Bài thỨ tư
Sự bất b́nh đẳng mới
An Chen
An Chen
(Trần An) - tiến sĩ Đại học Yale, giáo
sư môn khoa học chính trị, Đại học Quốc gia Singapore, từng
là thành viên nghiên cứu của Viện Khoa học Xă hội Trung Quốc.
Ông là tác giả cuốn Restructuring Political Power in China:
Alliances and Opposition, 1978-1998 (1999) – Tái cấu trúc
quyền lực chính trị tại Trung Quốc: Các liên minh và đối lập,
1978- 1998.
Tại Trung Quốc, chủ nghĩa tư bản gây
ra sự phân tầng xă hội đầy ư nghĩa và xung khắc giai cấp đang
gia tăng. Liệu sự kiện ấy có đẩy xứ sở ấy tới một chế độ dân chủ
kiểu phương tây, ít ra trong một tương lai gần? Câu trả lời của
tôi là không. Lư do độc nhất và quan trọng là, sự phát triển của
chủ nghĩa tư bản và sinh hoạt chính trị có tính giai cấp tại
Trung Quốc trông không có vẻ tạo ra một sức ép xă hội thân dân
chủ mănh liệt hoặc h́nh thành một kiểu mẫu liên minh giai cấp
ủng hộ dân chủ hóa.
Nhiều sinh viên môn chuyển tiếp dân
chủ đă phân loại chúng theo hai mô h́nh rộng răi. Cái thứ nhất
tôi sẽ gọi là mô h́nh cấu trúc, nhấn mạnh tầm quan trọng của các
điều kiện kinh tế xă hội rộng răi, làm thuận lợi cho sự dân chủ
hóa, hoặc ít nhất làm chuyển đổi hẳn một chủ nghĩa toàn trị đă
phát triển đầy đủ. Cái được liệt kê thứ hai là kiểu mẫu chuyển
tiếp trên căn bản “thỏa ước” hoặc “thương lượng”, đặt trọng tâm
vào những chọn lựa có tính chiến lược và những tương tác của
giới tinh hoa chính trị trong việc gây ra “sự đoạn tuyệt với
toàn trị” và “sự mở màn dân chủ.” Kiểu mẫu thứ hai này không
loại trừ các sức ép có tính cấu trúc nhằm thay đổi để có dân chủ,
và đang được ưa chuộng nhất trong giới nghiên cứu về các cuộc
chuyển tiếp theo “đợt sóng thứ ba” kể từ năm 1974. Thế nhưng
kiểu mẫu này dường như khó có thể áp dụng tại Trung Quốc. Trong
hầu hết các cuộc chuyển tiếp do thương lượng th́ ở đó đă có sẵn
truyền thống xă hội dân sự và đối lập chính trị có tổ chức khiến
có thể làm cho giới tinh hoa (các lănh tụ đương nhiệm hoặc các
lănh tụ đối lập) chơi tṛ mặc cả. Nhưng điểm khởi hành của Trung
Quốc là từ một chế độ toàn trị, do đó, nếu có xảy ra th́ không
xảy ra trong một bối cảnh như vậy. Thế cho nên để nắm bắt những
quĩ đạo khả hữu của sự chuyển tiếp tại Trung Quốc, chúng ta phải
quay lại kiểu mẫu thứ nhất, cái có tính cấu trúc.
Kiểu mẫu ấy đi vào nhiều biến thể mà
ở đây chúng ta chưa cần dừng lại để liệt kê đầy đủ. Chỉ cần nói
rằng cái ư nghĩa quan trọng nhất trong việc áp dụng nó tại Trung
Quốc, theo quan điểm của tôi, là cái mà tôi gọi là kiểu mẫu
cổ điển có tính cấu trúc (classical structural model). Được
rút tỉa chủ yếu từ kinh nghiệm lịch sử của châu Âu, biến thể này
có thể rọi ánh sáng lên các câu hỏi quyết định về tương lai của
Trung Quốc: Chính xác th́ cái ǵ sẽ là đầu tàu cho sự dân chủ
hóa tại một xứ sở vốn không có lịch sử, truyền thống hoặc văn
hóa dân chủ? Mấy chục năm giải phóng kinh tế và những thay đổi
có tính hệ quả trong cấu trúc của xă hội Trung Quốc vừa qua đă
khiến kinh nghiệm châu AÂu trở thành thích đáng hơn bao giờ hết.
Kết quả cuối cùng th́ rơ ràng:
đời sống chính trị của Trung Quốc đang diễn ra trong một bối
cảnh chính trị mới mẻ đối với Trung Quốc nhưng cũng quen
thuộc đối với một số không ít các trường hợp lịch sử trước đó,
và do đó, cần phải tiên đoán một cách công bằng và tích cực, ít
nhất về những nét đại cương với điều kiện là những vấn đề thiết
yếu của cái kiểu mẫu cấu trúc cổ điển đó được duyệt xét một cách
trí tuệ dưới ánh sáng của t́nh huống tạo nên trường hợp Trung
Quốc — và quả thật, với hết thảy các trường hợp “mới đây” — tách
biệt hẳn các trường hợp “lịch sử” trước kia.
Thế th́ cái ǵ phân chia các nhà dân
chủ “mới đây” và các nhà dân chủ “lịch sử”? Cho tới khoảng nửa
thế kỷ trước, phong trào hướng tới dân chủ là một quá tŕnh tăng
trưởng lâu dài mà có thể truy tầm nguồn gốc của nó nơi truyền
thống của chủ nghĩa đa nguyên chính trị. Quá tŕnh hướng tới dân
chủ tự do xảy ra chống lại một bối cảnh chính trị rộng lớn trong
đó rơ ràng là mọi bộ phận cấu thành dân chủ, thí dụ sự phân
quyền, cai trị theo hiến pháp, quyền tối thượng và độc lập của
quốc hội, đă được định chế dần dần. Dân chủ trở nên đầy đủ hơn
khi quyền bỏ phiếu được mở rộng hơn bao giờ hết cho các tầng lớp
nhân dân trên qui mô lớn hơn.
Trong hầu hết các trường hợp đương
đại — gồm Trung Quốc — các chế độ trước đó đều là chế độ chuyên
quyền, thiếu một cái ǵ đó hơn là cái vẻ bên ngoài của các cơ
chế dân chủ tối thiểu, và gần như loại khỏi chính quyền mọi giai
cấp xă hội. Tuy thế, cả trong trường hợp đó, dân chủ — bao gồm
phổ thông đầu phiếu — được đề ra cho đúng với nguyên tắc dù bị
coi rẽ trong thực hành. Thế th́ sự dân chủ hóa chân chính — nếu
nó xảy ra — sẽ xảy ra theo cái mà Ruth Brins Collier gọi là “một
chương hồi cải cách độc nhất trong cuốn truyện dài thay đổi chế
độ sâu rộng”, trong đó hết thảy các nhóm xă hội đều có quyền bầu
cử và ứng cử.[1]
Từ cái đó, phát sinh những ứng dụng
nào? Phần v́ các chế độ toàn trị đương đại không thể chứng minh
bằng nền tảng ư thức hệ nên chúng bị ám ảnh bởi vấn đề chính
thống. Tại Trung Quốc nơi ư thức hệ Mác-xít không c̣n bám riết
con tim và khối óc và nơi mà nền kinh tế đang càng ngày càng hội
nhập cộng đồng quốc tế trong đó tự do và dân chủ chiếm ưu thế,
nền tảng đạo đức và ư thức hệ của sự cai trị xuất phát từ Đảng
Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) bị xói ṃn đáng kể. Tuy thế, đối với
người Trung Quốc, ngoại trừ sự dan díu đầy lăng mạn phù phiếm và
ngắn ngủi với chế độ đại nghị vào lúc mới bắt đầu thế kỷ 20, chủ
nghĩa toàn trị bao giờ cũng là cách thế “b́nh thường” trong đời
sống chính trị của họ. Do đó, trong bối cảnh Trung Quốc, chủ
nghĩa toàn trị không cần được chứng minh bằng các thuật ngữ
thuần túy chính trị. “Tính chính thống” của nó có thể được giải
thích thỏa đáng theo Max Weber “chính quyền của ‘muôn thuở hôm
qua’...của những tập tục được làm cho có vẻ hợp pháp qua sự công
nhận từ đời nảo đời nao không mường tượng nổi và sự định hướng
làm thành tập quán tuân thủ.”[2] Các chế độ toàn trị khác có thể
phải dựa, tới một cấp độ biến thiên nào đó, vào sự hợp tác và
giúp đỡ của những người hoạt động trong khu vực tư nhân để sống
c̣n. Tại Trung Quốc, quan hệ đó th́ đảo ngược, bất chấp tầm quan
trọng kinh tế và ảnh hưởng chính trị của khu vực tư đang gia
tăng.
Mặc dù các nhóm học giả và nhà
nghiên cứu phương tây đều đồng ư với nhau về sự nới rộng các tự
do cá nhân và chủ nghĩa đa nguyên kinh tế xă hội tại Trung Quốc,
khả năng khống chế xă hội Trung Quốc của Đảng và nhà nước cộng
sản không bị xói ṃn đáng kể. Cho tới nay, chế độ của ĐCSTQ nới
lỏng sự kiểm soát toàn xă hội hoặc buông bỏ phần nào cái sức
mạnh có tính định chế của nó không phải do bởi sức ép ở trong
nước hoặc quốc tế nhưng nói chung do bởi nghị tŕnh của đảng và
nhà nước, một nghị tŕnh có phần nào — nhưng chỉ phần nào thôi —
bị chế ngự bởi các yêu cầu của nền kinh tế thị trường đang bắt
đầu nảy nở.
Làm thế nào công cuộc dân chủ hóa có
thể phát sinh dưới một nhà nước toàn trị và gần như tối thượng
như thế? Động lực cơ bản hoặc sức mạnh thúc đẩy dân chủ hóa sẽ
phát xuất từ đâu? Và làm thế nào nó có đủ sức mạnh? V́ một số lư
do, sức ép từ hải ngoại có vẻ như không đóng vai tṛ quan trọng
trong việc chuyển dịch Trung Quốc tới dân chủ. Ngược lại, dân
chủ hóa đ̣i hỏi sức ép cực độ từ bên trong, một sức ép mà chỉ
các nhóm xă hội có sức mạnh mới có thể đảm đương nổi. Nhưng liệu
có phát sinh được sức ép đó không? Đặc biệt nó tùy thuộc vào vấn
đề chủ chốt và sau cùng mà kiểu mẫu cấu trúc cổ điển tŕnh bày
sức mạnh giải thích được của nó.
Phân tầng xă hội và những xung
khắc giai cấp
Tại cốt lơi của kiểu mẫu này là quá
tŕnh phát triển tư bản chủ nghĩa. Tư bản chủ nghĩa đưa tới sự
phân chia và cân bằng hỗ tương các sức mạnh kinh tế và chính
trị. Nó cũng tạo ra sự phân tầng xă hội và sự đa dạng hóa các
quyền lợi giai cấp, chuyển thể nhà nước thành đấu trường ở đó
những xung khắc quyền lợi được giải quyết bằng đấu tranh. V́
những lư do này và những lư do nọ, chủ nghĩa tư bản có lô-gic
thân dân chủ và chẳng có lư do đặc biệt nào để tin rằng Trung
Quốc không bị nó thẩm thấu. Những cải cách mang tính thị trường
suốt mấy thập niên vừa qua đă làm phát sinh những sức mạnh kinh
tế độc lập đối với sự kiểm soát của nhà nước và xói ṃn các trụ
cột kinh tế xă hội của quyền bá chủ cộng sản chủ nghĩa. So với
nhà nước tư bản, nhà nước Trung Quốc vẫn mạnh hơn rất nhiều
nhưng nó không thể hoàn toàn lănh đạm với xă hội, và quả thật,
ngày nay nó cần tới sự giúp đỡ của xă hội hơn bao giờ hết để cai
trị có hiệu quả. Khi xă hội Trung Quốc tiếp tục bị phân biệt và
phân tầng th́ sinh hoạt chính trị giai cấp trở thành một vấn đề
mà ĐCSTQ phải đếm xĩa tới.
Dưới thời Mao, không có giai cấp xă
hội hiểu theo nghĩa kinh tế. Ngoại trừ các “kẻ thù của giai
cấp”, hầu hết người dân Trung Quốc hoặc là “công nhân” lao động
trong các công ty xí nghiệp do nhà nước làm chủ hoặc là “nông
dân” canh tác trong các “công xă nhân dân”. Trong các thập niên
sau-Mao, có vẻ như một phần ba nông dân bỏ việc cày cấy để t́m
những việc làm phi nông nghiệp.[3] C̣n nữa, giai cấp lao động mà
đẳng cấp của chúng từng ph́nh lên ngày nay vỡ thành tầng lớp có
khả năng ngoi lên thành giới cổ trắng vững vàng hoặc tầng lớp bị
sa sút thành các nhóm nghèo khổ, thậm chí “hạ cấp” (underclass –
dưới-giai-cấp).
Ngày nay, trong các thành phố lớn
của Trung Quốc, nói chung người ta có thể nhận thấy có phẩm trật
bốn giai cấp. Ở trên chóp đỉnh là tầng lớp trưởng giả thượng
hạng và ít ỏi, gồm các doanh gia thành công nhất. Kế đó tới
giai cấp trung lưu gồm các doanh gia nhỏ hơn, các quản trị viên
và các công nhân cổ trắng làm việc cho công ty nước ngoài hay
công ty tư doanh lớn, và các chuyên gia. Hai giai cấp phát đạt
này chiếm có lẽ không hơn 13% dân số đô thị, biến họ thành 5%
tổng dân số cả nước.[4]
Đứng bên dưới hai giai cấp phồn vinh
ấy là giai cấp lao động gồm đa số nhân dân Trung Quốc. Nằm dưới
đáy xă hội là giai cấp “hạ cấp” với lợi tức thấp hơn mức chỉ đủ
sống để tồn tại. Trong những năm vừa qua, t́nh trạng đông đảo
công nhân công ty quốc doanh không công ăn việc làm đă mở rộng
giai cấp “hạ cấp” này tới một kích cỡ có ư nghĩa quan trọng về
mặt chính trị, có lẽ đang đạt tới con số 50 triệu cư dân thành
phố trên toàn lănh thổ.[5]
Tại Trung Quốc, hoạt động chính trị
giai cấp bị khích động bởi sự kết hợp của sự phân tầng xă hội
đang sâu sắc, sự mất tinh thần đang gia tăng v́ thất bại của chế
độ trong việc xóa đói giảm nghèo và sự tức giận ngày càng cao
đối với tham nhũng và những chênh lệch sâu rộng liên quan tới
phát triển kinh tế do nhà nước lănh đạo. Năm 1998, Ngân hàng Thế
giới — dùng một phương pháp không tính đến lợi tức phi pháp của
viên chức nhà nước — đă ước lượng chỉ số Gini của Trung Quốc với
con số đáng lo ngại là 40,3 (từ số 0 biểu hiệu cho t́nh trạng
hoàn toàn b́nh đẳng lợi tức tới số 100 biểu hiệu cho hoàn toàn
bất b́nh đẳng[6]. Chỉ số ấy đặt Trung Quốc ngang tầm chất lượng
với các nước như Bolivia (42.0, 1990), Phi Luật Tân (46.2, 1997)
và Peru (46.2, 1996). Bản báo cáo chính thức tiết lộ rằng mặc dù
đă thực hiện nhiều nỗ lực xóa đói giảm nghèo ở đô thị, vẫn c̣n
30 triệu thị dân kiếm chỉ vừa đủ sống.[7]
Đối với nhiều người, sự chênh lệch
lợi tức ngày càng lớn giữa người Trung Quốc dường như dính líu
nhiều tới các gian trá và tham nhũng chính trị hơn là tới những
nỗ lực lương thiện của thị trường tự do. Điển h́nh là các nhà tư
bản tạo dựng tài sản bằng thông đồng với viên chức thư lại bất
lương hoặc nắm lợi thế trong t́nh trạng thị trường hỗn độn để
khỏi bị trừng phạt v́ những thủ đoạn vô đạo và phi pháp. Khi các
công ty quốc doanh chuyển biến thành các thực thể tư doanh, chia
cổ phần, thí dụ nhiều giám đốc do nhà nước bổ nhiệm có thể dùng
địa vị của ḿnh để làm “tay trong” và thành người giàu có trong
khi đó số lượng đông đảo công nhân “thừa” hoặc “không sinh lợi”
của các xí nghiệp quốc doanh cũ bỗng thấy ḿnh có mặt trên đường
phố.
T́nh trạng thiếu các kênh được định
chế hóa để nói lên quyền lợi của giai cấp hoặc thiếu đấu trường
chính trị hợp pháp để cạnh tranh giai cấp khiến người ta không
có khả năng đánh giá chính xác chiều sâu của những phân chẻ giai
cấp trong xă hội. Nhưng một báo cáo mới đây của Viện Khoa học Xă
hội Trung Quốc — trong đó có phần dựa trên những nghiên cứu được
xúc tiến tại một số thành phố kỹ nghệ “tiêu biểu” — đă cung cấp
vài dữ kiện xác minh t́nh trạng leo thang của chiến tranh giai
cấp. Theo bản báo cáo ấy, chỉ có 10,6% người được nghiên cứu
thấy rằng không có “xung khắc quyền lợi” [xă hội hoặc giai cấp]
trong khi đó 89,4% nghĩ rằng đang có “các xung khắc” giữa một số
hoặc tất cả các giai tầng hoặc giai cấp xă hội. Các nhóm xă hội
có ư thức “đấu tranh giai cấp” mạnh mẽ nhất là các doanh gia tư
nhân (100%) và các công nhân bị sa thải (90,5%). Tại hai thành
phố Thiên Tân và Chân Ninh, tỉ lệ phần trăm các công nhân kỹ
nghệ được thăm ḍ than phiền về lợi tức “bất b́nh đẳng” tương
ứng với mỗi nơi là 81% và 89%.[8] Có bằng chứng ngày càng nhiều
là sự đối kháng giai cấp không c̣n chỉ nằm trên giấy tờ nhưng đă
phát sinh những yêu cầu đặc biệt trên căn bản giai cấp đặt ra
cho nhà nước. Tại thành phố Hạ Ph́, khoảng 85% công nhân kỹ
nghệ, dù đang có việc làm hoặc thất nghiệp, nói rằng họ muốn
chính phủ đánh thuế người giàu nặng hơn và tăng trợ cấp xă hội
cho người nghèo; ngược lại các doanh gia tư nhân th́ phản đối cả
hai ư tưởng đó với tỉ lệ 3 chống 1. Tại thành phố Hán Xuyên,
84.4% người lao động nông nghiệp khẩn khoản yêu cầu có những
biện pháp tái phân phối có hiệu quả để điều hướng sự bất b́nh
đẳng lợi tức.[9]
Sinh hoạt chính trị và các giai
cấp mới
Như lịch sử cho thấy, phát triển tư
bản chủ nghĩa có thể sinh ra những nhóm xă hội thúc đẩy cho dân
chủ. Dân chủ cũng có thể phát sinh như là phó sản của cuộc đấu
tranh giữa các nhóm xă hội khi không một giai cấp đơn độc nào có
thể giành được quyền lực, do đó tất cả các giai cấp đều đồng ư
về những nguyên tắc cạnh tranh. Liệu Trung Quốc hiện có một giai
cấp hoặc nhiều giai cấp thân dân chủ không? Liệu có thể tiến tới
một thỏa ước tạm thời (modus vivendi) để thúc đẩy dân
chủ? Để trả lời hai câu hỏi đó, chúng ta cần khảo sát ba vấn đề
liên hệ: 1) bản chất của cuộc đua tranh giữa các giai cấp; 2)
mối quan hệ giữa mỗi giai cấp và nhà nước; và 3) các giai cấp
khác nhau thẩm định thế nào về những hiệu quả bắt nguồn từ các
sản phẩm dân chủ như chủ nghĩa đa nguyên chính trị, chủ nghĩa đa
đảng, các cuộc bầu cử tự do, và sự cai trị của đa số.
Không giống hầu hết các giai cấp
tương tự ở những nơi khác, các giai cấp giàu có mới phất của
Trung Quốc có vẻ không ủng hộ dân chủ. Một là, sự bất ổn kinh tế
và sự tuân phục chính trị bao giờ cũng là vận may của họ; cho dù
có giai cấp loại này không là thành tố phụ và trực tiếp của các
quan chức chính trị nhũng lạm đi nữa, họ vẫn phải lệ thuộc sâu
xa vào các tài nguyên đang bị nhà nước độc chiếm. Điều độc đáo
là chủ nghĩa tư bản tại Trung Quốc vẫn ở trong tầm kiểm soát của
ĐCSTQ và những người Trung Quốc thuộc giai cấp trung lưu làm ăn
phát đạt là nhờ thị trường thiếu sự quản lư hoàn toàn chủ động
của nhà nước nên họ có nhu cầu biến sự phát đạt kinh tế của ḿnh
thành phát đạt chính trị.
C̣n nữa, t́nh trạng xung khắc giai
cấp đang tăng cường độ và sự sợ hăi của vô số người nghèo đang
dồn người giàu từ tư thế thụ động chấp nhận chủ nghĩa toàn trị
tới tư thế tích cực ủng hộ nó. Đối với Trung Quốc, mặc dù một
động lực như thế hầu như không là độc nhất, những t́nh huống đặc
biệt có khuynh hướng khích động và làm tồn tại măi măi sự đối
đầu giai cấp của Trung Quốc theo chiều hướng đưa tới sự ḥa giải
có tính dân chủ giữa các giai cấp — mà không dính dáng ǵ tới sự
h́nh thành một liên minh của nhiều giai cấp và thân dân chủ —
th́ rất không chắc sẽ xảy ra.
Trường hợp Trung Quốc phù hợp với
kiểu mẫu đấu tranh giai cấp cổ điển của số ít người giàu chống
lại số đông người nghèo. Tuy thế, tại Trung Quốc, sự tập trung
cao độ tài sản làm người giàu có sức mạnh vượt trội trong cuộc
đấu tranh ấy cho dù sự ít ỏi về số lượng khiến họ cảm thấy ḿnh
yếu và dễ bị thương tổn khi đối mặt với khối đa số người nghèo.
Trong các cuộc phỏng vấn của tôi với những người Trung Quốc phát
đạt, họ phô bày mối thiện cảm đáng kể khi dân chủ được coi ngang
với sự cai trị của luật pháp. Khi dân chủ được định nghĩa chủ
yếu như là sự cai trị của đa số, mối thiện cảm ấy trở thành nghi
ngại. Và khi mô tả thêm nữa về sự cai trị của đa số, như một tṛ
chơi đơn giản bằng các con số trong đó con số lớn nhất sẽ lập
chính sách th́ hầu hết họ không thể chấp nhận.[10]
Khoảng thời gian ngay trước cuộc dân
chủ hóa tại Đài Loan và Nam Hàn, sự truyền bá sâu rộng về các
phúc lợi của tăng trưởng kinh tế đă làm tăng thêm các giai cấp
trung lưu một cách có ư nghĩa và làm giảm giai cấp lao động
truyền thống và giai cấp “hạ cấp”. Cấu trúc giai cấp mới này
thuận lợi cho dân chủ v́: 1) làm dịu sự đối kháng giai cấp cùng
khuynh hướng đi theo chủ nghĩa cực đoan chính trị của nó; 2) làm
cho giai trung lưu đông đảo ngày nay có thể h́nh dung rằng,
trong hoàn cảnh dân chủ, nó là kẻ có khả năng chiến thắng hoàn
toàn.
Chẳng bao lâu, cuộc phát triển tư
bản tại Trung Quốc không phát sinh những kết quả giống như thế.
Có nhiều khả năng thế hệ hiện nay của những người Trung Quốc
giàu có hơn sẽ tiếp tục nh́n những mạo hiểm dân chủ hóa là quá
nặng cho phúc lợi của họ. Ai cũng biết rằng đại đa số người
Trung Quốc thiếu học đều ít có hy vọng làm cho ḿnh trở thành
giai cấp trung lưu và rằng người giàu sẽ tiếp tục trông vào nhà
nước toàn trị để bảo vệ tài sản của ḿnh. Lại càng cần phải tạo
sự bảo vệ của nhà nước hơn nữa khi t́nh trạng phân cực kinh tế
xă hội ngày càng tồi tệ khiến người nghèo có quan điểm chính trị
cực đoan, do đó làm cho người giàu hoảng sợ thêm lên.[11]
Trong lúc các giai cấp giàu có chống
lưng cho sự ổn định của chế độ toàn trị, các giai cấp thấp hơn
dường như đang đi tới đối lập với chế độ. Nhưng họ không kêu gào
dân chủ mà chỉ biểu lộ xu hướng cách mạng bằng h́nh thức các
cuộc biểu t́nh hoặc nổi loạn trên đường phố mà mới đây đă trở
thành bạo động hơn và có tổ chức hơn. Sự đột phá có tính cách
mạng ấy tới lượt nó gây lo lắng cho người giàu có và kéo họ vào
với nhau để chống lại sự trao quyền cho quần chúng, và kết chặt
một liên minh giữa người giàu có và chế độ để “ủng hộ sự ổn
định”.
Tại Trung Quốc, sự cực đoan hóa của
người nghèo có thể có những cội rễ sâu xa hơn sự nghèo nàn vật
chất. Những chênh lệch lợi tức khó biện minh hơn ở Trung Quốc
nơi có truyền thống mạnh mẽ về chủ nghĩa b́nh đẳng. Nếu t́nh
trạng thù nghịch của người giàu và người nghèo vẫn c̣n là vấn đề
giữa các giai cấp xă hội th́ không nhất thiết nó sẽ leo thang
thành bạo động hay cách mạng như từng được xác nhận qua kinh
nghiệm của một số xă hội tư bản, nơi vai tṛ chủ yếu của nhà
nước (điển h́nh là nhà nước toàn trị) là làm trung gian ḥa giải
giữa các giai cấp đang đấu tranh nhau. Nhưng mọi sự đó sẽ thay
đổi nếu chế độ đó bắt đầu trở thành nguyên ủy của đau khổ và bất
b́nh của quần chúng. Tại Trung Quốc, nỗi đắng cay v́ lỗ hổng lợi
tức đang nung nấu cảm xúc chống chế độ v́: 1) các quan chức thất
bại trong việc hạn chế nạn tham nhũng, nguồn cội của rất nhiều
lợi tức phi pháp; và 2) chế độ đă làm quá ít trong công tác xóa
đói giảm nghèo. Trong bối cảnh Trung Quốc, sự thất bại thứ hai
ấy đặc biệt gây tổn thương cho tính chính thống của chế độ. Với
truyền thống phi dân chủ, với các phương thế không được luật
pháp công nhận để người nghèo tổ chức và nói lên những bất b́nh
của họ và với một lịch sử đế chế trong đó các triều đại bị lật
đổ bởi cách mạng, th́ chỉ ngạc nhiên chút ít việc Trung Quốc
đang chứng kiến một số hành động cực đoan do bởi hàng triệu
người bất măn.
Những chọn lựa của chế độ
Các lănh tụ của ĐCSTQ nắm ch́a khóa
tương lai chính trị Trung Quốc. Nếu họ tiếp tục từ chối giải
phóng hóa và cải cách dân chủ th́ đại bộ phận nhân dân sẽ vượt
qua cơn sợ và tiếp theo đó hoặc sẽ lâm vào t́nh trạng vô chính
phủ hoặc sự cai trị của ĐCSTQ sẽ kết liễu. Cả hai nỗi sợ ấy hiện
được chứng minh. Các lănh tụ nhận ra đang có nguy cơ v́ lỗ hổng
lợi tức ngày càng rộng nhưng họ thiếu năng lực để đưa ra giải
pháp lâu dài. Chế độ không thể chấm dứt t́nh trạng ung thối của
hầu hết các kỹ nghệ quốc doanh cũng như không có các cơ chế đủ
hiệu năng để chế ngự tác phong luồn lách hoặc trộm cướp của cán
bộ địa phương. Các công ty quốc doanh thua lỗ đang ḅn rút hết
ngân sách nhà nước. Một hệ thống thuế má mới làm lợi cho địa
phương th́ chính trung ương phải trả giá, gây trở ngại thêm cho
Bắc Kinh trong việc lập mạng lưới an sinh xă hội cho cả nước.
Trong những t́nh huống như thế, nếu nhà nước muốn làm chậm lại
hoặc chấm dứt t́nh trạng gia tăng mạnh mẽ sự bất b́nh đẳng lợi
tức, nó sẽ phải chuyển chi phí xóa đói giảm nghèo qua cho người
giàu, do đó, nó đứng về một phe trong cuộc xung khắc giai cấp.
V́ ĐCSTQ tự tuyên bố ḿnh là giai
cấp lao động nên việc “cướp của người giàu chia cho người nghèo”
— triệt phú trợ bần — là một chọn lựa hợp lô-gic. Nhưng không
nhiều th́ ít, giới lănh đạo dường như bác bỏ giải pháp đó, không
chỉ v́ giai cấp giàu có mới phất “hối lộ” lănh đạo đảng hoặc nói
cách khác, đạt được ảnh hưởng chính trị trực tiếp mà c̣n v́ nền
kinh tế tư nhân và các giai cấp điều hành nền kinh đó đă trở
thành niềm hy vọng độc nhất cho sự tăng trưởng liên tục. Trung
Quốc hiện nay sở hữu hơn một nửa GDP từ các công ty quốc doanh.
Năm 1998, kinh tế tư nhân trả 46% tổng số tiền thuế cả nước[12].
Trong các năm vừa qua, vốn tư nhân được kết toán là 35% tổng số
đầu tư nhưng đóng góp tới 60% vào sự tăng trưởng GDP của Trung
Quốc[13]. Người ta ước lượng tới năm 2004, kinh tế tư nhân sẽ
lên tới 60% nền kinh tế quốc gia và thuê mướn 75% lực lượng lao
động của Trung Quốc.[14]
Với việc giai cấp kinh doanh không
muốn chuyển giao thêm của cải của nó, nhà nước đảng trị sẽ không
có khả năng phân phối thêm lợi tức cho người nghèo trước khi khổ
nạn gia tăng. Để duy tŕ thành tích tốt của toàn bộ nền kinh tế
Trung Quốc và nâng cao tính cạnh tranh bén nhạy của nó — điều
kiện tiên quyết cho sự sống sót của chế độ — nhà nước đảng trị
phải đứng chung hàng ngũ với tư bản và theo đuổi chính sách
khuếch tán lợi ích đầu tư [15], hoặc cách khác, cố gắng làm thế
nào để cân bằng quyền lợi của các giai cấp đối kháng nhau. Về
điểm này, dường như chủ nghĩa thựïc dụng kinh tế tuyệt đối đang
thúc ép chế độ của ĐCSTQ lấy các giai cấp giàu có làm căn bản
ủng hộ của nó, và chọn ổn định hơn là cải cách thêm nữa.
Quyền lực trung ương chống quyền
lực địa phương
Để sang một bên những lợi ích chung
chia giữa nhà nước đảng trị và các giai cấp giàu có mới phất,
người ta chưa có thể kết luận sớm sủa rằng cả hai đang xây dựng
một liên minh bền chặt. Một phần v́ các căng thẳng nội bộ
của nhà nước cộng sản đảng trị giữa trung ương và các bộ phận
địa phương khác nhau. V́ trên thực tế, giới cầm quyền địa phương
của ĐCSTQ từ lâu đă đứng chung hàng ngũ với người giàu: thí dụ,
trong các tranh chấp lao động, đặc thù của chính quyền địa
phương là đứng về phía tư bản. Trong thế cộng sinh gần như chẳng
cần che đậy giữa cán bộ địa phương và doanh nghiệp tư nhân th́
phía thứ hai này cung cấp phần lớn thu nhập của chính quyền bằng
việc trả thuế và thuê nhân công; thường xuyên tham gia, một cách
quyết định, vào công cuộc phát triển kinh tế xă hội địa phương
mà thành bại của nó là một trong những tiêu chuẩn chủ yếu cho sự
thăng quan tiến chức của cán bộ. Tới lượt ḿnh, cán bộ đánh thuế
nhẹ hơn, cung cấp hợp đồng và cho vay mượn tiền của chính quyền,
để thông thường nhận lại không chỉ sự đề bạt chức vụ mà c̣n
những cổ phần thật sự lấy từ lợi nhuận kinh doanh.
Về phần nhà nước trung ương th́ dây
liên kết với giới tư bản giàu có phải được duy tŕ dù có cảm
thấy gớm ghiếc tới mấy đi nữa. Có những dấu hiệu gợi cho thấy
cấp lănh đạo chóp bu vẫn không quyết định chính xác rằng dây
liên kết ấy nên thân cận tới đâu và công khai như thế nào. Bên
trong hàng ngũ thượng đỉnh của ĐCSTQ vẫn hiện hữu nhóm “khuynh
tả” (chống chủ nghĩa tư bản) mà tiếng nói của họ không thể bị
hoàn toàn bỏ lơ. Để tránh những ǵ làm cho người nghèo xa lánh
thêm, các lănh tụ hiện nay quyết định lưu giữ sự cam kết chính
thức của ĐCSTQ với xă hội chủ nghĩa cùng tư thế “đảng của giai
cấp lao động”, và thêm ngân khoản xóa đói giảm nghèo dù sự gia
tăng ấy không đủ để thu hẹp hoặc thậm chí giữ yên lỗ hổng lợi
tức đang rộng thêm.
[15] một chính sách đặt căn bản trên
lư thuyết kinh tế rằng nguồn tài chánh đổ vào kinh tế, đặc biệt
từ chính phủ, sẽ kích thích tăng trưởng nhờ phân phối qua các
doanh nghiệp lớn, hơn là qua những phúc lợi trục tiếp như trợ
cấp xă hội hoặc các công tŕnh công cộng,v.v. — ghi chú của
người dịch