế bằng việc nắm lấy quyền lực, ngược với ư kiến của Đảng. Nơi nào chúng cải thiện được tính chính thống của chế độ th́ chỉ bởi v́ các thành viên của chúng được đảng kết nạp đầy đủ. Chúng hoặc chỉ có thể cải thiện sự cai trị, hoặc chỉ có thể cải thiện sự kiểm soát của chế độ, không thể làm cả hai việc đó.
Trong mỗi trường hợp - các cuộc bầu cử cấp huyện hoặc các hội đồng nhân dân - đang bị buộc phải chọn giữa hiệu năng và nhất quán. Dường như lúc nào Đảng cũng chọn cái thứ hai.
Các chu kỳ và suy sụp
Nhiều người viết về các chu kỳ sinh hoạt chính trị tại CHNDTQ từ năm 1949. Trong khi những ngẫu nhiên có tính con người và tính lịch sử có khuynh hướng giải thích những thời điểm rạch ṛi của các chu kỳ này, th́ động cơ nằm bên dưới dẫn tới sự suy sụp sau mỗi sự củng cố, nói một cách chính xác, chính là cái “lô-gic của quyền lực tập trung”: trong những thời kỳ khủng hoảng chính trị, loạn chức năng, hoặc có vấn đề kế thừa th́ bất cứ quyền lực nào từng được ủy thác một cách thận trọng để cải thiện việc cai trị và ổn định giới tinh hoa chính trị đều bị thu hồi lẹ làng. Tính từ năm 1949, đại khái ta có thể thấy có bốn chu kỳ tách biệt:
1. Thời kỳ một (1940-61):
2. Thời kỳ 2 (1961-76):
3. Thời kỳ 3: (1976-94):
4. Thời kỳ 4: (1994- ):
Một phân tích thoáng qua về văn học trong ba chu kỳ kể trên gợi cho thấy các nhà nghiên cứu sinh hoạt chính trị của Trung Quốc đều rất có khuynh hướng thông giải rằng sự thay đổi ở từng giai đoạn th́ mang tính tuyến tính. Thí dụ năm 1978 - ngay lúc bắt đầu của cái mà tôi dùng thuật ngữ Củng cố Thời kỳ Ba” - có xuất hiện một bài viết với nhan đề Hiện đại hóa và sinh hoạt chính trị kế thừa tại Trung Quốc. Bài viết ấy gây nhiều tranh luận v́ đưa ra một số cảnh báo về sự bất định trong tương lai, một sự bất định mà măi tới ngày nay mới xảy tới, trong giai đoạn Đại hội thứ 16.[7] Ngược lại, văn học sau năm 1989 có khuynh hướng mạnh mẽ nhấn mạnh sự tiếp tục suy sụp của chế độ.
Dơi theo những thăng trầm của từng giai đoạn cá biệt và so sánh chúng với các giai đoạn trước đó, người ta có thể nói rất chắc chắn về tiên đoán đó. Khi tin rằng các thời kỳ ấy không thể đảo ngược th́ chính niềm tin đó ẩn chứa sự nguy hiểm; lịch sử của Trung Quốc cách riêng và lư thuyết về chế độ toàn trị nói chung gợi cho thấy rằng chúng có khả năng đảo ngược. Indonesia của Suharto có thể là một phản thí dụ tốt nhất - vào giữa thập niên 1990, chế độ đó bị tuột hết quyền lực vào lúc nó có vẻ như đang có chiều hướng đi lên và củng cố chính nó bằng những h́nh thức định chế hóa mới, và xem ra “chắc chắn và hiệu năng rất cao.”[8]
Nếu chúng ta đă t́m kiếm kỹ lưỡng hơn các dấu hiệu củng cố sau năm 1989 th́ chúng ta nên t́m kiếm kỹ lưỡng hơn các dấu hiệu suy sụp ngày nay tại đỉnh điểm của những ǵ sẽ là Thời kỳ Suy sụp thứ Tư trong biểu đồ trên. Nhiều dấu hiệu trong đó có thể bao gồm sự xuất hiện của t́nh trạng nứt rạn ít nhiều và công khai trong các ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị về các vấn đề chính sách trọng yếu, thí dụ Đài Loan hoặc bầu cử cấp địa phương; sự công khai xuất hiện trở lại của các lănh tụ đang nghỉ hưu như Giang Trạch Dân hoặc Lư Bằng; hoặc Bộ Chính trị mất quyền hành trên lănh vực hoạt động như an ninh nội bộ.
Vấn đề thời kỳ suy sụp mới có thể dẫn tới đâu th́ nằm ngoài phạm vi ứng xử của trang giấy này. Nhưng một lời cảnh cáo coi như là kết luận rằng: sự suy sụp mang tính định định chế hóa đó không báo điềm sụp đổ của chế độ. Sức mạnh của bộ máy cưỡng bách của Trung Quốc - sáu triệu viên chức công an và bộ đội - hiệp với t́nh trạng xă hội dân sự yếu ớt đủ để đảm bảo rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ không bị rớt đài hoặc bị đẩy khỏi quyền lực. Tấn thảm kịch dưới h́nh thức các cuộc thanh trừng chính trị và trấn áp xă hội là kết quả rất điển h́nh cho các thời kỳ suy sụp tại Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa.
Đồng thời có một hệ quả mang tính lựa chọn mà có thể giúp Trung Quốc thoát khỏi chu kỳ chính trị đó: sự đột phá có tính dân chủ. Sự suy sụp định chế cung cấp cơ hội - thường th́ kèm theo nó là khủng hoảng cai trị - cho giới tinh hoa có khuynh hướng cải cách thiết kế sự gỡ rối cho chế độ bằng những hứa hẹn cởi mở chính trị vốn là bước đầu tiên hướng tới dân chủ. Lúc ấy, mỉa mai thay, hy vọng dân chủ nhất lại có thể nằm ngay trong chính những mâu thuẫn đang tạo ra quá nhiều trục trặc cho sự định chế hóa hiện nay.
[1] Lối nói “lô-gic của quyền lực tập trung” là dựa theo câu nói của Robert Dahl về “lô-gic của sự b́nh đẳng” - nỗ lực hướng tới sự tham gia rộng răi và quyền lực chính trị có tinh thần trách nhiệm mà Dahl coi đó là kết quả cố định phát xuất từ việc bắt đầu đảm đương sự b́nh đẳng chính trị giữa các thành viên của xă hội [đoàn, nhóm, hiệp hội...]. Xem: Dahl, On Democracy (Bàn về dân chủ), New Haven: Yale University Press, 1996, 10.
[2] Samuel P. Huntington, Political Order in Changing Societies (Trật tự chính trị trong các xă hội đang thay đổi), New Haven: Yale University Press, 1968, 12,2.
[3] Zong Hairen, Disidai (The Fourth Generation, Thế hệ thứ tư), New York: Mirror Books, 2002. Nó là nền của cuốn sách viết bằng tiếng Anh mà tôi là đồng tác giả với Andrew Nathan, China’s New Rulers: The Secret Files (Những nhà cai trị mới của Trung Quốc: Hồ sơ mật), New York: New York Review of Books, 2002. Chúng tôi tŕnh bày tính xác thực của Desidai với đầy đủ chi tiết trong lời nói đầu của cuốn sách.
[4] Các khuyết điểm ấy được thừa nhận rơ ràng trong các tài liệu chính thức của đảng. Xem: Andrew Nathan và Bruce Gilley, China’s New Rulers, phần nói về Hồ Cẩm Đào, tr. 68; về Ngô Bang Quốc, 102; về La Cán, 110; và về Lư Trường Xuân, 114.
[5] Tôi đưa ra một phương thuốc kéo dài diễn tiến có khả năng đột phá dân chủ trong China’s Democratic Future (Tương lai dân chủ của Trung Quốc), sắp xuất bản.
[6] Paul Brooker, Non-Democratic Regimes: Theory, Government and Politics (Các chế độ phi dân chủ: lư thuyết, chính quyền và chính trị)
[7] Kenneth Lieberthal trong Journal of International Affairs 32 Fall 1978 (Tạp chí Các Sự vụ quốc tế số 32 Mùa thu 1978), 239- 54. Bài báo ấy ghi nhận các “kết quả làm giật ḿnh” của sự củng cố thời sau-Mao, do bởi “sự nhất trí... rất cao” của giới lănh đạo và nỗ lực của nó để “làm cho đảng khôi phục quyền lực và năng lực trước đây.” Tuy thế, nó cảnh cáo rằng “quá sớm để nói liệu tiến tŕnh đó có thể đảo ngược hay không”.
[8] R. William Liddle. “Indonesia: Suharto’s Tightening Grip” (Indonesia: Kềm kẹp đang siết của Suharto), Journal of Democracy 7 (October 1996), 70. Trích trong: Larry Diamond, Developing Democracy: Towards Consolidation (Phát triển dân chủ: hướng tới sự củng cố), Baltimore, John Hopkins University Press, 1999, 262.